Tìm kiếm

Thứ Tư, 26 tháng 5, 2010

Thứ Ba, 25 tháng 5, 2010

"Người Đặc Biệt."

Mourinho "Người đặc biệt", ông đang khiến cả thế giới "phát sốt" bởi cái cách đi đến chiến tích cú ăn ba cùng Inter hết sức ngoạn mục, đầy kiêu hãnh. Ở đâu có ông là ở đó có những điều "đặc biệt", và bất kể, dù yêu hay ghét đến mấy thì ai ai cũng phải thừa nhận, ông quá tài giỏi!

Chân ướt chân ráo đến Barcelona, cuộc đời Jose Mourinho chính thức rẽ sang một bước ngoặt mới, khi được làm việc chung với hai HLV tài ba của thế giới, Sir Bobby Robson và Louis van Gaal... Nhưng họ có phải hai người thầy lớn nhất của Jose không? Câu trả lời: Không!
Người thầy lớn nhất của Jose Mourinho là chính Jose Mourinho

Trong những tháng ngày tập tành làm HLV, Jose Mourinho chủ yếu tự mày mò nghiên cứu. Sở hữu bộ óc siêu việt, chàng trai trẻ Jose nhanh chóng biết cách kết hợp những tính toán rất khoa học vào trong chiến thuật sân cỏ.
HLV Ferreira là người đầu tiên Mourinho cộng tác. Hai người có mâu thuẫn cá nhân nhưng luôn tôn trọng nhau. Ảnh: AP
HLV Ferreira là người đầu tiên Mourinho cộng tác khi bước vào nghề huấn luyện. Hai người có mâu thuẫn cá nhân nhưng luôn tôn trọng nhau. Ảnh: AP

Phải đến khi làm việc ở Estrela da Amadora (năm 1990), với cương vị chuyên viên thể lực, Mourinho mới thực sự được tiếp xúc với môi trường bóng đá chuyên nghiệp. Ở đây, Jose quan sát những điều mới mẻ từ HLV Jesualdo Ferreira, thay vì đọc báo và sách như trước.

Jose tiến bộ cực nhanh, đến mức HLV Ferreira đôi khi tham khảo ý kiến và nhờ đưa ra những quyết định. Nhiều người cho rằng, Ferreira là người thầy đầu tiên dìu Mourinho bước vào con đường huấn luyện chuyên nghiệp. Vậy Ferreira nghĩ sao?

"Tôi chưa bao giờ dám nhận mình là người dạy dỗ Jose. Phải nói là chúng tôi đã làm việc cùng nhau thì đúng hơn. Cậu ấy là một thiên tài, một HLV bẩm sinh ẩn trong con người gầy gò và rất trẻ. Jose luôn quan sát mọi chi tiết nhỏ trong các trận đấu và rất ham học hỏi".

Jesualdo Ferreira từng có thời gian mâu thuẫn với Jose Mourinho, nên chẳng có lý do gì để ông nói tốt cho đối phương. Nhưng Ferreira vẫn phải làm thế, bởi "Jose rất đáng được tôn trọng với những gì cậu ấy làm. Tôi không phủ nhận, Jose đã gợi ý cho tôi rất nhiều trong công tác huấn luyện".

HLV Ferreira phủ nhận việc là thầy của Jose Mourinho, vậy ai đã dạy cho chàng trai ấy những hiểu biết và kinh nghiệm về bóng đá chuyên nghiệp? Chẳng ai khác ngoài Jose Mourinho! Chính Mourinho đã tự trang bị kiến thức cho mình, ép bản thân phải mày mò, tìm hiểu và phân tích chiến thuật.
Trong sự nghiệp của mình, Mourinho cộng tác nhiều nhất với Sir Robson. Trong ảnh, Sir Robson và Mourinho làm việc ở Sporting mùa 1993/94
Trong sự nghiệp của mình, Mourinho cộng tác nhiều nhất với Sir Bobby Robson. Trong ảnh, Sir Robson và Mourinho làm việc ở Sporting mùa 1993/94

Felix Mourinho, cha của Jose, nhớ lại: "Nó rất ham học hỏi và mê bóng đá. Dù nó học khá ở trường, nhưng đôi lúc tôi vẫn cảm thấy bực khi con trai mình vùi đầu vào bóng, thay vì sách vở. Nó thường tâm sự muốn được làm HLV, và luôn đi theo để xem các trận đấu của tôi".

Sự kiện Jose Mourinho vùi đầu vào bóng đá với giấc mơ trở thành HLV nổi tiếng thế giới là điều mà người dân Setubal nào cũng biết. Để rồi, họ dùng chính hình ảnh của Jose để dạy con cái mình. Trong mắt hàng xóm ở Setubal, khi chưa phải một HLV nổi tiếng, chưa một lần ngồi vào ghế HLV thực sự, Jose đã là một "O especial" (Người đặc biệt).

Nou Camp, nơi khai sinh ra một Mourinho mới

Những làn sóng biển Địa Trung Hải đã đưa Jose Mourinho từ thành phố cảng Porto đến Barcelona. Sau thời gian làm trợ lý ngôn ngữ cho Sir Bobby Robson, Jose được ông mang theo trong cuộc phiêu lưu tại Nou Camp.

Trong 4 năm Sir Robson làm việc tại Benfica (1992-1994) và Porto (1994-1996), Jose đã gây ấn tượng tốt với HLV người Anh. Sir Robson truyền đạt cho Jose những kinh nghiệm được tích lũy trong sự nghiệp cầm quân của mình, cũng như chỉ bảo những tinh túy của bóng đá.
Với Mourinho, Sir Robson vừa là người thầy, vừa là người cha. Ảnh: T.G
Với Mourinho, Sir Robson vừa là người thầy, vừa là người cha. Ảnh: T.G

Vì thế, cho đến bây giờ, trong mắt Jose Mourinho, Sir Robson vừa là một người thầy, vừa là một người cha đáng kính. Khi Sir Robson chọn Jose vào đội ngũ BHL ở Nou Camp (công việc chính là trợ lý ngôn ngữ), các quan chức của Barca có phần bất ngờ, nhưng họ hoàn toàn đồng ý với điều đó.

Sir Robson chỉ gắn bó với Barca 1 mùa giải (giành Siêu Cúp TBN, Cúp C2, Cúp Nhà Vua), trước khi ra đi. Nhận thấy phẩm chất đặc biệt của Mourinho cũng như trình độ ngoại ngữ ấn tượng, Chủ tịch Josep Lluis Nunez đã thuyết phục Sir Robson đừng kéo người học trò của mình đến PSV.

"Tôi nghĩ nên để Jose độc lập, và chấp nhận yêu cầu của Chủ tịch Nunez. Cậu ấy có năng khiếu của một người cầm quân. Nếu Jose theo tôi, thời gian để cậu ấy trưởng thành chậm hơn. Tôi tin rằng Jose sẽ có một sự nghiệp chói lọi, thậm chí là vượt qua tôi" - Sir Robson lý giải việc chấp nhận chia tay Jose sau 5 năm làm việc chung.

Thứ bóng đá tấn công uyển chuyển mà Sir Robson xây dựng tại Nou Camp đã thấm nhuần vào đầu Jose. Mùa Hè 1997, khi Louis van Gaal được chọn là HLV của Barca, Jose có cơ hội tiếp xúc với một trường phái bóng đá khác, một chiến lược gia bậc thầy khác.
Ảnh hưởng của van Gaal lên Mourinho là rất lớn. Ảnh: Imago
Ảnh hưởng của van Gaal lên Mourinho là rất lớn. Ảnh: Imago

Van Gaal đã tạo ảnh hưởng rất lớn lên Jose, thậm chí không thua Sir Robson. Cá tính mà Jose Mourinho thể hiện ngày nay là thừa hưởng rất nhiều từ van Gaal. Jose cũng học được ở "Hoa tulip thép" sự quyết đoán khi bố trí những chiến thuật linh hoạt, và cách dùng người đầy tính bất ngờ.

Sau khi học được những gì tinh túy nhất từ Sir Robson, Jose tiếp tục gạt hái những điều mà rất nhiều người thèm thuồng từ van Gaal. Nếu như bóng đá Bồ Đào Nha sản sinh ra một Jose Mourinho đầy tài năng, thì Nou Camp là nơi đưa Jose bước vào con đường của huyền thoại.

Vì thế, khi triều đại van Gaal tại Nou Camp sụp đổ năm 2000 và bản thân chính thức trở thành một HLV chuyên nghiệp, Jose nói trong nước mắt: "Hôm nay, ngày mai và mãi mãi sau này, Barca luôn nằm trong tim tôi!".

Từ lúc này, con người đầy tình cảm ấy, nhưng luôn gồng mình để tạo cho mình một bộ mặt khác, bắt đầu có cơ hội để sử dụng những gì mình học và mày mò trong hơn một thập niên...

Mới 24 đã chập chững bước vào nghề huấn luyện, và trở thành một HLV đích thực khi tròn 37 tuổi, con đường mà Jose Mourinho khổ luyện dần đơm trái ngọt. Người ta gọi Jose là "đứa trẻ" trên ghế huấn luyện, bởi gương mặt "búng ra sữa" của con người đặc biệt này, và vì một lý do khác: cảm xúc mà Jose thể hiện bên ngoài đường biên.
Benfica, nơi đặt mốc cho "Treinador" Mourinho

4 năm ở Nou Camp có tác động cực lớn đến sự nghiệp của Jose Mourinho. Bên cạnh cơ hội làm việc với những HLV danh tiếng, được tiếp thu những triết lý tiên tiến và khoa học, La Liga còn là môi trường vượt xa nền bóng đá Bồ Đào Nha.
4 năm ở Nou Camp giúp Mourinho rất nhiều
4 năm ở Nou Camp giúp Mourinho rất nhiều

Khi Louis van Gaal rời Nou Camp cũng là lúc Jose khép lại thời gian "tầm sư học đạo". Lisbon mở rộng vòng tay chào đón đứa con trở về, và Jose quyết định chọn Estadio da Luz.

Lúc này, Benfica được dẫn dắt bởi Jupp Heynckes, chiến lược gia người Đức. Bước ngoặt diễn ra sau vòng 4 Portuguese Liga. Dù thắng 2 và hòa 1, nhưng Heynckes vẫn bị sa thải để nhường chỗ cho Mourinho.

Cuộc đời Jose chính thức sang trang mới. Từ một "Tradutor" (phiên dịch viên), Jose trở thành một "Treinador" (HLV), và càng tự hào hơn khi dẫn dắt một trong những CLB vĩ đại nhất của bóng đá BĐN, nơi mà Eusebio từng đi vào huyền thoại.

Ngay hôm sau, tờ O Jogo (thân Porto) chạy dòng title: "Lạy Chúa, họ đã chọn một đứa trẻ". Trong khi đó, nhật báo thể thao A Bola có trụ sở tại Lisbon (thân Benfica) thì nhẹ nhàng hơn: "Chúng ta đang chơi một canh bạc".
Mourinho đánh dấu sự nghiệp HLV ở Benfica
Mourinho đánh dấu sự nghiệp HLV ở Benfica

Ngày 23/9/2000, Mourinho chính thức ra mắt trên cương vị mới. Hôm ấy, Benfica đã chơi không tệ, nhưng vẫn phải chấp nhận thất bại 0-1 trước chủ nhà Boavista, đội cuối mùa lên ngôi VĐ. Một tuần sau, Benfica hòa 2-2 trên sân nhà trước Braga, trong trận đấu mà họ bị dẫn trước.

Phải đến trận thứ 3 thì Mourinho mới biết đến chiến thắng, khi Benfica vượt qua đội khách Belenenses. Tuy nhiên, số phận như trêu ngươi những người biết cố gắng và đầy nhiệt huyết. Quãng thời gian ngọt ngào của Mourinho với "Những chú đại bàng" kéo dài rất ngắn, và ông ra đi chỉ sau 9 trận cầm quân.

"Đứa trẻ" trên ghế huấn luyện

Jose Mourinho đã tương đối thành công với Benfica, và ông có thể ra đi trong thế ngẩng cao đầu. Trong 9 trận, Benfica đã chơi một thứ bóng đá hiện đại, tạo nên một cá tính riêng so với những mùa giải trước đó.

Hơn nữa, việc Mourinho ra đi xuất phát từ cuộc thay đổi "nội các" chứ không phải chuyên môn. Lúc này, ở sân Da Luz diễn ra cuộc trao đổi quyền lực, khi Manuel Vilarinho thay Joao Vale e Azevedo làm Chủ tịch. Và Vilarinho đã quyết định "tống" Jose.
Thước phim về Mourinho mà các CĐV Benfica không thể quên. Ông bất động khi dẫn trước Sporting 2-0, và bùng nổ trong cảm xúc khi có bàn thứ 3. Đây cũng là trận cuối cùng của Mou với Benfica
Thước phim về Mourinho mà các CĐV Benfica không thể quên. Ông bất động khi dẫn trước Sporting 2-0, và bùng nổ trong cảm xúc khi có bàn thứ 3. Đây cũng là trận cuối cùng của Mou với Benfica

Thực tế, khi Mourinho ra đi, Benfica chơi tệ hơn dưới sự dẫn dắt của Antonio Oliveira (Toni). Chủ tịch Vilarinho vốn cho rằng mang về hậu vệ huyền thoại Toni sẽ giúp Benfica thành công và ông được lòng CĐV. Nhưng thực tế diễn ra ngược lại, bởi Jose lúc này đã chiếm trọn tình cảm của người hâm mộ Benfica. Sau này, Vilarinho có ý mời Mourinho trở lại, nhưng ông chỉ lắc đầu.

Một dấu ấn quan trọng giúp Mourinho được các CĐV ở Da Luz yêu mến là cá tính và những cảm xúc ông thể hiện. Trong trận tiếp Belenenses, khi Carlos Marchena ghi bàn duy nhất ở phút 34, Mourinho chạy đến sát khu vực dành cho CĐV Benfica và nhảy cẫng lên ăn mừng, như chính ông là tác giả bàn thắng.

Rui Jordao, huyền thoại và là CĐV trung thành của Benfica, hồi tưởng: "Hôm ấy là ngày 3/12 (2000), Da Luz chật cứng với 5 hoặc 6 vạn người. Chúng tôi dẫn 2 bàn trước Sporting, Jose vẫn ngồi im như chẳng có gì xảy ra. Khi Joao Tomas ghi bàn thứ 3, đang bất động, Jose bỗng bật dậy và bắt nhịp cho chúng tôi hát. Jose cũng hát và nhảy lên vui sướng.

Chúng tôi đã thắng trong trận derby, dù Sporting mạnh hơn. Chúng tôi nán lại sân hơn nửa tiếng để chia vui với Jose và các cầu thủ. Chỉ tiếc, đó cũng là trận cuối cùng của Jose với Benfica, bởi tay Chủ tịch đáng ghét. Hình ảnh của Jose khiến chúng tôi như trẻ ra, và tôi cảm nhận cậu ấy như một đứa bé vừa được nhận quà".

Như để tri ân Jose, cũng là mừng trận derby, O Bola đã viết: "Chúng ta vẫn là anh của họ (Sporting). Rất tiếc, những cảm xúc như con trẻ mà Jose thể hiện sẽ không xuất hiện ở đây nữa. Quả thực, Jose là một đứa trẻ trên ghế huấn luyện, nhưng sẽ sớm thành một HLV tài ba".
Mourinho khi dẫn dắt Uniao de Leiria, và vỡ òa trong niềm vui khi giúp CLB đạt thứ hạng cao nhất trong lịch sử tại giải VĐQG BĐN
Mourinho khi dẫn dắt Uniao de Leiria, và vỡ òa trong niềm vui khi giúp CLB đạt thứ hạng cao nhất trong lịch sử tại giải VĐQG BĐN

Rời Benfica, Mourinho cập bến Uniao de Leiria chỉ một tháng sau đó. Cũng giống như ở Da Luz, sân Magalhaes Pessoa liên tục được chứng kiến những cảm xúc tột bậc của Mourinho, và ông trở thành thần tượng mới của các CĐV nơi đây.

Kết thúc mùa giải 2000/01, Jose giúp đội bóng tỉnh lẻ chỉ lo tụ hạng như Uniao de Leiria có vị trí cao nhất trong lịch sử, khi xếp thứ 5 Portuguese Liga. Một lần nữa Jose được gọi là "đứa trẻ", với những hình ảnh ăn mừng đầy xúc động khi đánh bại Porto 3-1, hòa Boavista 0-0, hay khuất phục Sporting 2-0.

Sau 2 năm cực kỳ thành công ở Uniao de Leiria (mùa 2001/02 xếp hạng 7), "đứa trẻ" ấy đến Porto, chuẩn bị cho bước ngoặt lớn nhất cuộc đời...

Họ đã nói :

Van Gaal: "Jose rất tài năng. Khi còn làm việc ở Nou Camp, tôi tin tưởng cậu ấy tuyệt đối và luôn nhờ làm những thứ quan trọng. Có đôi lúc, Jose đã gợi ý để tôi có quyết định về chiến thuật".

Pep Guardiola: "Mourinho luôn thể hiện mình là số 1, và thực sự ông ấy là số 1. Tôi đã học được rất nhiều thứ to lớn từ Mourinho".

Stoichkov: "Lúc đầu, tôi chẳng ưa gì hắn. Một kẻ xa lạ ở Nou Camp, luôn tỏ ra lạnh lùng và như thể chẳng ai lọt vào mắt hắn. Một điểm nữa, hắn cực kỳ mê mẩn việc nghiên cứu chiến thuật, dù bản thân chỉ là một phiên dịch.

Sau đó, tôi biết mình sai. Jose là một con người tuyệt vời. Dù vẫn còn đôi chút vấn đề với Jose, nhưng phải thừa nhận cậu ấy có một trái tim nhiệt huyết. Cậu ấy sống tình cảm và biết lúc nào nên pha trò".

Rời Leiria, Jose Mourinho đến thành phố cảng Porto cho sự khởi đầu mới, một cuộc chinh phục các danh hiệu. Từ gã phiên dịch (hiện nay, nhiều người vẫn gọi Mourinho là "Tradutor", tức phiên dịch viên), Mourinho trở thành một nhà VĐ châu Âu thực thụ, và cả thế giới biết đến qua cái tên rất kêu: "The Special One"!
Porto, nơi huyền thoại bắt đầu

Suốt 3 năm liên tiếp gây thất vọng, Pinto da Costa mất kiên nhân với đội ngũ huấn luyện của Porto. Thất bại nối dài thất bại, trong đó có việc bị loại từ vòng bảng thứ 2 Champions League 2001/02, vị Chủ tịch của Porto quyết định sa thải HLV Octavio Machado.

Chủ tịch Pinto da Costa (ảnh trái) là người đưa Mourinho về Porto, khởi đầu cho cuộc chinh phục các danh hiệu. Ảnh: Visao
Chủ tịch Pinto da Costa (ảnh trái) là người đưa Mourinho về Porto, khởi đầu cho cuộc chinh phục các danh hiệu. Ảnh: Visao

Hôm ấy là một ngày tháng Giêng 2002, Pinto da Costa nhấc điện thoại gọi cho người đồng nghiệp bên phía Uniao de Leiria. Một cuộc trao đổi ngắn giữa hai vị Chủ tịch, và mức bồi thường hợp đồng được thông qua một cách bí mật.

Một ngày sau, người ta thấy Jose Mourinho xách vali từ Leiria, miền Trung Bồ Đào Nha, đến thành phố cảng Porto. Lúc đầu, Mourinho định đi tàu điện để giảm chi phí, nhưng sau đó nhận được điện từ Pinto da Costa: "Sẽ có người đón anh. Tôi cần anh có mặt ở đây sớm".

Không hề nghỉ ngơi, Chủ tịch Pinto da Costa đưa Mourinho đến trung tâm huấn luyện thể thao Porto Gaia. Các cầu thủ nhìn Jose một cách tò mò, trong khi vị Chủ tịch huyền thoại của Porto tuyên bố: "Từ hôm nay, người này sẽ chỉ huy các cậu. Tôi muốn thấy chiến thắng".

Đúng 3 ngày sau khi đặt chân đến Porto Gaia, Mourinho có được chiến thắng ngay trong trận ra mắt, trước Maritimo. Chuỗi trận chiến thắng ấy kéo dài đến con số 4 (Varzim, Benfica và Setubal). Ngày 23/2/2002, Porto bất ngờ phơi áo 2-3 trước Beira Mar, và đây cũng là lần cuối cùng một CLB mà Mourinho dẫn dắt thua sân nhà ở giải VĐQG.

Mùa 2002/03, Mou đưa Porto đến với cú ăn ba. Ảnh: Visao
Mùa 2002/03, sau hơn 1 năm dẫn dắt Porto, Mou đưa "Những chú rồng" đến với cú ăn ba. Ảnh: Visao

Kết thúc mùa giải 2001/02 ấy, Mourinho đưa Porto lên vị trí thứ 3, một kết quả đủ để làm hài lòng Pinto da Costa. Một quyết định được Pinto da Costa phê duyệt ngay sau đó: Mourinho được quyền quyết định mọi vấn đề mua bán trong mùa Hè 2002, đổi lại Porto phải có ít nhất một danh hiệu.

Từ gã phiên dịch đến "Người đặc biệt"

Được Chủ tịch Pinto da Costa tin tưởng (nhưng điều đó khiến vai trò của một số quan chức bị ảnh hưởng nghiêm trọng), Jose tuyên bố hết sức tự tin, "mùa giải mới sẽ là của chúng ta. Tôi không thích nói khoác, nhưng ai không tin thì cứ chờ xem. Tôi lấy ghế mình ra cược".

Ngay lập tức, Jose thân chinh trở lại Leiria, không phải để làm công tác huấn luyện, mà đặt câu hỏi với Derlei. "Cậu muốn theo tôi không? Tôi đang xây dựng một đội bóng chiến thắng, và nghĩ đến cậu, có thể trả lời sau cũng được". Chẳng đợi lâu, Derlei tuyên bố ngắn gọn: "Tôi chấp nhận!".

Thành công đến liên tiếp, để rồi mùa 2003/04 Mourinho hoàn tất mọi danh hiệu cao quý nhất, với chức VĐ Champions League. Ảnh: Getty Images
Thành công đến liên tiếp, để rồi mùa 2003/04 Mourinho hoàn tất mọi danh hiệu cao quý nhất, với chức VĐ Champions League. Ảnh: Getty Images

Tiếp theo, Mourinho về quê hương Setubal để ký hợp đồng với hậu vệ cánh Paulo Ferreira, đồng thời cuỗm học trò cũ Maniche từ Benfica. Trước đó, những cái tên này không gây được nhiều chú ý, nhưng Mourinho cho rằng, họ sẽ sớm trở thành huyền thoại. Các tuyến của Porto xem như đã hoàn hảo (trong mắt Mou).

Kết quả của mùa giải 2002/03 đã nói lên tất cả. Cùng với những nhân tố mới, đồng thời giúp Deco, Carvalho, Costinha bùng nổ ấn tượng, Mourinho đưa Porto giành cú ăn ba trong mùa giải, vượt qua sự kỳ vọng của Chủ tịch Pinto da Costa: chức VĐ BĐN, Taca de Portugal (Cúp QG BĐN), và UEFA Cup.

Mặc dù thua Milan ở Siêu Cúp châu Âu, nhưng trước đó Jose đã cùng Porto khởi đầu mùa giải 2003/04 bằng danh hiệu Siêu Cúp BĐN. Chiến công này khởi đầu cho một dấu ấn mới: VĐ BĐN lần thứ 2 liên tiếp, và đặc biệt là trở thành quán quân Champions League.

Trên con đường chinh phục Champions League 2003/04, không ai có thể quên hình ảnh Mourinho nhảy cẫng như một đứa trẻ, chạy khắp "Nhà hát của những giấc mơ" để ăn mừng cú sút phạt thần sâu của Costinha ở phút 90. Lúc đó, Sir Alex Ferguson đang chết lặng, và Porto giành vé vào tứ kết ngay trên tay M.U.

Lần lượt Lyon và Deportivo được loại bỏ, trước khi sân Arena AufSchalke (Đức) chứng kiến những cảm xúc "không giống ai" của Mourinho, với chiến thắng thuyết phục 3-0 trước Monaco. Từ một gã phiên dịch, Mourinho đi lên bằng tài năng và nghị lực, để rồi đạt đến đỉnh cao danh vọng.

Từ gã phiên dịch, Mourinho trở thành nhà VĐ châu Âu, một trong những nhân vật nổi tiếng nhất thế giới bóng đá. Cú ăn ba lịch sử với Inter, thành tích chưa một CLB Italia nào có được, là thành công mới nhất của "Người đặc biệt". Ảnh: Getty Images
Từ gã phiên dịch, Mourinho trở thành nhà VĐ châu Âu, là một trong những nhân vật nổi tiếng nhất thế giới bóng đá. Cú ăn ba lịch sử với Inter, thành tích chưa một CLB Italia nào có được, là thành công mới nhất của "Người đặc biệt". Ảnh: Getty Images

Nước Anh vẫy gọi Mourinho. Rất nhanh, bằng cá tính, Jose khiến truyền thông Anh (và thế giới) chia làm 2 phe rõ rệt: hoặc ủng hộ, hoặc ghét bỏ ông (vì sự kiêu ngạo và những tuyên bố thẳng thắn), chứ không có chuyện "nửa vời". Trên phương diện chuyên môn, Mourinho biến Chelsea thành thế lực thực sự của Premier League.

Ở đất nước sương mù, Jose trở thành "Người đặc biệt" (chính ông tự nhận mình như thế). Đặc biệt vì cá tính, cách ứng xử, cảm xúc, và những chiến thắng trên sân cỏ. Không ai nổi bật hơn Jose, và cũng chẳng ai dám khẳng định mình giỏi hơn ông (tất nhiên, trừ những người muốn được nổi tiếng).

Cuộc phiêu lưu mới hướng đến Italia. Gã phiên dịch ngày nào trở thành HLV được hưởng lương cao nhất thế giới. Sau 2 năm, ông đã biến Inter thành đội bóng vĩ đại, thể hiện cá tính của chính ông, với Scudetto thứ 5 liên tiếp, cùng cú ăn ba mà lịch sử bóng đá Italia chưa từng có tiền lệ.

Không ai xem Mourinho là phiên dịch nữa (dù đôi lúc, họ vẫn gọi vui như thế), cũng không mấy người xem ông là HLV bình thường, mà là thiên sứ của chiến thắng. Sau Porto, Chelsea và Inter, Santiago Bernabeu đang vẫy gọi Mou. Thêm một cuộc phiêu lưu nữa, để hoàn tất danh hiệu ở 3 giải đấu lớn nhất châu Âu?

Jose Mourinho luôn cháy hết mình và thể hiện cá tính đặc biệt trong mỗi trận đấu. Ngoài đời, Mourinho trầm tính, sống rất tình cảm và bất kỳ chuyện gì cũng chia sẻ với Tami, người đã cùng ông chung sống trong hơn 20 năm qua.
Con người tình cảm

Cựu hậu vệ Mozer, người đã hỗ trợ Mourinho rất nhiều trong thời gian ông chập chững bước lên ghế huấn luyện, tâm sự: "Không phải ai cũng hiểu Jose, nhưng khi tiếp xúc với cậu ấy, mọi người sẽ có một cái nhìn khác.
Mourinho là con người đầy tình cảm, trái ngược với sự thể hiện trên sân cỏ
Mourinho là con người đầy tình cảm, trái ngược với sự thể hiện trên sân cỏ

Jose sống rất tình cảm. Cậu ấy thân thiện và dễ gần. Trên sân bóng, Jose cố gồng mình để tạo một gương mặt khác, bởi thành công đến quá nhanh và một số phát biểu thẳng thắn khiến cậu ấy bị ghét bỏ. Hơn nữa, tấn công người khác bằng truyền thông cũng là cách để Jose tự vệ".

Quả thực, Mourinho là một người tình cảm. Khi còn là một cầu thủ nghiệp dư ở Setubal, Jose luôn là người gắn kết đội bóng của mình. Những lần pha trò của Jose cũng là cách để các đồng đội quên đi thất bại.

Ở Setubal, người ta xem Jose Mourinho như một vị anh hùng. Hình ảnh của Jose được sánh với những danh nhân, những người có công với thành phố. Sự nghiệp huấn luyện của Jose được lấy làm bài học cho lớp trẻ, và thậm chí người ta còn nhắc đến trong trường học.

Khi còn dẫn dắt Porto, Mourinho rất gần gũi với các cầu thủ. Ông luôn tìm cách bảo vệ các học trò, và rất ít khi dùng đến kỷ luật. Hậu vệ Ferreira tâm sự: "Có một lần tôi đi tập muộn, Jose không phạt mà giúp đỡ tôi rất nhiều. Tôi xem Jose như người cha thứ hai. Ông ấy luôn dạy tôi, bất kỳ lúc nào cũng phải làm một người đàn ông đích thực, đặc biệt là cách hành xử".
Bela Vista, nơi Mourinho thi đấu và là chứng nhân cho cuộc tình của ông với Tami
Bela Vista, nằm cạnh quảng trường chính trung tâm Setubal, là nơi Mourinho thi đấu và là chứng nhân cho cuộc tình của ông với Tami

Chính cách đối xử tinh tế và rất tình cảm của Mourinho giúp ông được các cầu thủ kính trọng. "Đôi khi, chúng tôi vẫn gọi Jose là "Papai" (Cha), dù thực tế khoảng cách về tuổi chênh lệch không quá lớn. Làm việc với Jose thật tuyệt" - Deco nhớ lại những ngày anh còn ở Porto.

Một nửa cuộc sống của Mourinho là Tami

Dù cố gắng giả tạo đến mấy, gặp khó khăn lớn thế nào đi nữa, thì Mourinho luôn là một người hoàn toàn khác khi trở về nhà. Nụ cười hiền hậu, cái ôm xiết nhẹ và một nụ hôn lên môi người vợ Tami, mọi rắc rối gần như tan biến.

Tính đến nay, Tami đã sống với Jose hơn 20 năm, chưa kể thời hai người là đôi "thanh mai trúc mã". Người phụ nữ ấy luôn động viên và giúp đỡ Mou. Không ai hiểu Mou hơn Tami, kể cả người cha của ông, cựu thủ môn Felix.
Đi dạo với vợ giúp Mou giải tỏa mọi áp lực và trở lại là chính mình, một người đầy tình cảm
Đi dạo với người vợ chung sống hơn 20 năm nay giúp Mou giải tỏa mọi áp lực và trở lại là chính mình, một người sống đầy tình cảm

"Chúng tôi chơi với nhau từ nhỏ, nên hiểu rõ tính tình và sở thích của đối phương. Jose ít nói từ bé. Lúc đầu, ngoài tôi, Jose có rất ít bạn, nhưng sau đó tất cả cùng biết anh ấy".

Họ cưới nhau năm 1989, tức 2 năm sau khi Mou quyết định treo giày để bước vào con đường huấn luyện. "Khi ấy, Jose còn đang làm HLV ở trường trung học. Chúng tôi xác định, đã đến lúc để làm lễ cưới. Chỉ có gia đình và vài người bạn, Jose không thích ồn ào".

Tại quảng trường Carlos Relvas (quảng trường Touros), vẫn còn đó câu chuyện tình lãng mạn giữa chàng trai Jose, với gương mặtcủa một tài tử điện ảnh, và nàng Tami xinh đẹp. Ngày ấy, Mou chơi bóng ở sân Bela Vista (khoác áo Comercio e Industria), mà thực tế nó giống một bãi cỏ hơn, và chỗ ngồi tốt nhất là... chung cư phía bên kia con phố Castelo Branco.

"Jose rất vui khi tôi đến xem trận đấu. Lúc mới yêu, mà cũng chẳng biết ai tỏ tình trước, có hôm anh ấy lúng túng vì tôi đứng ngoài cổ vũ, dù trước đó chưa bao giờ anh ấy gặp vấn đề như thế, và không đá được. Sau mỗi trận đấu, chúng tôi thường đi dạo ở quảng trường, chỉ ngược vài bước lên con dốc.
Gia đình là chỗ dựa mang lại thành công cho Mourinho
Gia đình là chỗ dựa mang lại thành công cho Mourinho

Cũng có hôm chúng tôi lội bộ ra tận cầu cảng. Nếu trời nắng quá, chúng tôi vào công viên gần đó nghỉ ngơi. Những con tàu nhỏ neo ở cảng rất lâu, có khi cả tháng trời, nó thu hút tâm trí Jose. Buổi tối ở cảng Troia thật đẹp. Những lúc ở cảng, Jose nói con người anh ấy yên bình và nhỏ bé.

Sau này, chúng tôi không có nhiều thời gian, vì công việc của Jose quá nhiều. Chỉ những ngày Hè, hoặc Giáng sinh, chúng tôi mới ở Setubal nhiều hơn. Thỉnh thoảng, chúng tôi lại ra cảng, nhưng không còn xuống tận nơi mà ngồi quán cafe Nando. Ở đó có vị trí thuận lợi để nhìn ra cảng, và cafe thì rất ngon".

Sau năm 1990, khi Mou đến làm việc ở Bonfim, SVĐ lớn nhất Setubal, người vợ trẻ Tami vẫn luôn có mặt. Tami vẫn đang đồng hành với Mou cho đến ngày nay, và còn rất lâu nữa. Họ đã có 2 đứa con, bé gái Matilde cùng chú nhóc Jose "đệ nhị", và tình cảm càng thêm khăng khít.

Gia đình luôn quan trọng với Mourinho, kể cả khi ông đoạt đến đỉnh cao danh vọng, được cả thế giới nhắc đến (và không ít người sùng bái). "Với tôi, gia đình là thứ quan trọng hơn tất cả. Tôi sẽ làm một người cha, một người chồng tốt, vì Tami và những đứa trẻ đã mang đến cho tôi nhiều điều".

http://www.youtube.com/watch?v=DKvWLaUnRBU

Thích kiếm tiền, nhưng tôi không bị tiền làm lóa mắt

Thích kiếm tiền, nhưng tôi không bị tiền làm lóa mắt

Ở tôi có một nghịch lý là tôi thích tiền và nỗ lực phấn đấu để vươn lên khẳng định mình và kiếm tiền, nhưng tôi lại thờ ơ với tiền, không để đồng tiền tác động đến mình nhiều, không bị đồng tiền làm lóa mắt.


From: Ở Trọ Trần Gian


Chào anh Khánh Hưng.

Tôi là độc giả trung thành của mục Tâm sự nhưng chưa một lần viết thư tham gia diễn đàn. Mãi hôm nay nhân đọc tâm sự của anh Hưng, tôi mạo muội có mấy dòng trao đổi.

Trước tiên, tôi xin chúc mừng anh Hưng đã đạt được cái gọi là “American Dream”. Tôi hiểu anh đã nỗ lực rất nhiều để đạt được những thành tựu này và anh hoàn toàn có quyền tự hào về nó.

Tôi hiểu và thông cảm với suy nghĩ e dè, đề phòng của anh, vì qua nhiều kênh thông tin từ người thân quen, bạn bè, tôi được biết có không ít cô gái Việt Nam lấy chồng Việt kiều chỉ để được đi Mỹ, qua đến đó thì chia tay để chia gia tài, quen với người khác hoặc lấy chồng giàu hơn, có nhiều ưu điểm hơn… khiến rất nhiều người đàn ông điêu đứng.

Từ thực tế cuộc sống cộng với những va chạm, thậm chí là va vấp trong cuộc sống dễ khiến cho anh có suy nghĩ tỉnh táo. Tuy nhiên, tôi xin khẳng định với anh rằng phụ nữ Việt Nam không thiếu những người kiên nhẫn, không xem trọng danh lợi, địa vị lẫn “mác” Việt kiều cũng như giấc mơ Mỹ. Điều quan trọng là anh có tìm được những người như thế không và tìm được rồi, liệu anh có phải là người mà họ tìm kiếm hay không, hai người có phù hợp với nhau hay không?

Xin tự giới thiệu, tôi là một cô gái thuộc thế hệ 8X đời đầu, vẫn còn độc thân và hiện sinh sống và làm việc tại TP HCM. Tôi sinh ra và trải qua tuổi thơ ở một làng quê nhỏ xíu, ít người biết đến. Ở đó đa số con gái học cao lắm là hết lớp 12 rồi nghỉ học, lấy chồng, sinh con. Cuộc sống chỉ quanh quẩn trong xóm làng. Đối với nhiều người, đi đâu đó trong bán kính 500 km là một điều gì rất lớn lao và lắm người cả đời không thực hiện được mong muốn đơn giản đó.

Nhưng từ khi có ý thức, tôi đã luôn trăn trở với câu hỏi người ta sống để làm gì? Đâu là ý nghĩa của cuộc sống? Tôi thường trăn trở trước những nghịch cảnh trong cuộc sống, muốn góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, muốn có thể đi chu du khắp nơi cho thỏa cuộc sống này và làm được nhiều điều có ích. Tôi không muốn sống một cuộc sống đơn điệu, tầm thường. Vì lẽ đó, tôi đã không ngừng nỗ lực phấn đấu để vươn mình ra biển lớn.

Ở khía cạnh nào đó, giữa tôi và anh cũng có chút tương đồng. Từ một cô gái tỉnh lẻ vào Sài Gòn với hai bàn tay trắng, sau hơn 10 năm học hành và không ngừng nỗ lực phấn đấu, nhanh nhạy nắm bắt các cơ hội cộng thêm một chút may mắn… dù tuổi đời chưa đến 30 nhưng tôi đã có trong tay nhiều thứ mà rất nhiều người mơ ước.

Tôi có 2 bằng ĐH, một bằng Master về Kinh tế của nước ngoài. Tôi có một căn hộ xinh xắn rộng gần 100 mét vuông, bên cạnh có hồ bơi, sân tennis… Tôi có một công việc tốt tại một công ty của nước ngoài với thu nhập tốt và nhiều cơ hội thăng tiến. Tôi cũng đã đi rất nhiều nước từ gần đến xa hơn nửa vòng trái đất…

Là người giao thiệp rộng, tôi có rất nhiều bạn bè thuộc nhiều độ tuổi khác nhau và đa số đều là những người thành đạt, trong đó có không ít những người trẻ thuộc thế hệ 8X sắm được nhà riêng, những người thuộc thệ hệ 7X nhiều người có tài sản lên đến hàng chục tỷ, vài căn nhà và cả biệt thự… Cá biệt có những người có tài sản lên đến hàng trăm tỷ. Nhiều người nắm giữ những vị trí cao trong các tổ chức, tập đoàn lớn.

Tôi được họ quý mến, nể phục và đánh giá cao. Mặc dù tôi có những người bạn thành đạt là thế, giàu có là thế, nhưng điểm mấu chốt khi chơi với họ là tôi không quan tâm đến việc họ có bao nhiêu tiền (đa số sau một thời gian chơi, khi đã khá thân rồi tôi mới biết họ giàu) mà quan tâm đến tính cách, cách đối nhân xử thế của họ.

Tôi nhỏ hơn họ, tài sản so với họ chẳng là gì cả nhưng tôi chẳng bao giờ có tâm lý lép vế khi chơi với họ. Ở tôi có một nghịch lý là tôi thích tiền và nỗ lực phấn đấu để vươn lên khẳng định mình và kiếm tiền, nhưng tôi lại thờ ơ với tiền, không để đồng tiền tác động đến mình nhiều, không bị đồng tiền làm lóa mắt.

Tôi thoải mái khi ở trong môi trường của những người bạn giàu có, đến những nơi sang trọng xa hoa nhưng cũng rất thích trò chuyện với những người lao động phổ thông, ăn ở những quán vỉa hè… Sẽ có nhiều người khi đạt được những thứ như tôi, đặc biệt là ở lứa tuổi này, sẽ dễ nảy sinh tâm lý tự mãn hoặc “chảnh”. Tuy nhiên, chân thành mà nói, mặc dù tôi hài lòng và đôi lúc tự hào vì những thứ mà mình có, những thành tựu mà tôi đạt được đến lúc này, nhưng tôi chưa bao giờ cảm thấy mình là người giỏi giang hay tự mãn.

Tôi biết những thứ mình có vẫn còn rất nhỏ bé và ngoài kia còn rất nhiều người giỏi giang hơn tôi, đáng để tôi học hỏi và phía trước vẫn là con đường dài đầy hoa thơm cỏ lạ cũng như những thử thách thức đang chờ đón đón tôi. Phía trước là cả bầu trời rộng lớn và tôi tự thấy mình mới chỉ là con ếch nhỏ bé vẫn còn ở đáy giếng nhìn ra mà thôi.

Từ hồi học phổ thông đến bây giờ, tôi có khá nhiều người để ý, theo đuổi, có người kiên trì theo đuổi hàng mấy năm liền. Tôi cũng có quen vài người, đó là những chàng trai tốt, xét theo tiêu chuẩn thông thường của xã hội (ngoại hình ổn, học ĐH, gia đình khá giả, công việc tốt, đối xử tốt với tôi), nhưng ở họ tôi không thấy được sự đồng cảm, đồng điệu trong chí hướng nên chia tay.

Một số hoặc là vì xuất thân giàu có nên hơi công tử, ngại thử thách, dễ an phận với cuộc sống an nhàn hiện có, không có tham vọng vươn mình ra biển lớn, một số xuất thân khó khăn nhưng chỉ mới đạt được một số thành công, thu nhập một vài ngàn USD hoặc mới tậu được căn nhà đã vội tự mãn, mắc bệnh ngôi sao, sớm quên mất thuở hàn vi...

Một số người khá giàu có, có thể tiêu xài cho bản thân, gia đình rất nhiều nhưng lại không sẵn lòng chia sẻ với những người có hoàn cảnh khó khăn… Tóm lại, ở họ vẫn thiếu những thứ nền tảng mà tôi tìm kiếm. Tôi tôn trọng họ và hiểu mỗi người có suy nghĩ, lựa chọn cuộc sống khác nhau và không thể miễn cưỡng người khác làm điều mình không thích. Một số người giờ đã có gia đình và chúng tôi vẫn là bạn bè tốt.

Tôi đã nhiều lần suy nghĩ, tự hỏi rốt cuộc bản thân mình cần gì, người đàn ông thế nào là phù hợp với tôi. Mấy năm liền tôi hầu như không quen ai mà tự đối diện với chính mình, lắng nghe lòng mình, chiêm nghiệm để rồi đi đến sự thấu hiểu rằng tôi cần một người đàn ông không cần giàu có nhưng phải là người bản lĩnh, độ lượng, sống có tâm, có mục đích, có sự đồng cảm với tôi. Là người sống theo kiểu “thắng không kiêu, bại không nản”. Dù mai này thành công, giàu có vẫn không tự mãn, biết đối xử chan hòa, rộng mở với mọi người và quý trọng các giá trị đạo đức truyền thống. Thích kiếm tiền nhưng không coi trọng đồng tiền. Nếu trong cuộc sống có thất bại, có gục ngã vẫn có thể kiên cường đứng lên đi tiếp chứ không buông xuôi.

Tôi muốn cùng người đó đồng cam cộng khổ, cùng trải qua những thăng trầm trong cuộc sống để xây dựng gia đình hạnh phúc, sự nghiệp viên mãn và có cuộc sống thật ý nghĩa. Nếu có thể được thì cùng nhau phấn đấu gầy dựng sự nghiệp, tạo lập được công ty lớn, có tên tuổi, có thể đóng góp nhiều vào sự phát triển của xã hội, kiếm được thật nhiều tiền để có thể cùng chu du đây đó, có nhiều thời gian dành cho bản thân, gia đình và con cái và làm từ thiện, góp phần làm cho cuộc sống của người khác tốt đẹp hơn.

Đã hơn 5 năm rồi kể từ khi tôi chia tay người bạn trai gần nhất, tôi vẫn chưa chính thức quen ai mà kiên trì tìm kiếm người phù hợp mặc dù quanh tôi không thiếu những người đàn ông thành đạt, giàu có, giỏi giang. Thậm chí có người còn định giới thiệu Việt kiều, Mỹ trắng… cho tôi, nhưng tôi đều từ chối.

Thật lòng mà nói, khi quen ai tôi không quan tâm đến tài sản hay quốc tịch, thành phần xuất thân của họ. Tôi biết mình không thiếu bản lĩnh và khả năng trong việc kiếm tiền và làm giàu, tôi không có ý định dựa dẫm vào bất cứ ai cả. Đối với tôi, nước Mỹ là một đất nước phát triển và có nhiều ưu điểm, nhưng tôi không phải là người vọng ngoại. Đối với tôi sống ở đâu không quan trọng. Quan trọng là mình sống với ai và sống như thế nào và mình làm được những gì.

Mặc dù tôi là một phụ nữ năng động và hiện đại, có cuộc sống rất thoải mái nhưng tôi vẫn hướng về những giá trị truyền thống. Tôi yêu trẻ và đang “mơ về ngôi nhà và những đứa trẻ”. Tuy nhiên, tôi không vội vã, không vội vàng mà vẫn thư thả tìm kiếm một người đàn ông có những vẻ đẹp tâm hồn và trân trọng các giá trị truyền thống… như tôi nói ở trên. Dù bề ngoài tôi là cô gái cá tính, năng động và không kém phần nghịch ngợm, tôi lại là người sống khá nội tâm và ưa thích nhạc Trịnh. Tôi thích những triết lý sống bàng bạc trong nhạc của ông.

Tôi quan niệm cuộc sống là một cuộc dạo chơi, những tháng ngày mình đang sống là chuỗi ngày ở trọ trần gian, đời người chỉ sống có một lần nên cố gắng sống sao để chuỗi ngày ở trọ của mình sẽ là những tháng ngày tươi đẹp và hữu ích để không uổng phí kiếp này. Mặc dù tuổi chưa đến 30 nhưng tôi đã trải qua khá nhiều biến cố trong cuộc sống đủ để nhìn cuộc sống với đôi mắt của người thấu hiểu. Mặc dù bên ngoài tôi là người khá tham vọng, cầu tiến và năng động, không ngừng phấn đấu nỗ lực vươn lên những tầm cao mới, nhưng trong tâm hồn tôi rất an nhiên, tự tại.

Hiện tại mặc dù tôi sống một mình nhưng cảm thấy rất vui vẻ, thoải mái và hạnh phúc. Ngoài giờ làm việc, tôi tham gia các khóa học ngắn ngày để hoàn thiện bản thân, chơi thể thao và chia sẻ thời gian với người thân, bạn bè… xem phim, nghe nhạc, đọc sách, nấu ăn, chăm sóc bàn thân cả ngoại hình lẫn tâm hồn và không quên để ý tìm kiếm các cơ hội làm ăn, kiếm tiền khác. Thỉnh thoảng tôi lại cùng bạn bè, người thân đi du lịch đây đó. Cuộc sống của tôi sống động và đầy màu sắc nên hầu như hiếm khi nào tôi cảm thấy buồn hay cô đơn, trống trải. Tôi thấy mình là người rất may mắn và hoàn toàn hài lòng với những gì mình có.

Trở lại vấn đề của anh Hưng, những gì tôi nói ở đây chỉ là những lời góp ý chân thành, không hề có ý phê phán hay lên án. Anh đã ở vào tuổi "Tứ thập nhi bất hoặc", thành đạt trong sự nghiệp, nhưng có vẻ như anh quá chú tâm vào việc phát triển sự nghiệp mà quên mất khía cạnh nhìn nhận, đánh giá người khác cũng như chính bản thân mình. Nói một cách thẳng thắn đó là kỹ năng sống của anh hơi kém.

Binh pháp có câu “Biết người, biết ta trăm trận, trăm thắng”. Ở đây anh không hiểu rõ mình, càng không biết người mà anh chọn, vậy nên việc anh trải qua 3 mối tình đều thất bại là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, chuyện đã qua hãy để nó qua, quan trọng là anh có thể học được gì từ những thất bại này để anh có thể có một kết thúc có hậu với cô gái thứ 4 hay thứ 5 sau này.

Tôi tin khi anh viết lên những dòng tâm sự này, anh thật sự có lòng thành muốn người khác chỉ ra cho anh con đường và cho anh thấy đúng, sai trong cách nhìn nhận của mình để ngõ hầu anh sớm tìm được người như ý. Vì thế tôi xin mạo muội góp một số ý như sau.

- Thứ nhất, trong giai đoạn hiện nay anh không nên vội vã có quan hệ tình cảm với bất cứ người nào mà nên dành ra một khoảng thời gian, vài tuần, vài tháng hay thậm chí là một năm để hiểu rõ bản thân mình (mình là người như thế nào, các giá trị sống của mình, sở thích…). Từ đó anh có thể hiểu được một người phụ nữ như thế nào là phù hợp với anh.

Trong thư của anh tôi chỉ thấy anh nhấn mạnh về các yếu tố vật chất mà không nghe nói đến các giá trị tinh thần mà anh có. Nếu một người phụ nữ đến với anh chỉ vì những sự hào nhoáng, vì tiền của anh thì khi anh gặp khó khăn họ cũng sẽ dễ dàng rũ áo ra đi. Ngược lại, nếu anh gặp một người con gái không ham tiền tài thì dù anh có giàu gấp nhiều lần mà tâm hồn anh cằn cỗi thì người ta cũng sẽ không chọn anh.

- Thứ hai, tình yêu thường bắt đầu từ tình bạn và cần thời gian để nuôi dưỡng, phát triển nó. Cái gì dễ đến cũng thường dễ đi. Các cô gái anh quen trước đây, chỉ sau chưa đầy 3-4 tuần gặp gỡ đã thích và yêu anh thì quả là quá “fast-food”. Và bản thân anh cũng thế, có câu “dục tốc bất đạt”. Xuất phát điểm từ những cuộc tình, đúng hơn là tôi thấy gần như trò chơi của những cái đầu tính toán. Anh có quan điểm hơi bị cao ngạo khi tự cho mình quyền “đặt ra tiêu chuẩn là một năm thử thách". Theo tôi anh nên chân thành và tế nhị, khiêm tốn hơn trong những mối quan hệ sau này.

Nếu anh gặp được một người con gái nào mà anh thấy ổn, hãy bắt đầu bằng tình bạn và nuôi dưỡng nó lớn lên. Thời đại thông tin, anh có thể thường xuyên liên lạc, tìm hiểu họ cũng như để họ hiểu về anh. Tôi ủng hộ quan điểm “không thể chọn vợ một cách cẩu thả” của anh, tôi đồng ý với quan niệm tỉnh táo một chút khi kết hôn vì tình yêu chỉ là điều kiện cần chứ không hẳn là điều kiện đủ nhưng tôi phản đối quan điểm xem hôn nhân như một sự tính toán, mua bán…

Nếu hai người phù hợp, tình cảm sẽ dần dần phát triển lên thành tình yêu và có kết thúc đẹp, còn ngược lại, anh cũng không nên vì thế mà bi quan, thất vọng hay cay cú. Điều tôi đặc biệt nhấn mạnh ở đây là bản thân anh cũng phải thể hiện được cho họ thấy sự quan tâm và tình cảm chân thành với họ. Đừng nghĩ vì anh giàu có nên có quyền cẩu thả, tùy tiện trong mối quan hệ hay cho mình ở “chiếu trên”. Trồng dưa được dưa, trồng cà được cà anh ạ. Nếu anh chân thành với người ta, tôi tin anh cũng sẽ được đáp lại như thế. Tình cảm phải có sự vun đắp, nuôi dưỡng từ cả hai phía.

- Thứ ba, tôi nghĩ anh nên dẹp bỏ bớt cái tôi của mình một chút. Anh nên hiểu một điều đơn giản rằng người giỏi có người giỏi hơn. Khi có tinh thần cầu thị, anh sẽ trở nên khiêm tốn hơn, cái nhìn về cuộc sống cũng sẽ nhẹ nhàng hơn. Chúc anh sớm tìm được người phù hợp và có một kết thúc đẹp.

Nhân đây tôi cũng rất mong các anh chị và các bạn, nhất là phái nam, hãy cho tôi biết liệu người đàn ông như tôi tìm kiếm liệu có còn tồn tại trong thời buổi này? Tôi có phải là người cầu toàn quá không?

Rất mong nhận được chia sẻ của các anh chị và các bạn gần xa qua email: otrotrangian1122@yahoo.com. Rất cám ơn các anh chị đã bỏ thời gian lắng nghe suy nghĩ của tôi. Rất cảm ơn quý báo đã cho tôi có cơ hội chia sẻ. Chúc quý báo ngày càng thành công và có nhiều độc giả hơn nữa.
Nguồn: vnexpress.net

Thứ Năm, 6 tháng 5, 2010

Đàn ông 30

Những năm 20, người ta uống bia uống rượu đến mức ngủ lúc nào không biết. Tỉnh dậy thấy ngổn ngang bạn bè, ngổn ngang nôn mửa. Đàn ông 30 tối bắt đầu nhìn đồng hồ căn giờ ngủ, không quên súc miệng nước muối, cuốn khăn giữ ấm họng.

Đàn ông 30 sau khi đi qua cả một thời trai trẻ nhiệt huyết, bốc lửa của tuổi 20, đã đi, đã đến đã chinh phục, đã thất bại, đã trải qua những cảm xúc thăng hoa tuyệt vời cũng như cảm giác cay đắng tưởng như tận cùng. Nhìn lại những tháng năm đi qua bỗng thấy hun hút trống trơn có lúc giật mình thoảng thốt.

Những năm 20, người ta có thể diện một chiếc quần bò lỗ chỗ, mặc pull in hình Manowar, tự tin đeo khuyên tai, tự chọn cho mình màu tóc ưa thích. Khi 30, người ta bắt đầu chuộng hơn quần âu, một sơ mi măng séc là phẳng. Người ta cũng bắt đầu chọn cho mình một chiếc caravat hợp tâm trạng. Khi 30 còn diện bò bạc phếch, nhuộm tóc khác màu đen đã có cảm giác lạc điệu.

Những năm 20, người ta uống bia uống rượu đến mức ngủ lúc nào không biết. Tỉnh dậy thấy ngổn ngang bạn bè, ngổn ngang nôn mửa. Đàn ông 30 tối bắt đầu nhìn đồng hồ căn giờ ngủ, không quên súc miệng nước muối, cuốn khăn giữ ấm họng. Bắt đầu biết lo cho bản thân hơn. Tần số các cuộc nhậu nhẹt thâu đêm suốt sáng giảm dần. Bắt đầu để ý đến sức khỏe và cân nặng.

Cái thời 20 máu lửa sẵn sàng dựng xe, vác chầy xông vào nhau chỉ vì một lời xúc phạm. Đàn ông 30 bình thản trả lời “không muốn gì cả” khi một thằng oắt con đầu vàng quần côn bó ép xe vào lề đường hất hàm “muốn gì?”. Đàn ông 30 bắt đầu có khái niệm “chỉ số AQ đủ dùng”.

Đàn ông 30 bắt đầu cảm thấy nhu cầu tất yếu cạo râu, sửa gọn lông mũi, xịt nước thơm mỗi khi bước ra khỏi nhà. Đàn ông 30 bắt đầu ăn mặc không theo một hình mẫu, không theo một thần tượng nào. Đàn ông 30 bắt đầu làm đẹp không chỉ dành cho các cô gái mà phần nhiều để cảm thấy đoàng hoàng tự tin tiếp xúc với các đối tác làm ăn, giao dịch. Đàn ông 30 cảm thấy tự tin khi mặc vest.

Đàn ông 30 bắt đầu cho mình cái quyền đòi hỏi một vị trí trong XH, đòi hỏi vai trò của mình trong cuộc sống, trong tổ chức. Nhu cầu muốn khẳng định mình.

Đàn ông 30 đi đường ít khi ngoái lại nhìn theo một cô gái trẻ đẹp để thầm xuýt xoa về thân hình nhưng lại thường xuyên ngoái lại nhìn theo một chiếc xe đẹp hay một người đàn bà nền nã. Đàn ông 30 nhìn thấy vẻ đẹp của người đàn bà 30.

Đàn ông 30 “thèm” một chân dài nhưng “cần” một sự cảm thông, cần một điểm tựa tâm hồn. Đàn ông 30 muốn một mái ấm, tìm cho mình một người đàn bà có thể đi tiếp quãng đường tương lai. Bắt đầu hình dung về ngôi nhà và những đứa trẻ.

Đàn ông 30 là lúc bắt đầu cảm thấy tự tin, cảm thấy được sức gánh của đôi vai mình. Đủ tự tin và bình thản để hứng chịu những thử thách của cuộc đời.

Đàn ông 30 bắt đầu lôi những giấc mơ lóng lánh leng keng một thời tuổi trẻ ra để đổi lấy những mục tiêu thực tế hơn và đôi khi giản dị hơn.

Đàn ông 30 dám nghĩ, dám làm, dám chơi, dám đối mặt với thất bại và cũng dám dừng. Đàn ông 30 bắt đầu phân biệt được ranh giới của sự lố bịch. Nhìn thấy được cái ngưỡng đủ. Đàn ông 30 đủ tinh tế để vượt qua những giá trị phù phiếm.

Tuổi 30 đàn ông dần tự tin để thấy mình là đàn ông khi đứng trước phụ nữ. Dám nhìn sâu vào mắt đối phương để tìm sự đồng điệu về cảm xúc.

Đàn ông 30 biết yêu và có trách nhiệm hơn với cảm xúc của mình. Cũng biết gìm mình trước những thất bại. Bình thản trước tai họa. Thấm thía được nỗi cô đơn, thấm thía được sự bội bạc, cảm nhận được đến tận cùng sự ấm áp tình người mà con người dành cho nhau. Khác hẳn cái yêu thời 20, yêu và vô trách nhiệm với tình yêu, vô trách nhiệm với chính bản thân mình.

Đàn ông 30 khi nghĩ về gia đình có thêm trách nhiệm. Cậu bé 20 nghĩ về bố mẹ với những sự ràng buộc gò bó khuôn khổ gia đình. Đàn ông 30 nghĩ về bố mẹ ngoài nỗi nhớ còn kèm theo mong muốn mình được làm chỗ dựa, mình được che chở cho gia đình. Đàn ông 30 biết lặng lẽ đêm về, biết đau lòng khi thấy mẹ chong đèn chờ, biết xót ruột khi thấy vợ vẫn chờ cơm.

Đàn ông 30 đủ tỉnh táo và bình tĩnh trước những đổ vỡ. Độ lượng hơn. Biết cách lý giải cuộc sống. Đàn ông 30 khẽ cười khi nhớ lại những năm 20 hừng hực của đời người. Ngẫm nghĩ và bắt đầu triết lý về tình yêu của những năm nông nổi, gật gù tâm đắc: “đàn ông như cái đĩa CD, cứ quay xung quanh mãi một lỗ thủng”.

Đàn ông 30 bắt đầu ngẫm nghĩ một chút về số phận mỗi khi nhìn lại con đường mình đã đi qua. Đàn ông 30 đã bắt đầu biết sợ.

Đàn ông 30 bắt đầu gắn mình với những ràng buộc để khó khăn hơn khi thực hiện một thay đổi lớn nào trong cuộc đời mình. Cuộc sống của đàn ông 30 không còn là của riêng bản thân anh ta nữa.

Đàn ông 30 biết mỉm cười trước các cuộc chơi, dù nhiệt huyết vẫn cháy trong lồng ngực nhưng bắt đầu hiểu trò chơi và những gì trời cho. Đàn ông 30 dần hiểu tiền chẳng là gì nhưng lại tự nguyện làm nô lệ cho nó.

Đàn ông 30 là kết thúc của một thời trai trẻ, và là sự khởi đầu của người đàn ông trưởng thành.

Chủ Nhật, 2 tháng 5, 2010

Cái mũi của Darwin

Có ai thích ông nội là cà khọt cà khẹt???

Khỉ.
Chuyện xảy ra ngày 30-6-1860. Hôm đó, "Hiệp hội phát triển khoa học" họp tại Đại học Oxford. Quyển sách của Darwin "Nguồn cội của các chủng loại" xuất bản đã được nửa năm, từ tháng 11 năm 1859, gây sóng gió trong giới khoa học cũng như trong dư luận. Giám mục Samuel Wilberforce tuyên bố sẽ nhân buổi họp này "thanh toán Darwin".

Ngồi đối diện với ông trong phòng họp là Thomas Huxley, kỳ phùng địch thủ của ông và bạn chí thân của Darwin, lính tiền đồn trên mặt trận lý thuyết tiến hóa. Trước cử tọa đông cả ngàn người, giám mục xung kích: "Thưa ông Huxley, tôi muốn hỏi ông: ông nghĩ rằng ông đến từ con khỉ, vậy là từ ông nội ông hay là từ cha ông?"

Huxley đứng phắt dậy, lính tiền đồn như thường lệ: "Tôi nghĩ rằng chẳng có gì hổ thẹn cho một người có ông nội là khỉ. Nếu có gì đáng hổ thẹn về tổ tiên của tôi, thì đó là vì tổ tiên của tôi là người: một người có trí thức nông cạn và bất nhất, một người không biết tự bằng lòng với thành công trong lĩnh vực riêng của mình, lại hăm hở can thiệp vào những vấn đề khoa học hoàn toàn xa lạ, làm tối tăm vấn đề bằng thứ từ chương rỗng tuếch, đánh lạc hướng chú ý của cử tọa để khỏi đi vào những vấn đề thực sự đặt ra bằng lối nói lạc đề đầy hùng biện và những hô hào đầy thành kiến tôn giáo". Sinh viên vỗ tay như sấm (1).

Từ đó đến nay, chuyện khỉ vẫn không tiến hóa, chiến trận đả đảo Darwin vẫn diễn ra, nhất là với giới Nhà Thờ ở Mỹ. Giống như mọi chiến tranh, bạn và thù phải phân minh tách bạch, ai nhận mình là khỉ thì qua bên kia, ai nhận mình là con cháu Adam thì qua bên này, hoặc là Darwin, hoặc là Thánh kinh. Lý thuyết "chọn lọc tự nhiên" tế nhị là thế, bỗng được đơn giản hóa tối đa, chỉ trắng với đen, quần chúng chỉ được trả lời trên một câu hỏi: có ai thích ông nội của mình là cà khọt cà khẹt?

Kết quả là phe ta đại thắng: từ 60 đến 87% dân chúng Mỹ, tùy hãng phỏng vấn, từ khước Darwin (2). Tội nghiệp ông Darwin, chết vẫn không yên, chỉ vì dám quả quyết. Quả quyết hai chuyện động trời sau một chuyến thám hiểm không tiền định.

Hai quả quyết làm ngứa ngáy thần học

Tội nghiệp ông, cho đến khi bước chân lên tàu Beagle để thám hiểm vùng biển Nam Mỹ, có bao giờ ông xa Thượng đế đâu? Thuở chín mười tuổi, mỗi lần ham chơi suýt trễ học, ông vừa chạy vừa "thành khẩn" cầu Thượng đế và lần nào Thượng đế cũng giúp ông; về già ông còn nhớ ơn Thượng đế (3). Ông học không giỏi, định học y khoa, nhưng nhát gan không dám nhìn mổ xẻ, suýt chọn nghề mục sư. Nghiêm túc, ông đọc nhiều sách thần học, tin "từng chữ", dù "không thể hiểu" vì "tối tăm ý nghĩa" (4) .

Về già, ông dí dỏm: "Mỗi khi tôi nhớ lại mình đã bị các nhà tôn giáo tấn công thô bạo thế nào, tôi không khỏi nghĩ một cách khôi hài rằng trước đây mình đã có ý định trở thành mục sư" (5). Sách gối đầu giường của ông trong chương trình năm cuối đại học Cambridge là các sách thần học và triết học của William Paley mà ông say mê uống từng chữ (6).

Trong khi lênh đênh trên chiếc Beagle, ông vẫn nghĩ Paley đã rèn luyện trí óc của ông. Paley dạy gì? Dạy rằng: Thượng đế có ý định, và vấn đề là phải tìm cho ra bằng chứng của ý định ấy nơi mọi sự mọi vật trong Thiên Nhiên. Vì sao? Vì "không thể có ý định mà không có người tạo ra ý định ấy; không thể có sự phát minh mà không có người phát minh; không thể có trật tự mà không có lựa chọn; không thể có sắp đặt mà không có người có khả năng sắp đặt; không thể có sự nương nhờ và hướng theo mục đích mà không có người vạch ra mục đích; không thể có những phương tiện thích hợp cho một cứu cánh hoặc đã được sửa đổi để thích nghi với cứu cánh mà không có cứu cánh đã định trước.

Sửa đổi, sắp đặt thành phần, tìm những phương tiện sao cho ứng dụng với cứu cánh, những dụng cụ sao cho thích hợp với thực hành, tất cả bao hàm sự có mặt của một năng khiếu thông minh và một trí óc" (7).

Luận lý ấy là nòng cốt của "thần học tự nhiên", là nước giếng mà Darwin đã uống như ông đã uống nước giếng toán học của Euclide. Trong Thiên Nhiên, cũng như trong cơ thể của sinh vật, chẳng phải ở đâu cũng thấy dấu hiệu của Ý Định đó sao? Hãy nhìn Thiên Nhiên: trong trật tự mầu nhiệm cũng như trong cuồng nộ thoáng qua, sao chẳng thấy bàn tay sắp đặt cực kỳ thông minh ấy? Thượng đế sáng tạo theo một "dây chuyền sinh loại", từ sinh loại thấp nhất, thô nhất, đến sinh loại cao nhất là con người, và qua con người, mọi sự mọi vật đều móc xích với Thượng đế. Mọi sự mọi vật đều dính mắc với nhau, chuyển động trong trật tự hài hòa, không sai chậy, giống như cái đồng hồ chính xác, và Thượng đề là Ông Đồng Hồ toàn hảo.

Dù là Galilée, dù là Newton, các đại khoa học gia ở thế kỷ 16-18 đều phải nhận có Ông Đồng Hồ để trước là yên thân với chính mình, sau là yên thân với Nhà Thờ. Gần với Darwin hơn cả và trước ông, Lamarck (1744-1829) cũng đã thuyết giảng về tiến hóa của các sinh loại theo chiều "tiến bộ" như thế, đi dần từ thấp lên cao, càng ngày càng hoàn hảo hơn, dưới áp lực của một "sức mạnh" sáng tạo và cưỡng bách, để thích nghi với môi trường bên ngoài.

Vì sự cưỡng bách đó, các cơ thể phải kinh qua kinh nghiệm của các "nhu cầu", và các "nhu cầu" này thay đổi theo với các "hoàn cảnh" ở bên ngoài. Từ các "nhu cầu" đó, sinh ra những "thói quen" mới, làm biến đổi những thủy lượng (fluide) đã tạo nên cơ thể. Từ đó, sinh ra những đặc tính mới có tính di truyền, truyền từ đời này qua đời sau, mỗi đời mỗi tích lũy thêm. Cho nên con hươu cao cổ trở thành con hươu có cái cổ cao vòi vọi: từ từ, dần dần, cái cổ cứ cao thêm để cái lưỡi nó vói tới lá cây trên cao trong những miền mà khí hậu dần dần bị hấp khô. Cái cổ của các chú - và nàng - hươu ấy phải rướn lên vì thèm ăn, vì đói, vì cố gắng, vì kiên nhẫn, vì... cứng đầu từ cố tổ cao tằng của dòng họ hươu trải qua bao thời đại.

Lamarck đã viết như thế từ 1802 và Darwin đã đọc: "Từ thế kỷ này qua thế kỷ kia, trải qua một chuỗi dài thế kỷ, không thể tránh được việc có thể có các loại sinh vật mới xuất hiện..." Nói như thế, trong thời đại Lamarck, đã là bạo lắm rồi, nhưng nhà sinh vật học ấy vẫn chưa thoát khỏi ý nghĩ cổ điển về trật tự của thiên nhiên trong đó đã ngầm sẵn một ý nghĩa. Trật tự đó đi từ thấp lên cao, hoàn hảo, toàn bích, dưới bàn tay thông minh của một Đấng Sáng Tạo.

Vậy thì, khi chàng thanh niên Darwin 22 tuổi bước lên tàu Beagle, chàng là người tin đạo, trong đầu cũng như trong tim, trong trắng, thơ ngây. Chàng viết: "Trên chiếc Beagle, tôi là tín đồ chính thống; tôi còn nhớ đã làm các sĩ quan trên tàu cười phì khi tôi cứ trích dẫn Thánh kinh như bằng chứng không gì chối cãi được để biện minh cho một vấn đề luân lý nào đó" (8). Năm năm nghiên cứu sinh vật trên các ven biển, khoa học đã làm ông mở mắt.

Ông mở mắt từ từ, "hoài nghi xâm chiếm tôi rất chậm nhưng cũng rất chắc. Tiến triển ấy chậm đến nỗi tôi không cảm thấy một chút áy náy gì, và từ đó đến nay chưa có một giây phút nào tôi nghi ngờ về tính xác thực của khám phá của tôi". Ông viết thêm về nguồn suối Paley: "Lý luận xưa cũ về một cứu cánh trong thiên nhiên, như Paley trình bày, mà ngày trước tôi thấy không gì xác thực hơn, bây giờ rơi vỡ tan tành xuống đất từ khi tôi khám phá ra luật chọn lọc tự nhiên.

Giờ đây, ta không thể nói, chẳng hạn, rằng cái bản lề xinh đẹp khép mở nơi hai tấm vỏ sò phải là sáng tác của một đấng thông minh giống như cái bản lề khép mở nơi cánh cửa là sáng tác của người thợ mộc. Trong muôn loài sinh vật hữu cơ và trong tác động của chọn lọc tự nhiên, chẳng hề có một cứu cánh nào lớn hơn phương hướng của một làn gió thổi. Tất cả trong thiên nhiên đều là kết quả của những định luật bất biến" (9).

Những định luật gì? Chân lý khoa học mà Darwin khám phá rất đơn giản:

1. Các cơ thể sinh vật đều biến chuyển và những biến chuyển ấy được truyền lại - ít ra là một phần - cho con cháu.
2. Các sinh vật sinh ra con cháu nhiều hơn là số con cháu sống sót.
3. Trên nguyên tắc, con cháu nào biến chuyển trong chiều hướng mà môi trường chung quanh ưu đãi thì sống sót và sinh sản. Như vậy, sự biến chuyển thích hợp mà sinh vật nào cũng phải tuân theo được diễn ra do chọn lọc tự nhiên.

Về điểm thứ nhất, "tiến hóa" không phải là khái niệm mới trong thời đại của Darwin. Trước Darwin và chung quanh ông, các nhà sinh vật đã biết đến rồi. Nhưng "tiến hóa" trong khám phá của Darwin không phải "tiến hóa" theo quan niệm của người đương thời. Cho đến lúc đó, khái niệm "tiến hóa" bao hàm một trật tự có sẵn, đi từ thấp lên cao, từ thô đến tế, từ đơn giản đến phức tạp, càng ngày càng hoàn thiện. Darwin chống lại quan niệm đó, tránh dùng những từ "thấp" với "cao" khi mô tả cấu trúc của các cơ thể sinh vật
Giữa con người và con a-míp, không ai cao ai thấp nếu xét về khả năng thích nghi với môi trường chung quanh. Bởi vậy, Darwin tránh dùng từ "tiến hóa" chẳng có liên quan gì với tiến bộ hiểu theo nghĩa thông thường cũng như hiểu theo nghĩa của các nhà khoa học tin ở Thượng đế. Ông nhắc lui nhắc tới: sự thay đổi trong cơ thể của sinh vật chẳng hướng theo cứu cánh gì cả, chỉ vì tự nhiên phải bắt buộc làm cho cơ thể thích nghi tốt hơn với môi trường chung quanh, chứ tuyệt đối không phải để rập theo một ý nghĩ trừu tượng về tiến bộ, phức tạp hơn, thông minh hơn. Thay vì "tiến hóa", Darwin dùng từ dài hơn để chính xác hơn: "truyền thừa với thay đổi". Mình thay đổi, rồi truyền thừa sự thay đổi đó cho hậu duệ.

Hậu duệ thay đổi thế nào? Ở đây, Darwin đổi mới hoàn toàn so với những quan niệm có trước. Trước ông, người ta nghĩ rằng cả một giống sinh vật thay đổi. Ông khám phá ra điều khác: không phải cả giống thay đổi mà cá nhân trong mỗi giống thay đổi (điều 2 và 3 ở trên). Cá nhân thay đổi rồi truyền thừa thay đổi của mình cho đời sau, khiến các giống sinh vật được tạo ra rồi được biến đổi theo. Cá nhân nào thay đổi? Chỉ những cá nhân nào thích nghi giỏi với môi trường chung quanh.

Đây là cái lõi của khám phá, mang tên là "chọn lọc tự nhiên", nghe chẳng có gì ghê gớm mà kỳ thật là kinh thiên động địa đối với thế giới thần học. "Chọn lọc" diễn ra bằng những thay đổi rất nhỏ, rất vi tế, trong cơ thể của các cá nhân; đến một lúc nào đó, một thay đổi nào đó mang lại cho một cơ thể nào đó một lợi thế khiến nó thắng các cá nhân khác trong cuộc đấu tranh tất nhiên phải xảy ra để giành nhau các phương tiện sống; thay đổi đó được truyền lại cho hậu duệ, hậu duệ này sinh sản phát triển lên với một hình thức khác với hình thức trước đó. Đâu là cách mạng mà Darwin mang lại?

Thứ nhất, Darwin quả quyết: thiên nhiên chẳng hàm chứa một ý định thiêng liêng của một đấng nào. Tiến hóa chẳng có một mục đích gì ráo. Các cá nhân tranh đấu để làm tăng lên sự hiện diện của gène trong hậu duệ, chỉ thế thôi, chấm hết (10).

Thứ hai, Darwin nói rõ: những "thay đổi vi tế" nhờ đó các cá nhân được chọn lọc để sinh tồn xảy ra do "tình cờ" - tình cờ với nghĩa là không có một chương trình nào đã được vạch sẵn trước. Cả hai quả quyết làm ngứa ngáy thần học.

Tiến hóa? Các nhà thần học và các nhà làm khoa học tin ở Thượng đế có thể chấp nhận được chừng nào họ còn biện minh được bằng giải thích: đó là ý muốn của Thượng đế. Họ nói: Thượng đế đã nắm trong tay các định luật cai trị vũ trụ, đã tạo và truyền sự sống, đã cho phép các loài sinh vật thay đổi với thời gian, và - ở một thời điểm thần bí nào đó - đã chích một mũi tâm linh vào sinh vật mà sau này được gọi là Homo Sapiens, thủy tổ của loài người. Với thuyết "chọn lọc tự nhiên" của Darwin, luận lý đó hết chỗ đứng. Không những "chọn lọc tự nhiên" đã thay thế ý định của Thượng đế, mà hậu quả của thuyết đó lại còn độc địa hơn: con người mất cái quy chế đặc biệt là được Thượng đế chọn và sinh ra theo hình dáng của Ngài.

Tình cờ? Ngẫu nhiên? Độc địa không kém. Darwin giải thích trong "Nguồn cội...": thay đổi trong cơ thể sinh vật xảy ra để đáp ứng với "những điều kiện của đời sống", khó khăn, nguy biến - khí hậu khe khắt, thực phẩm khan hiếm, nơi ở bất an... Nhưng ông nói thêm: những thay đổi xảy ra "bằng cách không định trước được" (11). Nghĩa là gì? Trong quyển "Nguồn cội...", ông dùng từ "may rủi" và giải thích: "Nói rằng "do may rủi" là một cách nói không đúng, là nói theo nghĩa thông thường, cốt chỉ "để thừa nhận rành rọt ta chẳng biết gì về nguyên nhân" của mỗi thay đổi. Cách nói đó không đúng vì những thay đổi quả là có những nguyên nhân vật chất; chúng không hề có một cứu cánh gì định trước.

Chẳng hạn, một hạn hán có thể làm tăng tốc độ những thay đổi nơi một loài sinh vật mà không nhất thiết thúc đẩy những thay đổi đặc biệt nào để làm tốt hơn sức chịu đựng của một sinh vật đối với hạn hán. Hoặc là một hạn hán có thể làm sinh ra một thay đổi để chịu đựng hạn hán cộng thêm 5 thay đổi nữa nhưng vô dụng hoặc có hại. Nếu thế, chọn lọc tự nhiên có thể có khuynh hướng bảo tồn và nhân lên thay đổi đó. Chọn lọc tự nhiên là có phương hướng; thay đổi, cung cấp nguyên liệu cho quá trình chọn lọc thì không.

Không có phương hướng: "may rủi" là như vậy, là không có ý định gì cả. Trong một thư viết năm 1870 cho một bạn đồng nghiệp, J. D. Hooker, ông nói thêm: "Tôi không thể nhìn vũ trụ như là kết quả của một ngẫu nhiên mù lòa, tuy vậy tôi không thấy một bằng chứng gì về một cứu cánh tốt lành, ngay cả bất cứ một cứu cánh gì, trong những chi tiết" (12).

Phần 2: Tiến hoá và tình cờ ngẫu nhiên

Với cả hai quả quyết đã được trình bày, Darwin biết mình đã đi quá xa, không phải trên địa hạt khoa học, mà chính là trong trận địa triết lý: lý thuyết của ông sẽ bị kết án là duy vật chủ nghĩa.

Chính thế, vũ trụ không phải là kết quả của một ý định mà của "những định luật ghi khắc trên vật chất", có thể khám phá được và không thay đổi. Luật của tiến hóa cũng giống như luật của trọng lực, của hơi nóng. Đó là những luật liên quan đến sự phát triển của sinh vật, sinh sản, di truyền, biến đổi, áp lực của dân số, cạnh tranh sinh tồn, tất cả phối hợp với nhau để phát sinh ra sự chọn lọc tự nhiên, đưa đến một kết quả mà Darwin cho là "hùng tráng", đúng thế, "hùng tráng", trong đó, "từ những hình thức đơn giản lúc khởi thủy, vô vàn những hình thức đẹp nhất, kỳ lạ nhất, đã sinh ra và đang sinh ra" (13).

Lý thuyết ấy đập vỡ tan tành hai ngàn năm triết lý và tôn giáo của phương Tây. Con người? Không có nguồn gốc gì khác các sinh vật khác. Cũng một nguồn gốc ấy thôi: tiến hóa, chọn lọc tự nhiên. Linh hồn có trước và bất diệt? Darwin diễu Platon: Platon nói rằng những "ý nghĩ tưởng tượng" là đến từ một linh hồn đã có sẵn trước, chứ không phải từ kinh nghiệm; đúng hơn phải nói rằng cái đã có sẵn trước là con khỉ".

Hãy thử tưởng tượng tâm trạng của Darwin lúc đó, sống với một lý thuyết đảo lộn như vậy trong đầu giữa thế kỷ 19 ở Âu châu, dưới thế lực của Nhà Thờ và của thần học đang ngự trị trên tư tưởng và dư luận. Darwin tin chắc ở điều mình khám phá, nhưng nói ra được chăng? Hay là nên sợ?

Bao nhiêu nhà nghiên cứu về lịch sử khoa học đã dành không biết bao nhiêu giấy mực để phân tích sự im lặng của Darwin trong suốt 21 năm, từ khi ông vun quén những ý tưởng ấy trong đầu, năm 1838, cho đến khi ông xuất bản tác phẩm "Nguồn cội..." năm 1859. Hai mươi mốt năm! Ai cũng biết tại sao cuối cùng ông xuất bản sách ấy.

Chỉ vì có một nhà khoa học khác, Alfred Russell Wallace, tình cờ gửi đến ông một công trình nghiên cứu mà kết luận giống như kết luận của ông. Bỗng có người khác xía vào khám phá của mình, không công bố kết quả thì hóa ra mình là kẻ đến sau. Cho nên, chẳng đặng đừng, ông phải chấm dứt im lặng.

Nhưng hãy thử tưởng tượng: ai có thể giữ một bí ẩn động trời trong lòng suốt 21 năm ròng rã như vậy? Mới đây, có nhà nghiên cứu biện hộ giùm ông rằng trong 21 năm ấy, ông còn phải cật lực tìm hiểu thêm, gom góp thêm sự kiện, khảo sát, thí nghiệm bao nhiêu sự việc khác nữa, còn phải viết, còn phải bổ túc xuất bản những công trình dang dở, nghĩa là còn phải tiếp tục suy nghĩ, cân nhắc, để đưa ra chính xác hơn lý thuyết của mình mà ông biết sẽ gây bão tố, ngay cả trong giới khoa học quen biết (14). Đúng thế. Nhưng khó nghĩ rằng đó là lý lẽ duy nhất. Một trong những lý lẽ không thể bỏ qua là ông sợ. Sợ gì nhất? Sợ kết luận mang tính duy vật. Sợ hệ quả triết lý của một khám phá khoa học.

Đừng nói sợ ai cho xa: ông sợ phật lòng bà vợ. Emma, vợ ông, là tín đồ trung kiên của Thiên chúa giáo. Hai vợ chồng rất tương kính nhau, nhưng ông khổ ngầm vì không tin được nữa như vợ, và bà khổ ngầm vì khoa học dẫn ông đi xa đức tin của bà. Bà thổ lộ trong thư: "Cái gì liên quan đến chàng đều liên quan đến thiếp, và thiếp sẽ rất khổ khi nghĩ rằng chúng ta không là của nhau nữa trong cõi vĩnh viễn" (15).

Trong vĩnh viễn đời sau, bà sợ ông sẽ bị trừng phạt, nghĩa là sẽ xa bà trên chốn thiên đường. Mà không bị trừng phạt sao được khi ông dám viết thế này trong "Tự Truyện": "Sự thực, tôi không thể chấp nhận được rằng có người mong muốn Thiên chúa giáo là đúng, bởi vì nếu vậy, Kinh thánh nói rõ rằng người nào không tin, nghĩa là cha tôi, anh tôi, và hầu hết bạn bè thân nhất của tôi, đều phải bị trừng phạt vĩnh viễn. Điều đó quả thật là một học thuyết đáng kết án" (16).

Đáng bị trừng phạt hơn nữa khi Darwin tấn công vào chính cái mà ông gọi là "đồn lũy": trí óc của con người. Nếu trí óc con người không hiện hữu thực sự ngoài bộ não, Thượng đế là gì nếu không phải là hoang tưởng do hoang tưởng bày đặt ra? "Sự việc tư tưởng là do bộ não chiết ra, có gì lạ lùng đâu, có gì lạ lùng hơn sự việc trọng lực là một đặc tính của vật chất?" (17).

Nhiều nhà nghiên cứu đã áp dụng phân tâm học để tìm hiểu tâm lý của Darwin trong hơn hai mươi năm ròng im lặng. Phải chăng vì tâm lý bất ổn nên ông thường đau? Có lần ông nằm mơ bị treo cổ! Thức dậy, ông không thấy bị treo cổ nhưng lại thấy... treo giò. Cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, trong giới khoa học, trong giới đại học, bao nhiêu giáo sư và nhà khoa học đã bị treo giò, đã bị mất chức, mất môn dạy, đã không được xuất bản, đã bị kiểm duyệt, vì có tư tưởng khác với thời đại.

Thống kê và báo chí

Giới báo chí Việt Nam có lẽ là một trong những nhóm thích dùng thống kê trong các bản tin nhất thế giới.

Mở đầu cho bài viết “Tham nhũng học thuật”, phóng viên viết “Chỉ riêng vụ ‘luộc’ hai cuốn sách Nguyên lý bảo hiểm và Tài chính quốc tế của trường Đại học Kinh tế Tp.HCM, đã có tới 7 giảng viên của khoa Tài chính Ngân hàng trường Đại học Công nghiệp TPHCM can dự (chiếm 32% tổng số 22 giảng viên của khoa)”.

Mới đây, trong loạt bài phản ảnh về những trăn trở và khó khăn của du học sinh khi về làm việc ở Việt Nam, phóng viên cho biết: “83% du học sinh về nước không hài lòng với lương, thưởng”. Viết về nguyên nhân tử vong ở trẻ em, báo khẳng định: “50% trẻ em tử vong do đuối nước”.

Có phóng viên còn chạy một cái tít chính xác đến 2 số thập phân như “31,48% sinh viên chưa nắm được thế nào là nghiên cứu khoa học”. Ít thấy báo chí nào trên thế giới chịu khó trình bày nhiều số phần trăm, mà có chính xác đến số lẻ, như báo chí ở nước ta.

Những con số thống kê thường được sử dụng để tạo sự quan tâm của công chúng về những vấn đề xã hội. Những con số thống kê vừa liệt kê trên được thu thập và tính toán với mục đích nói cho chúng ta biết rằng tình trạng “đạo sách” lan tràn trong giới khoa bảng, nhiều sinh viên chẳng biết nghiên cứu khoa học là gì, đa số du học sinh không hài lòng với lương bổng ở trong nước, và quan trọng hơn là đuối nước là nguyên nhân gây nên 50% tử vong ở trẻ em.

Những vấn đề mà phóng viên dùng số thống kê để nêu đúng là rất quan trọng, và công chúng khó có thể bỏ qua được. Nhìn như thế, chúng ta thấy con số thống kê quả là đóng vai trò quan trọng trong việc thuyết phục công chúng về các vấn đề xã hội.

Nhưng trước khi bị thuyết phục bởi những con số thống kê, chúng ta cần phải tìm hiểu bối cảnh ra đời của chúng, nói nhại theo một nhà xã hội học Mỹ, tôi nghĩ con số thống kê như là một cái áo dài của người phụ nữ, những gì nó tiết lộ thì thú vị đấy, nhưng những gì nó giấu giếm mới là quan trọng.

Con số thống kê cũng vậy, nó là sản phẩm của xã hội, của con người, cho nên nó cũng chịu sự chi phối bởi tình cảm và chủ quan của tác giả tạo ra nó. Người đọc, do đó, cần phải tìm hiểu kỹ những bối cảnh này trước khi chấp nhận ý nghĩa của con số thống kê.

Những khía cạnh cần tìm hiểu là vấn đề con số phản ảnh, phương pháp đo lường, nguồn gốc của dữ liệu, và cách diễn giải dữ liệu thống kê.

Con số phản ánh gì?

Trước hết là vấn đề mà con số thống kê phản ảnh. Chúng ta thử quay lại cái tít “31,48% sinh viên chưa nắm được thế nào là nghiên cứu khoa học”.

Bản tin cho biết con số này xuất phát từ một cuộc phỏng vấn trên 1.000 sinh viên năm thứ ba thuộc Đại học Cần Thơ vào năm 2009. Nhưng vấn đề đặt ra là định nghĩa của “nghiên cứu khoa học” và thế nào là “hiểu chính xác”. Nghiên cứu khoa học là một quy trình, và quy trình này có thể thay đổi tùy theo lĩnh vực khoa học.

Vì thế làm thế nào mà hiểu chính xác được quy trình? Ở đây, chỉ có hiểu đúng và hiểu sai mà thôi, chứ tôi nghĩ không có hiểu chính xác được. Chú ý rằng tuy nghiên cứu được thực hiện ở Cần Thơ, nhưng cái tít thì lại hàm ý khái quát cho sinh viên của cả nước, thậm chí cả thế giới!

Nếu mục tiêu là thu hút chú ý của bạn đọc thì cái tít đã thành công một mức độ nào đó, nhưng nếu mục tiêu là cung cấp thông tin chính xác cho người đọc, thì tôi e rằng bài báo chưa đạt được mục tiêu.

Đo lường ra sao?

Thứ hai là vấn đề đo lường. Một con số thống kê chỉ đáng tin cậy nếu phương pháp đo lường chính xác và có độ tin cậy cao.

Chẳng hạn như trong trường hợp “50% trẻ em tử vong do đuối nước”, câu hỏi lặp tức đặt ra là định nghĩa thế nào là “đuối nước” và đo lường ra sao, ai là người báo cáo tử vong (chắc chắn trẻ em đã chết không báo cáo được!), và nếu thân nhân báo cáo thì độ tin cậy cỡ nào.

Trước đây, báo chí Mỹ rầm rộ đưa tin về một nghiên cứu cho thấy 80% con cái của những cặp cha mẹ ly dị không có vấn đề gì khi trưởng thành và thích nghi tốt với xã hội, nhưng khi được hỏi “thích nghi với xã hội,” hay “trưởng thành,” có nghĩa là gì thì giới báo chí không trả lời được.

Tình trạng ly dị thì dễ trả lời và không thành vấn đề, bởi vì nó là một hồ sơ hay tình trạng mà phần lớn ai cũng có thể xác nhận khá chính xác. Nhưng làm sao để xác định và định nghĩa thế nào là thích nghi với xã hội mới là một vấn đề quan trọng trong chương trình nghiên cứu.

Đây là một phạm vi mang tính định tính (qualitative) mà nhà nghiên cứu khó có thể đo lường một cách chính xác và khách quan như trong trường hợp của huyết áp, chiều cao cơ thể, hay màu da, sắc áo.

Người ta chắc sẽ không ngạc nhiên nếu một nghiên cứu phát hiện rằng một người nào đó hoàn toàn hài lòng với cuộc sống và thích nghi với xã hội, mặc dù anh ta đang nghiện rượu, hay đã trải qua nhiều lần ly dị trong đời, trong khi một nghiên cứu khác có thể phát hiện rằng một người nào đó hoàn toàn có một cuộc sống gương mẫu nhưng lại không hài lòng với cuộc sống hiện tại!

Dữ liệu từ đâu?

Thứ ba là vấn đề nguồn gốc dữ liệu. Quay trở lại bài báo “50% trẻ em tử vong do đuối nước” chúng ta chỉ biết “Đây là thông tin từ báo cáo tổng hợp về phòng chống tai nạn thương tích trẻ em tại Việt Nam do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc” công bố.

Nhưng chúng ta cần phải biết bối cảnh ra đời của con số này là gì. Một loạt câu hỏi đặt ra: đối tượng nghiên cứu là ai, ở đâu, vào thời gian nào?… Nhưng rất tiếc là bản tin hoàn toàn không cung cấp thêm thông tin nào về báo cáo này.

Cũng là vấn đề nguồn gốc, trong bài báo “83% du học sinh về nước không hài lòng với lương, thưởng”, phóng viên cho biết, “đối tượng khảo sát gồm các nhóm chính: du học sinh đã tốt nghiệp, đã và sẽ về nước làm việc; du học sinh đã tốt nghiệp, đã và sẽ ở lại làm việc tại nước sở tại và du học sinh chưa tốt nghiệp có nguyện vọng thực tập”.

Chúng ta thấy rõ ràng có sự mâu thuẫn. Trong khi cái tít của bài báo đề cập đến du học sinh về nước, thì đối tượng nghiên cứu lại gồm du học sinh sắp về nước và sắp tốt nghiệp!

Thật ra, đọc kỹ bài báo thì thấy thông tin phức tạp hơn, và có thể tóm lược như sau: trong số 350 du học sinh được phỏng vấn, có một số đã tốt nghiệp và một số chưa tốt nghiệp, nhưng chúng ta không biết con số này.

Trong số đã tốt nghiệp, 64% quyết định ở lại nước sở tại, và 36% về Việt Nam. Trong số đã tốt nghiệp và về Việt Nam, “83% chưa hài lòng về chuyện lương, thưởng”. (Phóng viên lấy con số này làm tiêu đề, nhưng chú ý trong tiêu đề thì viết là “không hài lòng” còn bài viết là “chưa hài lòng”!)

Giả dụ như có 50% sinh viên đã tốt nghiệp, thì con số đã về Việt Nam là 375*0.5*0.36 = 63 người. Trong số 63 người này, có 52 người (63*0.83) chưa hài lòng với lương bổng ở Việt Nam. Nếu 52 người mà phóng đại lên 83% thì tôi e rằng phạm vào lỗi khái quát hóa.

Diễn giải có đúng?

Thứ tư là vấn đề diễn giải dữ liệu. Quay trở lại tiêu đề “50% trẻ em tử vong do đuối nước” chúng ta có thể hiều rằng trong tổng số trẻ em tử vong, phân nửa là do đuối nước. Có thể nào tin rằng đuối nước gây ra phân nửa tử vong ở trẻ em ở Việt Nam?

Thật ra, chưa có bất cứ một nghiên cứu nào nói như thế. Tôi có thể khẳng định rằng con số này chắc chắn đã được trình bày sai, hoặc trình bày đúng nhưng nghiên cứu sai, hoặc diễn giải sai số liệu.

Một trong những sai lầm phổ biến trong diễn giải dữ liệu là vượt ra ngoài dữ liệu quan sát. Chẳng hạn như nếu một phân tích về mối tương quan giữa tiểu đường và bệnh nhân có trọng lượng dưới 50 ki lô gam, thì kết quả không thể phát biểu cho người có trọng lượng trên 50 ki lô gam.

Con số phần trăm thường hay bị diễn giải sai. Con số phần trăm là kết quả của tử số chia cho mẫu số và nhân cho 100. Một trong những cái sai tiêu biểu và rất phổ biến là tính phần trăm cho mẫu số thấp hơn 100.

Chẳng hạn như bài báo cho biết trong số 22 giảng viên của khoa Tài chính Ngân hàng trường Đại học Công nghiệp Tp.HCM, có 7 người can dự vào việc “luộc sách”, và phóng viên cho rằng 32% giảng viên luộc sách (tức lấy 7 chia cho 22 và nhân cho 100).

Vấn đề ở đây là chỉ số 22 giảng viên, nhưng nhà báo nhân lên thành 100 để cho có con số phần trăm, và đây là lỗi lầm về khái quát hóa ngoài dữ liệu cho phép. Đáng lẽ chỉ cần nói chính xác rằng 7 trong số 22 người bị nghi ngờ luộc sách là đủ, đâu cần gì phải nói đến con số 32%.

Một vấn đề khác là suy luận về bằng chứng, nguyên nhân và hậu quả. Ngay cả khi các dữ kiện được thu thập trong hai nhóm có đặc tính giống nhau hay tương đương nhau, nhà nghiên cứu vẫn chưa có thể phát biểu về mối liên hệ giữa nguyên nhân và hậu quả (cause and effect).

Thực ra, nhà nghiên cứu chỉ có thể phát biểu rằng dữ kiện [mà họ thu thập được] nhất quán (consistent) với giả thuyết. Nhưng kết quả của họ cũng có thể nhất quán với các giả thuyết khác nữa. Chẳng hạn như con số 50% trẻ em tử vong do đuối nước cũng có thể nhất quán với giả thuyết thuyền bè thiếu an toàn, và nếu không có dữ liệu về an toàn rất khó nói cái nào là nguyên nhân và cái nào là hệ quả.

Cần nhấn mạnh rằng những con số thống kê không chứng minh bất cứ một điều gì cả. Khoa học thống kê là một môn học bị lạm dụng quá nhiều nên môn học này có khi bị mang tiếng xấu, nhất là người ta hay gắn liền thống kê với câu nói của Benjamin Disrael. Tức là, người ta tin rằng thống kê có thể dùng để chứng minh bất cứ điều gì, kể cả nói láo.

Nhưng đó là một cách ngụy biện, chứ trong khoa học thì thống kê phải được dùng một cách thận trọng. Dù những con số thống kê có thể được trình bày và diễn dịch nhiều cách khác nhau, chúng không thể chứng minh bất cứ một điều gì cả. Điều mà thống kê có thể “chứng minh” được là bác bỏ những gì không chắc chắn, không có thực.

Nhà văn H. G. Wells từng nói rằng trong một xã hội hiện đại công dân cần thành thạo ba kỹ năng: đọc, viết, và thống kê. Giới báo chí, hơn ai hết, cần phải trang bị những kỹ năng về diễn giải và suy luận thống kê để tránh những hiểu lầm đáng tiếc có thể xảy ra trong tương lai.

WARREN BUFFET

Ngày nay các tỷ phú Mỹ vẫn luôn chiếm vị trí chủ đạo trong danh sách những người giàu có nhất thế giới, tài sản khổng lồ của họ có được từ nhiều nguồn khác nhau, từ các hoạt động kinh doanh khác nhau. Trong số đó vẫn có một nhà tỷ phú luôn được nhắc tới bởi sự "giản dị, khiêm tốn" trước sau như một.

Nhà tỷ phú sạch sẽ

Theo Tạp chí Forbes, Warren Buffett là nhà tỷ phú giàu thứ 2 thế giới với tài sản lên tới hơn 44 tỷ USD và trong 10 năm tới nữa, gia tài của ông sẽ lên đến con số 100 tỷ USD. Nhưng nhà tỷ phú này hoàn toàn khác hẳn với những tỷ phú nổi tiếng của thập niên 80 như Ivan Boesky, Micheal Milken. Ông được biết đến như một người đã giàu lên một cách "sạch sẽ".

Ông làm việc không cần đến máy tính, thế nhưng ông luôn là một trong những người giàu nhất nước Mỹ trong thập niên 90 và được ông vua trong ngành công nghệ thông tin là Bill Gates rất mực hâm mộ.

Đó là Warren Edward Buffett. Ông sinh năm 1930, học ngành Tài chính tại trường Tài chính Wharton niên khoá 1947–49 rồi bất ngờ chuyển qua đại học Nebraska rồi tốt nghiệp khoa này tại đây năm 1950. Chưa hài lòng với trình độ của mình, ông tiếp tục theo học tại Đại học Columbia và lấy bằng thạc sỹ kinh tế năm 1951.

Sau đó ông đi làm và thi thố một lúc hai khả năng nổi trội của mình: làm nhân viên kinh doanh đồng thời phân tích chứng khoán. Đến năm 1965, ông giành tiền mua được cổ phần lớn ở công ty dệt may Berkshire Hathaway và đến 1970 trở thành Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc công ty.

Và với tài năng của mình, ông chủ tài ba này đã chuyển xưởng dệt may đó thành một tập đoàn khổng lồ vào thập kỷ 90, hoạt động trên các lĩnh vực "ngon ăn" nhưng khó làm nhất là mua bán công ty, bảo hiểm, sản xuất và dịch vụ...

Tuy sống đơn giản, không có gì nổi trội so với láng giềng nhưng tỷ phú này lại khá rộng lượng với các hoạt động từ thiện. Hiện ông đang cùng ca sỹ nổi tiếng Bono, người đã hát trong đám tang vợ ông năm ngoái, tham gia tích cực vào các hoạt động chống AIDS trên phạm vi toàn cầu.

Cũng như Bill Gates, ông tiết lộ là sẽ dành 99% tài sản của mình đóng góp vào quỹ từ thiện mang tên ông, Quỹ Buffett, cũng như tặng cho các tổ chức hoạt động từ thiện khác. Nhà tỷ phú này chưa quyết định sẽ để lại tài sản của mình cho ai trong số 3 đứa con của mình. Ông cho biết đã viết di chúc nhưng chỉ đề cập tới việc sẽ phân quyền quản lý Công ty Berkshire Hathaway của mình như thế nào và chỉ được mở ra xem sau khi ông chết.

Người Mỹ thầm lặng được cả thế giới để ý

Warren Buffett là một người Mỹ khá thầm lặng nhưng mỗi lời nói, hành động đều khiến cả thế giới để ý. Người đàn ông giàu có bậc nhất nước Mỹ này sống khiêm tốn trong căn nhà ở thật xa phố Wall, trung tâm tài chính và chứng khoán lớn nhất nước Mỹ và thế giới. Ông ở Omaha, một thị trấn nhỏ với 300.000 dân cư thuộc tiểu bang Nebraska

Văn phòng của ông trông giống phòng khám của một bác sỹ, chỉ có 11 nhân viên giúp ông điều hành cả một giang sơn của mình. Làm việc kiểu cổ xưa, tức không cần đến máy tính và máy điện toán. Sự khiêm tốn của Warren Buffett đã khiến ông trở thành người hùng của nước Mỹ, một nhân vật trong sạch, đơn giản, trung thực trong lĩnh vực tài chính.

Nhà báo Adam Snith, tác giả cuốn "Supermoney" viết về ông như sau: "Không cần máy móc theo dõi diễn biến lên xuống của các cổ phiếu công ty tại thị trường chứng khoán, không cần thuốc an thần, không cần cắt dũa móng tay cho đẹp, không cần những chiến thắng rộn ràng. Chỉ cần những giá trị đơn giản, dễ hiểu. Ông dành nhiều thời gian để nô đùa với các con trong những trận bóng hoặc ngồi nhìn cánh đồng lúa".

Rất khiêm nhường, song tỷ phú Warren Buffett cũng có lúc "chơi nổi" và thỉnh thoảng đầu óc lại hơi khác thường. Năm 1983, nhân ngày lễ sinh nhật của mình, ông đột nhiên nảy sinh ý định mua hẳn siêu thị bán bàn ghế Nebraska Furniture của bà Rose Blumkin. Ông tìm đến bà này hỏi giá, ra về và nhanh chóng trở lại với tấm ngân phiếu 60 triệu USD. Mua luôn cả một siêu thị mà không cần hỏi qua ý kiến của một chuyên gia kinh tế nào, chỉ có Warren mới dám nghĩ và đủ sức làm nổi.

Người rất có duyên với... USD!

Nhiều người coi Warren Buffett có những phép lạ đối với đồng USD. Donald Keough, Chủ tịch hãng Coca-Cola, một người bạn thân từ những năm 50 kể lại câu chuyện về Warren Buffet: "Tôi có 5 con và mỗi sáng đều phải đưa cả nhà đi làm. Warren có 3 con và anh ta ở lại nhà chơi xe lửa điện. Một ngày nọ Warren nói với tôi rằng nếu giao cho anh ta 5.000 USD tôi sẽ không còn phải lo lắng về việc có đủ tiền vào đại học cho các con nữa. Lúc đó tôi không rõ Warren làm gì nên làm sao dám giao cho 5000 USD. Nếu như tôi dám đưa cho anh ta món tiền ấy thì ngày nay tôi đã có dư tiền mua cả trường đại học".

Warren Buffet sinh ra trong một gia đình khá giả, bố ông từng bốn lần làm nghị sỹ đảng Cộng hoà, là chủ nhân một công ty buôn bán ngoại tệ. Chàng Buffet lúc mới 11 tuổi đã tập tành làm ăn mua bán cổ phiếu. Lúc đó, cậu bé này mua 3 cổ phiếu của công ty có tên Cities Service Preferred với giá 40 USD mỗi cổ phiếu. Ngay sau đó giá cổ phiếu này hạ thê thảm, song cậu vẫn giữ lại thay vì bán tháo để cứu lấy mấy đồng đầu tư. Không lâu sau đó, cậu bán số của mình với giá lên tới 200 USD mỗi cổ phiếu.

Quá ngoạn mục, song ông chỉ thực sự nhảy vào lĩnh vực làm ăn từ năm 1956 với 5.000 USD tiền túi và 100.000 USD đi vay mượn của bạn bè để thành lập công ty. Khi công ty này giải thể vào năm 1969 thì vốn của nó đã tăng hơn 35 lần so với vốn ban đầu.

Năm 1963 ông mua lại 5% tổng số cổ phiếu của American Express khi giá mỗi cổ phiếu chỉ có 35 USD. Năm năm sau mỗi cổ phiếu của công ty này đã tăng lên đến 189 USD. Trong những năm 70, ông đã đầu tư mạnh vào các công ty thông tin đại chúng và ông trở thành một trong những nhà đầu tư giữ các cổ phần lớn của tạp chí Time, công ty quảng cáo hàng đầu nước Mỹ Ogilvy & Mathew, công ty Interpublic.

Danh sách liệt kê những thành công tài chính của Warren Buffet quả là không ngắn và trở thành những huyền thoại. Trị giá của Công ty Beshire Hathaway mà ông hiện đang làm chủ với 44% cổ phần trị giá hơn 10 tỷ USD.

Ngay cả việc mua nhà của ông chủ tập đoàn tài chính danh tiếng Berkshire Hathaway cũng sinh lời dù ông không chủ ý làm giàu từ lĩnh vực này. Ông mua ngôi nhà cách đây gần 50 năm ở Omaha, với giá 31.500 USD. Năm 2003, các nhà định giá tài sản địa phương đã tính toán toàn bộ căn nhà của Buffett có giá 700.000 USD!

Nhà tiên tri vùng Omaha

Là bạn thân của Bill Gates, song ông nhất quyết từ chối đầu tư vào các dự án công nghệ thông tin, vốn đang là mốt suốt hai thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ trước. Và vụ nổ bong bóng internet vào đầu năm 2000 cho thấy tầm nhìn xa và tỉnh táo số 1 của ông già tinh quái này. Ông đã không phải chịu cảnh phá sản hay sốc nặng như những nhà đầu tư chạy theo phong trào khác.

Ông có biệt tài nhìn thấy những công ty có tiềm năng phát triển nhưng hiện còn bị đánh giá thấp hoặc rất thấp. Ông hơn hẳn hàng triệu nhà đầu tư khác chính ở chỗ đó. Nhờ mua những công ty và tài sản lúc giá còn quá thấp để rồi bán ra với giá cao ngất trời ít năm sau đó, tỷ suất lợi nhuận của ông gần như không tưởng.

Cụ thể, trong gần 40 năm qua miệt mài đầu tư, Công ty Berkshire Hathaway của ông đạt lợi nhuận trung bình 22,6%/năm. Tính chung từ năm 1965 tới nay, lợi nhuận của Berkshire Hathaway đã tăng khoảng hơn 2.000 lần, với việc sở hữu tới hơn 40 công ty con và tuyển dụng khoảng 150.000 nhân công. Đó là chưa kể tới những cổ phần giá trị lớn của ông tại Coca-Cola, American Express, Walt Disney hay Gillette hoặc những công ty nho nhỏ cỡ Geico hay General Re.

Vụ khủng bố 11/9/2001 khiến ngành bảo hiểm suýt chút nữa lâm vào khủng hoảng. Khoản tiền đầu tư lớn của ông cũng bị thiệt hại nhiều, lên tới 3,8 tỷ USD. Và cho đến nay, đó vẫn là vụ thua lỗ đáng kể duy nhất của nhà tài phiệt này.

Chính vì có khả năng nhìn xa trông rộng đến như vậy, Buffett được mệnh danh là "Nhà tiên tri vùng Omaha". Cũng còn một số tranh cãi và dẫn chứng đây đó, song đa số người Mỹ và những doanh nhân quốc tế từng làm việc với ông đều suy tôn ông là nhà đầu tư lớn nhất của thế giới ở mọi thời đại.

Những mốc quan trọng trong đời

1945: Warren kiếm được 175 USD/tháng với công việc giao báo cho Washington Post. Dành dụm được ít tiền, ông bỏ 1.200 USD mua 0,2 km2 đất nông nghiệp.
1947: góp tiền cùng bạn học mua chiếc máy bắn đạn trò chơi giá 25 USD, đặt ở các cửa hàng cạo râu hớt tóc để khách chơi khi chờ tới lượt. Mua thêm 2 cái với giá tương tự trước khi bán cả 3 với giá 1.200 USD cho một cựu chiến binh một năm sau đó.
1949: Bất ngờ chuyển từ trường Wharton sang học ở Đại học Nebraska. Được đề nghị một chỗ làm tại hãng J.C. Penney, một trong những tập đoàn bán lẻ hàng đầu hệ thống siêu thị Mỹ, ngay sau khi tốt nghiệp nhưng đã từ chối.
1950: nộp đơn xin học trường Đại học kinh doanh Harvard nhưng bị từ chối nên đành chuyển sang học trường Đại học Columbia và được hai giáo sư nổi tiếng về chứng khoán là Ben Graham và David Dodd dìu dắt cho tới ngày đoạt bằng Thạc sỹ tài chính.
1951: Phát hiện thầy mình là Graham có tên trong Ban lãnh đạo công ty bảo hiểm GEICO và xin làm không công nhưng bị công ty từ chối vì sợ không đủ sức đáp ứng tham vọng lớn của Warren.
1954: Ben Graham gọi Warren vào làm cho mình với mức lương khởi điểm 1.000 USD/tháng.
1956: Warren nâng số tiền tiết kiệm được lên 140.000 USD và lập công ty Buffett Associates, Ltd.
1959: Warren gặp Charlie Munger và hai người ngay lập tức thấy hợp ý nhau. Người này sau đã trở thành Phó Chủ tịch Berkshire Hathaway, góp công lớn cho thành công của hãng.
1962: Đã có số vốn bạc triệu, đầu tư 1 triệu USD vào một nhà máy sản xuất mà ông cho là tiềm năng có tên Berkshire Hathaway, với mức giá rẻ 8 USD mỗi cổ phiếu.
1970: Tài sản riêng lên tới 25 triệu USD dù chỉ mới 39 tuổi. Warren giữ 29% cổ phần ở Berkshire Hathaway và lên làm Chủ tịch hãng.
2005: là nhà tỷ phú giàu thứ 2 thế giới với tài sản lên tới hơn 44 tỷ USD

GEORGE SOROS

George Soros là nhà tỷ phú nổi tiềng khắp thế giới, ông sinh năm 1930, tại TP Budapest, Hungary. Là nhà tài phiệt từng được mệnh danh là “Mozart của thị trường chứng khoán”, “Robin Hood tài chính”. Xếp thứ 38 trong danh sách những người giàu nhất thế giới (năm 2003), với giá trị tài sản 7 tỷ USD. Nổi tiếng với những thương vụ kiếm bạc tỷ qua các vụ đầu cơ nghẹt thở. Nhà tỷ phú thành công nhất trong lĩnh vực đầu tư tư bản. Một nhà đầu cơ tiền mặt “vĩ đại” nhất của thế kỷ 20.

GEORGE SOROS TRƯỚC CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH NƯỚC ANH 1992.

Tiểu sử George Soros

George Soros được sinh ra với cái tên Dzichdzhe Shorak (phát âm là “Shorosh”) ở Budapest năm 1930. Là con trai của một luật sư, ông đã trở thành một siêu sao đầu tư của thế giới với giá trị tài sản ròng năm 2002 là $6,9 tỉ. Kể từ khi được thành lập vào năm 1969, trong 32 năm hoạt động, quỹ đầu tư của ông đã kiếm được mức lợi nhuận trung bình cao đến mức khó tin – 35%/năm.

Soros là người Do Thái, sinh ra ở Hungary vào ngày 12/8/1930. Tuổi thơ của nhà tỉ phú này gắn liền với những ngày kinh hoàng khi phát xít Đức tàn sát người Do Thái trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Khi còn nhỏ, ông được dạy rằng người Do Thái có thể chạy chứ không được lẩn trốn! Năm 1947, cậu bé Soros sang London một mình. Tại đây, Soros tốt nghiệp trường Kinh doanh London vào năm 1952. Năm 1956, Soros sang Mỹ đoàn tụ với bố mẹ và các anh chị em, và nhập quốc tịch Mỹ. Đây là nơi ông bắt đầu khởi nghiệp với 5.000 USD ít ỏi.

Câu chuyện về cuộc đời của Soros có hai phần rõ rệt: một “máy làm tiền”, và một nhà hoạt động từ thiện tích cực. Tuy nhiên, người ta thường thích quan tâm đến tiền của Soros hơn là những mục tiêu lý tưởng mà ông theo đuổi. Soros đã viết 7 cuốn sách mang nhiều tính triết lý. Cuốn sách mới xuất bản gần đây nhất là cuốn “George Soros nói về toàn cầu hoá”, xuất bản tháng 3/2002. Phương châm kinh doanh của Soros khá đặc biệt: trong kinh doanh, việc bạn đúng hay sai không quan trọng, cái quan trọng là nếu bạn đúng bạn sẽ có được bao nhiêu tiền, và nếu bạn sai bạn sẽ mất bao nhiêu tiền.

George Soros trước 1992.

Năm 1956, Soros chuyển tới thành phố New York, tại đây ông làm việc tại hai công ty chứng khoán trước khi gia nhập hãng Arnold & Bleichroeder vào năm 1963.

Năm 1967, ông trở thành trưởng phòng nghiên cứu đầu tư, và ông đã thành công trong việc tìm ra cơ hội đầu tư vào các cổ phiếu Châu Âu bị đánh giá thấp hơn giá trị thực.

Năm 1969, ông thành lập một quỹ đầu tư mạo hiểm nước ngoài, sử dụng $250.000 của riêngSoros1.jpg ông và khoảng $6 triệu của các nhà đầu tư không phải người Mỹ khác mà ông quen biết. (Một quỹ đầu tư mạo hiểm là một công ty hợp doanh đầu tư không bị hạn chế bởi quy định của các cơ quan chính phủ như Uỷ ban Chứng khoán Hoa Kỳ. Mỗi quỹ đầu tư mạo hiểm có thể thiết lập phong cách và chiến lược đầu tư của riêng mình, phong cách và chiến lược đầu tư của các quỹ rất khác nhau: một số quỹ sử dụng chiến lược đầu tư tham gia vào các loại đầu tư khác nhau, một số khác thì không. Người quản lý quỹ thường thu phí và phần trăm của lợi nhuận kiếm được, đồng thời đầu tư toàn bộ số tiền của mình vào quỹ.)

Chẳng bao lâu sau đó, Soros rời bỏ Arnold & Bleichroeder và mang đi quỹ Soros do ông thành lập. Mặc dù thập niên 1970 là những năm nghèo túng của thị trường chứng khoán Hoa Kỳ, nhưng quỹ Soros thì lại ăn nên làm ra. Với tư cách là người quản lý quỹ, Soros tập trung tìm kiếm các lĩnh vực bị đánh giá thấp hơn giá trị thật ở Hoa Kỳ và ở các nước khác. Ông mua các cổ phiếu giá thấp không được ưa thích và bán non các cổ phiếu giá cao được ưa thích.

Ông dự đoán cầu về dầu sẽ vượt xa cung về dầu nên đã mua cổ phiếu của các công ty hoạt động trong ngành dịch vụ dầu mỏ và khoan dầu trước cuộc khủng hoảng dầu đầu tiên năm 1973. Vào giữa thập niên 1970, ông đầu tư rất nhiều vào các cổ phiếu của Nhật Bản. Năm 1979, ông đổi tên quỹ thành Quantum Fund để tôn vinh nguyên lý dễ thay đổi trong cơ học lượng tử của Heisenberg. Năm 1980, quỹ đạt lợi nhuận 103% với số vốn lên tới $380 triệu.

Năm 1981, tạp chí Institutional Investor gọi ông là “nhà đầu tư vĩ đại nhất thế giới”. Nhưng năm 1981 là một năm khó khăn: quỹ lỗ 23% và một phần ba các nhà đầu tư của quỹ rút tiền về. Song các nhà đầu tư đó đã phạm sai lầm. Trong tương lai, quỹ vẫn tiếp tục thu được dòng lợi nhuận cực lớn.

Vào đầu tháng 9/1985, Soros tin rằng đồng đô-la Mỹ đang được đánh giá quá cao so với đồng yên Nhật và đồng Mác Đức, và chẳng bao lâu sẽ có sự điều chỉnh cho đúng với giá trị thực. Ông quyết định mua các hợp đồng đầu cơ để kiếm lợi nhuận từ những thay đổi mà ông đoán trước là sẽ xảy ra. Chẳng hạn như ông vay đô-la để mua yên và mác, đồng thời mua trái phiếu chính phủ của Nhật và Đức. Tổng cộng ông đã cam kết mua các hợp đồng trị giá $800 triệu, một cam kết có giá trị lớn hơn toàn bộ số vốn của quỹ. Vào cuối tháng 9, chính phủ các nước phát triển tuyên bố Hiệp định Plaza, trong đó họ hứa sẽ hợp tác hành động (như can thiệp vào các thị trường ngoại hối) để làm tăng giá trị của các đồng tiền mạnh so với đồng đô-la Mỹ. Chỉ trong một tháng, do đồng đô-la mất giá, Soros đã thu lợi nhuận $150 triệu.

Tổng lợi nhuận của quỹ năm 1985 là 122% vì ông còn đầu tư vào cổ phiếu nước ngoài và trái phiếu dài hạn của Kho bạc Hoa Kỳ. Tất nhiên không phải mọi hoạt động đầu tư của ông đều mang lại lợi nhuận. Chẳng hạn như trong năm 1987, quỹ Quantum lỗ tới $840 triệu khi thị trường cổ phiếu Hoa Kỳ và các nước khác sụp đổ vào tháng 10. Nhưng quỹ vẫn kiếm được 14% lợi nhuận trong cả năm này.

George Soros kiếm được hàng tỷ chỉ trong một đêm là do may mắn hay do ông ta có một sự hiểu biết uyên thâm về hệ thống Tài Chính Quốc Tế.

Tình hình kinh tế nước Anh 1992.
a. Kinh tế nước Anh đang trong giai đoạn suy thoái.

NHTW của các nước công nghiệp phát triển đã áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ trong khi mặt bằng lãi suất của thế giới đang tăng cao. Trong giai đoạn này tình hình kinh tế nước Anh đang suy thoái nghiêm trọng phản ánh qua một số chỉ tiêu sau:

Chỉ tiêu Trung bình 1988-1990 1991 1992
GDP thực tế 2,3 -2,2 -1,0
Tốc độ tăng trưởng KT - -1,8 -0,1
Tổng cầu thực tế 3,5 -3,2 0,1
Cán cân tài khoản vãng lai -3,6 -1,1 -2,1
Tỷ lệ lạm phát 9,5 5,9 3,8
Tỷ lệ thất nghiệp - 8,0 9,8
Thâm hụt ngân sách(/GDP) 1,3 2,8 6,6
Khối lượng xuất khẩu - 1,7 3,2
Khối lượng nhập khẩu - -2,8 6,7

b. Sự ra đời hệ thống tỷ giá Châu Âu (ERM).
Vào 13/3/1979 Hệ thống tỷ giá Châu Âu (ERM) được thành lập, hầu hết các đồng tiền của EU bị buộc vào nhau theo Cơ chế Tỷ giá Hối đoái (Exchange Rate Mechanism – ERM) của Hệ thống Tiền tệ Châu Âu (European Monetary System). Hệ thống tỷ giá song phương giữa các đồng tiền thành viên được dao động trong một biên độ nhất định(2.25%). Riêng nước Anh và Ý là 6%.

Đơn vị tiền tệ Châu Âu - ECU
Loại tiền tệ %tham gia Loại tiền tệ %tham gia
Marks Đức (DEM)
Francs Pháp (FFR)
Bảng Anh (GBP)
Đồng Lira Ý (ITL)
Guilders Hà Lan(NLG)
Francs Bỉ (BEF) 30.1
19.0
13.0
10.15
9.4
7.6 PesetaTâyBanNha (ESP)
KronesĐan Mạch (DKK)
Punts Ireland (IP)
Drachmas Hy Lạp (GRD)
Escudos Bồ ĐàoNha (PTE)
Francs Luxembourg (LUF) 5.3
2.45
1.1
0.8
0.8
0.3


Mặc dù đã gia nhập Cộng đồng kinh tế Âu Châu (ECC) từ tháng 4/1970 và đã kí hiệp định EMS nhưng nước Anh lại quyết định không tham gia hệ thống tỉ giá hối đoái của ECC. Theo thể thức EMS, tỷ giá hối đoái của các nước thành viên được duy trì trong các giới hạn cụ thể và cũng ràng buộc với đơn vị tiền tệ Châu Âu và các đồng tiền của các nước thành viên này đều được neo theo đồng Mark Đức đồng thời có thể dao động không quá 2,25% ( trừ Ý là 6%). Nhưng đến tháng 10/1990, Anh quyết định gia nhập ERM cùng với sự đảm bảo của Chính Phủ là sẽ theo đuổi một chính sách kinh tế và tiền tệ sao cho có thể phòng ngừa được những biến động về tỷ giá giữa đồng Bảng và đồng tiền của các nước khác thuộc ERM trong một biên độ giao động tỷ giá là 6%. Lúc này, đồng Pound được neo ở mức 1GBP= 2.95 DEM

Sau khi bức tường Berlin sụp đổ ngày 9/11/1989, hai miền Đông và Tây Đức được thống nhất cả về địa lý lẫn chính trị và đồng Mark của Tây Đức được chọn là đồng tiền chung cho đất nước. Vào thời điểm đó, 1 đồng Mark của Tây Đức đổi được 4 đồng Mark của Đông Đức. Tình hình lạm phát tại Đức tăng cao do người dân ở Đông Đức đổ xô đi đổi tiền Tây Đức. Để tránh sự ảnh hưởng của lạm phát cao đến nền kinh tế mới được thống nhất, NHTW Đức đã quyết định tăng lãi suất đồng Mark lên cao và duy trì lãi suất cao này trong một thời gian dài. Khi đồng Bảng Anh neo giá cố định theo đồng Mark Đức thì hiện tượng lãi suất cao tại Đức đã góp phần làm cho giá trị thực của đồng Bảng bị giảm sút nghiêm trọng. Cũng chính điều này đã gây rất nhiều khó khăn cho NHTW Anh trong việc duy trì tỷ giá hối đoái cố định và chỉ có hai phương án lựa chọn cho NHTW Anh mà thôi, đó là:

(1) Ngân hàng trung ương Anh phải chuẩn bị sẵn sàn để mua vào một lượng đồng bảng Anh dư thừa trên thị trường bằng việc bán ra đồng DEM từ kho dự trữ của mình
(2) Tăng lãi suất đồng bảng Anh lên một mức cao để khuyến khích các nhà quản lý danh mục đầu tư.

Nguyên nhân khủng hoảng tài chính nước Anh: ngày thứ tư đen tối (Black Wednesday)

* Cơ chế tỷ giá ERM được xem là “cơ chế tỷ giá bò trườn” khi mà nó dựa trên một tỷ giá trung tâm, được tính toán dựa trên tỷ giá bình quân gia quyền của tỷ giá hối đoái của các nước thành viên với quyền số được ấn định dựa trên tổng sản phẩm quốc dân và hoạt động mậu dịch nội bộ châu Âu tương ứng của các nước thành viên trong khi giới hạn tỷ giá đồng tiền của các nước thành viên dao động trong một biên độ hẹp ( 2.25%, trừ Ý và Anh là 6%). Khi có biến động bởi nền kinh tế Đức hồi phục quá nhanh đã làm rối loạn tiền tệ của cơ chế này và tỷ giá trung tâm phải điều chỉnh thường xuyên khiến cho nó trở nên mất ổn định.
* Vào thời điểm này, nền kinh tế của các nước châu Âu đang rơi vào tình trạng suy yếu và có khả năng xảy ra khủng hoảng.
Các nhà đầu cơ bắt đầu có những hoài nghi về cam kết của các chính phủ là bảo vệ cố định tỷ giá trung tâm thông qua công cụ lãi suất cao và họ đã tấn công vào các đồng tiền thuộc ERM mà trước tiên là hai đồng tiền có biên độ cao nhất là đồng Bảng Anh và đồng Lira Ý.
* Chính phủ và Ngân hàng trung ương Anh cố gắng để giữ tỷ giá ấn định là 2.95 DEM/1bảng.
* Ngày 16/9/1992 chính phủ Anh chính thức thông báo tăng lãi suất đồng bảng Anh từ 10% đến 12%, sau đó lại tiếp tục tăng tới 15%, đây là mức lãi suất cao kỷ lục, do ngân hàng trung ương Anh không có đủ lượng dự trữ đồng DEM để giữ ấn định mức giá neo 2.95DEM/1bảng.
* Những nhà môi giới, đầu cơ và những nhà quản lý danh mục đầu tư vẫn tiếp tục bán đồng bảng Anh.
* Việc duy trì lãi suất cao của đồng bảng Anh không thể kéo dài được.
* Nước Anh buộc phải thực hiện thả nổi đồng Bảng và đồng bảng rớt giá ngay lập tức.
* Tháng 9/1992, nước Anh rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, ảnh hưởng dây chuyền tới nền kinh tế một số nước và thế giới và do vậy nước Anh rất cần phải duy trì lãi suất ở mức thấp.

Hành động của George Soros: Nhà đầu tư có một sự hiểu biết uyên thâm về hệ thống tài chính quốc tế.

Theo giới chuyên môn, thành công của George Soros chính là sự hiểu biết uyên thâm, nghị lực phi thường cộng với sự phấn đấu không biết mệt mỏi. Ông thường làm việc liên tục với mỗi đêm chỉ ngủ 2 giờ. Trái với nhiều nhà kinh tế, học thuyết cơ bản của ông về đầu tư là thị trường tài chính - nơi bất ổn nhất. Tại đó, các mức giá cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ phụ thuộc vào người mua và người bán mà đa số họ thường hành động theo cảm tính chứ không bằng những tính toán lôgic.

a. Quá trình đầu cơ của George Soros.

Tháng 9/1992, Soros đưa ra lời dự đoán nổi tiếng nhất. Bằng khoản đầu tư trị giá 10 tỷ USD vào đồng Bảng Anh (GBP), George Soros chính là người đã làm cho đồng GBP phải rút khỏi hệ thống tỷ giá hối đoái châu Âu (ERM).

Sau sự kiện bức tường Berlin sụp đổ, đất nước Đức thống nhất hai miền Đông và Tây. Để tránh tình trạng lạm phát cao, NHTW Đức đã quyết định tăng lãi suất đồng Mark Đức, làm cho đồng Mark có xu hướng tăng giá so với các đồng tiền khác và chính điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến các đồng tiền khác thuộc ERM. Theo đó, để giữ cho tỉ giá hối đoái được ổn định, Chính phủ các nước khác thuộc ERM cũng sẽ phải tăng lãi suất cho đồng tiền của mình và Soros tin rằng Chính phủ Anh cũng không ngoại lệ vì lúc này tình hình kinh tế nước Anh đang trong tình trạng suy yếu, tỷ lệ thất nghiệp cao. Theo như Soros dự đoán thì với tình hình này, trong tương lai không xa, nước Anh chỉ có thể thực hiện một trong hai hành động sau: hoặc là nước Anh sẽ bán phá giá đồng Bảng nếu muốn tiếp tục tham gia ERM, hoặc là rút khỏi ERM. Dù nước Anh có hành động nào đi nữa thì chắc chắn là đồng Bảng cũng sẽ mất giá.

Quá trình đầu cơ: Ông đầu cơ giá xuống vào đồng bảng và đầu cơ giá lên vào đồng Mác bằng cách vay bảng mua Mác, đồng thời còn đầu tư vào các hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn. Giá trị các hợp đồng này cực lớn - $10 tỷ. Khi Soros và các nhà đầu tư khác thực hiện hợp đồng, họ bán đồng bảng, do vậy tạo nên sức ép giảm giá với đồng bảng.

SOROS3.gif

b. Các biện pháp chống đỡ của NHTW Anh.

Do lượng DEM dự trữ không đủ để đáp ứng nhu cầu thị trường nên đầu tháng 9/1992, NHTW Anh quyết định vay thêm một khoản khổng lồ là 20 tỉ DEM nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và bảo vệ tỷ giá cố định so với đồng DEM của đồng Bảng Anh. Không may là các lực thị trường quá mạnh, làn sóng tấn công của các nhà đầu cơ vẫn dâng lên rất cao cùng với việc NHTW Đức không muốn tung thêm đồng DEM ra thị trường ngoại hối vì muốn kìm giữ mức lạm phát trong nước đã khiến cho mọi cố gắng chống đỡ của NHTW và Chính phủ Anh bằng biện pháp can thiệp trực tiếp và thị trường ngoại hối trở nên vô hiệu.

Lạm phát của một số nước 1987-1993

Lúc này, NHTW Anh nghĩ đến biện pháp thứ hai là tăng lãi suất cho đồng Bảng. Điều này đã khiến cho canh bạc tiền tệ trở nên đắt đỏ hơn đối với các nhà đầu cơ khi mà họ vẫn sẵn sàng từ bỏ lãi suất cao cho đồng Bảng Anh để nắm giữ đồng Mark bởi lãi suất tăng quá cao lại thể hiện rõ hơn sự bất lực của Chính Phủ và NHTW Anh trong việc giải quyết khủng hoảng, càng làm tăng rủi ro cho những ai nắm giữ đồng Bảng. Chính vì vậy mà cố gắng cuối cùng của chính phủ và NHTW Anh vẫn thất bại khiến cho họ đi đến quyết định thả nổi đồng Bảng .

c. Khủng hoảng xảy ra.

Các ngân hàng trung ương cố gắng bảo vệ tỷ giá cố định, nhưng chẳng bao lâu chính phủ Anh đành buông tay và rút khỏi ERM. Đồng bảng mất giá thảm hại so với đồng Mác. Như vậy mặc dù đã nỗ lực can thiệp trên thị trường ngoại hối và nâng mức lãi suất tăng thêm 5% chỉ trong 1 ngày nhưng trước việc tập trung tấn công vào đồng Bảng của các nhà đầu cơ đã buộc nước Anh phải chấm dứt tư cách thành viên ERM vào ngày thứ 4 đen tối 16/9/1992 (Black Wednesday).

Chỉ trong một tháng, quỹ Quantum thu lợi nhuận khoảng $1 tỉ từ các hợp đồng đầu cơ giá xuống vào đồng bảng và $1 tỉ nữa từ các hợp đồng đầu cơ giá lên vào các đồng tiền châu Âu khác. Tạp chí Economist gọi Soros là “người phá sập Ngân hàng nước Anh.”

Từ đây, mọi hành động, mọi cử chỉ, lời nói của George Soros đều được hầu hết cư dân ở phố Walls và thị trường tài chính London chú ý đến bởi họ cho rằng ông là nhân vật số một trong giới tài chính của thế giới, là một người có khả năng “một tay che cả bầu trời” khi ông có thể làm mất giá bất kì đồng tiền nào hay gây ra khủng hoảng kinh tế chỉ với một vài nhận định về thị trường cho công chúng biết hay một hành động đầu tư một loại chứng khoán hay đồng tiền nào. Cũng chính vì quan niệm này của mọi người mà ông thường xuyên trở thành nhân vật bị cáo buộc là có liên quan hoặc là thủ phạm gây ra các cuộc khủng hoảng hay các bất ổn về kinh tế - tài chínhđối với các quốc gia mà ông từng đi qua, đã từng đầu tư vào, thậm chí nhiều quốc gia không cấp visa cho ông nhằm ngăn cản ông bước vào lãnh thổ nước họ để tránh những bất lợi có thể xảy ra cho đất nước.

Nguyên tắc đầu tư của George Soros.

Những kinh nghiệm đầu tư của George Soros đã chứng tỏ rằng ông là một nhà đầu tư hiểu biết uyên thâm về hệ thống tài chính quốc tế. Trung tâm trong nguyên tắc của Soros là sự khác biệt giữa hình ảnh và thực tại. Sự khác biệt lớn giữa Soros và Buffett là ở chỗ Buffett, theo đúng nguyên tắc của Graham trước đây 40 năm, tính toán - hay vẫn nói rằng ông tính toán - trên cơ sở các giá trị ẩn tàng của các tài sản, còn Soros thì đúng hơn là một nhà buôn bằng trực quan, linh cảm.

Soros2.jpga. Linh cảm của Soros.

Tại Học viện Kinh tế London, Soros đã được học về tâm lý học và cả xã hội học nữa. Ông đã ứng dụng những điều đã học vào các chiến lược đầu tư của mình khi ông cho rằng vấn đề đánh giá giá trị của cổ phiếu hay hàng hoá không quan trọng bằng đánh giá các quan niệm về một tài sản và nhận ra được thời điểm mà các tài sản hay quan niệm đó thay đổi. Và cũng chính những kiến thức về tâm lý học và xã hội học đã giúp Soros hình thành nên những nguyên tắc đầu tư cũng như những linh cảm trong kinh doanh của mình dù rằng không phải lúc nào cũng đúng khi mà ông cũng đã nếm trải không ít thất bại cay đắng.

Ông cũng cho rằng thị trường giúp định hình giá trị và quan niệm. Theo ông, giá trị không phải là một cái gì đó mà một kế toán viên lành nghề trong một công ty có thể xác định được, mà là một thực thể thay đổi, linh động hơn nhiều.

Soros đã tóm tắt lại tư tưởng của mình vào 6 giai đoạn phát triển của một trạng thái đầu tư :

* Giai đoạn thứ nhất là một xu hướng chưa được nhận ra trên thị trường.
* Giai đoạn hai là khi xu hướng trở nên rõ nét hơn. Sự sụt giá mạnh của American Express năm 1982 từ 62 USD xuống 35 USD là một ví dụ điển hình của chuyện này. Thị trường trong trạng thái lo sợ làm trầm trọng thêm xu hướng giảm giá
* Giai đoạn thứ ba là một cái test (phép thử) thành công trên thị trường. Đó có thể là một sự kiện tương tự đã xảy ra trước, với kết cục khẳng định thêm xu hướng quan sát được.
* Giai đoạn thứ tư là sự phân hóa ngày càng lớn giữa thực tại và quan niệm. Ví dụ, với những người đã chót “ôm” cổ phiếu đang có chiều hướng mất giá, họ thường tự trấn an bằng cách tìm kiếm những thông tin để củng cố quan niệm của mình (rằng cổ phiếu đang giữ sẽ lên giá).
* Cao trào là giai đoạn thứ năm, ví dụ, là những ngày “đen tối” - xảy ra hoảng loạn với cao trào bán tháo trên thị trường, và là thời cơ vàng của những nhà đầu cơ tấn công thị trường như Soros trong cuộc khủng hoảng tỷ giá bảng Anh năm 1992.
* Giai đoạn cuối cùng được Soros gọi là “hình phản chiếu ngược qua gương”, khi mà xu hướng thị trường quay ngược trở lại và giá cả phục hồi.

b. Nguyên tắc đầu tư.

George Soros là nhà đầu cơ ngắn hạn, hoạt động kinh doanh của ông mang tính trục lợi rất cao, đầu tư những khoản tiền lớn nhưng mang nhiều tính đánh bạc trên cơ sở những biến động của thị trường tài chính toàn cầu. Do đó, sau sự kiện này, nhất cử nhất động của George Soros đều thu hút sự chú ý đặc biệt của các quan chức Chính phủ và ngân hàng trung ương của tất cả các nước.

Nhiều chuyên gia kinh tế ở phố Walls cho rằng Soros là một con người kì lạ, trong khi mọi người đi bên phải, riêng Soros đi bên trái nhưng lại tỏ ra là mình đang đi đúng đường.
Trái với nhiều nhà kinh tế, học thuyết cơ bản của ông về đầu tư là thị trường tài chính - nơi bất ổn nhất. Tại đó, các mức giá cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ phụ thuộc vào người mua và người bán mà đa số họ thường hành động theo cảm tính chứ không bằng những tính toán lôgic.

George Soros cho rằng các nhà đầu tư luôn chịu tác động lẫn nhau và có xu hướng dịch chuyển theo số đông và ông cố gắng tìm để hiểu được số đông đó muốn gì, hướng đi ra sao để đến một thời điểm mà ông cho là quyết định, ông sẽ tách khỏi xu hướng chung và đi con đường riêng có lợi nhất cho mình. Cái khó đối với mỗi nhà đầu tư là nhận định được chính xác và nhanh chóng thời điểm quyết định đó sẽ đến vào lúc nào!

Nhiều người cho rằng George Soros là một kẻ liều lĩnh khi dám làm những điều mà họ cho là đi ngược lại với số đông và có thể phải gánh chịu rất nhiều rủi ro. Nhưng cả lý thuyết và thực tế đều cho thấy rằng tỉ suất sinh lợi sẽ càng cao khi rủi ro càng lớn thì một thiên tài kinh doanh đầu cơ như Soros hiểu rất rõ điều đó nên ông đã chấp nhận rủi ro và dám chịu rủi ro. Chính nguyên tắc này đã giúp cho ông vượt qua tất cả các đối thủ nặng ký tại phố Walls vào năm 1993 khi ông đạt được mức thu nhập kỉ lục 1.1 tỉ USD sau những phen đầu tư có thể làm chết ngất những người yếu tim.

Cả thế giới biết đến Soros như kẻ làm mất uy tín của một trong những đồng tiền có giá trị bậc nhất thế giới từ những quyết định bất ngờ đáng giá hàng tỷ đô la!

Mỗi một doanh nhân thành đạt đều có những nguyên tắc kinh doanh và bí quyết kinh doanh riêng cho mình. Từ những nguyên tắc trên, Soros đã vươn tới rất nhiều thành công mà không ít lần nếm trải thất bại cay đắng nhưng ông vẫn được mọi người biết đến như một nhà đầu cơ tiền tệ “vĩ đại” bậc nhất của thế giới. Những quyết định của ông thường xuất phát từ những nhận định nhạy bén về thị trường, từ những phán đoán dựa trên những nguyên tắc kinh doanh đã đặt ra và sự thực dụng của một nhà kinh doanh lão luyện. Tuy nhiên, đi kèm với những thành công của ông thường là những thất bại đau đớn của nhiều người, của nhiều chính phủ trên thế giới bởi quyết định của ông có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường tài chính quốc tế.

GEORGE SOROS LÀ MỘT ANH HÙNG HAY LÀ MỘT TỘI ĐỒ CỦA THẾ GIỚI.

GEORGE SOROS là một anh hùng của thế giới.Soros.GIF

Cho đến nay vẫn có hai trường phái trái ngược nhau nhận định về George Soros là anh hùng hay tội đồ của thế giới.

Nhóm các NHTW và các Chính phủ ở các Quốc Gia trong ERM: cho rằng ông đáng bị “xử tử” vì đã làm mất lòng tin của nhân dân và những chính sách của Chính Phủ, vì ông đã làm mất uy tín của một trong những đồng tiền có giá trị nhất trên thế giới George Soros như là một tội đồ của thế giới.

Các nhà đầu cơ, dân chúng nhìn ông với thái độ ngưỡng mộ, khâm phục và luôn dõi theo từng bước đi của ông trên thị trường, vì ông đã sữa chữa những sai lầm của Chính Phủ, Ngân hàng TƯ và giúp đồng EURO ra đời hoàn thiện và thành công hơn- George Soros như là một anh hùng.

a. George Soros xứng đáng được coi là một anh hùng.

Với sự kiện đầu cơ ngoạn mục vào năm 1992 thì G.Soros xứng đáng được coi là một anh hùng. Nhìn dưới góc độ chuyên môn để đánh giá, G. Soros thực sự là một anh hùng trong lĩnh vực của ông, một lĩnh vực đòi hỏi con người khi đã quyết tâm dấn thân vào thì phải có đầy đủ cả bản lĩnh kiến thức và lòng đam mê để đạt đến mục tiêu cuối cùng.

Việc đầu cơ làm tăng thêm hoạt động mua và bán có liên quan đến đầu cơ sẽ giúp cho việc tăng thêm “tính lỏng” hay tính “thanh khoản” cao cho thị trường.

Giúp phát hiện ra những kẽ hở và điểm yếu trong nền kinh tế của mỗi quốc gia để từ đó biết cách tự sửa chữa và hoàn thiện. việc làm của ông hiển nhiên là việc làm của một nhà đầu tư khi theo ông thời điểm sinh lợi đang tới, cho dù gây ra một hậu quả nặng nề khi đó, nhưng nhìn một cách khách, sau tai nạn đó, chính phủ và NHTW nước Anh đã nhận ra những sai sót trong chính sách của mình và giúp cho đồng Euro ra đời hoàn thiện và thành công hơn. Sự kiện này cũng giúp cho Chính Phủ các nước rút ra được bài học kinh nghiệm để tránh đi vào vết xe đổ của Anh.

b. George soros nhà hoạt động từ thiện quốc tế tích cực nhất của thế kỷ 20.

Khi giảm dần vai trò quản lý quỹ của mình xuống, Soros chuyển sang viết báo, viết sách và làm từ thiện. George Soros đã xuất bản một số cuốn sách về tài chính và vấn đề toàn cầu hóa khá nổi tiếng như The Alchemy of Finance (1987), Soros on Soros (1995), George Soros on Globalization (2002)... Ông cũng nhận được học vị danh dự từ nhiều trường đại học danh tiếng trên thế giới như Đại học Oxford, Yale, Đại học kinh tế Budapest. Những bài viết của ông rất kỳ lạ. Ông đặc biệt chỉ trích chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tư bản thái quá - cái mà ông gọi là “chủ nghĩa thị trường.” Ông cho rằng các thị trường tài chính toàn cầu không được kiếm soát vốn dĩ không vững vàng, và ông kêu gọi các quốc gia kiểm soát các thị trường tốt hơn và thành lập các tổ chức quốc tế mới kiểu như một tổ chức bảo hiểm tín dụng quốc tế để bảo lãnh nợ cho các nước đang phát triển.

Hiện mỗi năm hệ thống toàn cầu của Hiệp hội “Vì một xã hội mở” tiêu tốn khoảng 500 triệu USD cho các hoạt động nhân đạo, chương trình hỗ trợ kinh tế các nước đang phát triển. Khi đã trở thành một nhà tỷ phú, Soros bắt đầu hoạt động từ thiện và sống suy tưởng hơn. Ông được mệnh danh là nhà hoạt động từ thiện quốc tế tích cực nhất của thế kỷ 20. Nhưng Soros là một nhà từ thiện đặc sệt kiểu Mỹ, ông không tài trợ tiền vào các nhà thờ, bảo tàng... mà ông rót tiền vào những quỹ học bổng giáo dục. Ông cũng có thể cam kết rút tiền túi giúp những người nhập cư ở Mỹ 50 triệu đôla nếu ông thấy chính quyền có những chính sách không công bằng với cộng đồng người nhập cư. Soros chủ trương phát triển dân chủ trên thế giới. Mặc dù là một người Do Thái, ông không e ngại khi nói rằng ông tẩy chay Israel. Ông đã phát biểu rằng với tư cách là một người Do Thái, ông không tìm thấy niềm tin có thể khiến ông ủng hộ Israel. Soros là một người tiên phong đấu tranh vì tự do và dân chủ và ông không công nhận Israel là một nước có nền dân chủ. Tuy vậy, phần lớn những đối tác làm ăn của Soros là người Do Thái. Thêm vào đó, điều đáng chú ý là George Soros đã chi khoảng 10 triệu đôla cho một tổ chức có nhiệm vụ vận động chống lại tổng thống G.W.Bush trong cuộc bầu cử sắp tới. Trong một bản thông báo, Soros phát biểu rằng ông Bush đã lãnh đạo đất nước theo đường lối sai lầm.

Mặc dù hiện này Soros không còn đóng vai trò tích cực trong các quyết định đầu tư như trước, nhưng ông vẫn là tinh hoa trong lĩnh vực đầu tư đầu cơ quốc tế. Tên ông đồng nghĩa với các quỹ đầu tư mạo hiểm, đặc biệt là các vụ đầu cơ giá lớn. Ông bị các quan chức chính phủ, như Thủ tướng Mahathir Mohamad của Malaysia năm 1997 chẳng hạn, buộc tội là nguyên nhân dẫn đến các sức ép đầu cơ không chính đáng lên đồng tiền và thị trường tài chính nước họ. Soros tiếp tục bảo vệ các hoạt động đầu tư của mình, tuyên bố rằng ông chỉ nhận thức được những thay đổi chắc chắn sẽ xảy ra.

c. George Soros tội đồ thế giới.

Về phía công chúng Anh, đồng bảng Anh mất giá 10%. Ông đã làm mất giá một đồng tiền mạnh tỷ lệ thất nghiệp tăng lên nhanh chóng, tất cả các khoản thuế phần lớn rơi vào túi của ông ta.

Trước sự kiện “black Wednesday” khi nói đến những vật có ảnh hưởng đáng ngờ đến thị trường chứng khoán thế giới thì người đầu tiên được người ta nghĩ đến không ai khác chính là George Soros. Họ tin rằng ông có thể một tay che cả bầu trời, làm mất giá bất kỳ đồng tiền mạnh nào, thậm chí gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế. Khi thị trường chứng khoán của Nhật Bản bị đổ vỡ vào năm 1990, người ta từng cho rằng có sự liên quan, dính líu của George Soros bởi mối quan hệ khá mật thiết với Salomon Brothers. Trong vụ này, Hãng đầu tư Salomon Brothers là thủ phạm khởi động nền kinh tế bong bóng vào mùa đông năm 1989 và cũng chính hãng này làm nó đổ vỡ hoàn toàn vào năm 1990 khiến người ta cho rằng George Soros cũng chính là đồng tác giả.

Trước khủng hoảng năm 1997, giá trị đồng Baht Thái được giữ ổn định là Chính phủ Thái duy trì lãi suất cao hơn nhiều nước đồng thời tỷ giá hối đoái được duy trì cố định ở mức USD/THB = 25 nên đã thu hút được rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài.

Người ta cho rằng với 1 triệu USD có trong một ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng Trung ương Thái có thể trả được 25 triệu Baht cộng với lãi ở tỷ giá USD/THB = 25, hay thậm chí là 30 triệu Baht cùng với lãi nếu tỉ giá USD/THB = 30.

Tuy nhiên, vào khoảng giữa năm 1997, rất nhiều nhà đầu tư nhận ra tình hình bất ổn này và họ đã ào ạt bán đồng Baht để mua đô la Mỹ khiến cho khủng hoảng xảy ra. NHTW Thái đã cố gắng chống đỡ bằng cách dùng đồng USD trong quỹ dự trữ để mua Baht và nhưng vẫn không thể đáp ứng nổi nhu cầu mua này và đến ngày 2/7/1997, giá trị đồng Baht đã rớt xuống.

Người Thái tin rằng có rất nhiều người đang đầu cơ giá xuống bằng cách bán đồng Baht để mua đô la Mỹ nhằm kiếm lời và họ cũng tin rằng kẻ đầu cơ quyền lực và thành công nhất vào thời điểm đó chính là George Soros khi có nhiều cáo buộc ông có liên quan đến việc này dù không có chứng cứ nào thực sự rõ ràng. Thực sự mà nói thì bất cứ nhà đầu tư nhạy bén nào cũng có thể nhận ra giống như George Soros mà thôi.

Ví dụ: lúc đầu, ta chỉ cần đi đến ngân hàng Thái vay 25 triệu Baht trong 3 tháng rồi sẽ trả lại 25 triệu Baht này bằng 1 triệu USD( để đơn giản ta bỏ qua các khoản phí và lãi vay ngân hàng). Điều gì sẽ xảy ra nếu sau 3 tháng, tỉ giá đồng Baht không còn được giữ ở mức USD/THB=25 mà tăng lên USD/THB=30 ? ta sẽ không cần đến 1 triệu USD để trả khoản nợ này. Lợi nhuận sẽ càng gia tăng khi giá trị đồng Baht càng mất giá.

Thị trưởng thành phố Bangkok đã phải phát biểu một cách đầy tức giận: “Ông ta không biết xấu hổ khi nhìn thấy cảnh khổ sợ của chúng tôi do chính ông ta gây ra bằng những hành động đầy nham hiểm như vậy sao? Ông ta xứng đáng bị bắn vào đầu”.

Cựu thủ tướng Malaysia, Mahathir Mohamad đã gọi Soros là “quỷ dữ” và buộc tội ông là đã nhằm vào đồng Rigit của Malaysia với động cơ chính trị. Mahathir cho rằng Soros muốn trừng phạt khối ASEAN vì đã kết nạp chính quyền quân sự Myanmar.

Nạn nhân tiếp theo của George Soros bị ảnh hưởng bởi dây chuyền khủng hoảng kinh tế châu Á chính là Mỹ. Đợt sóng khủng hoảng này đã tràn đến phố Walls vào tháng 10/1997 và đã gây tâm lý lo ngại sẽ kéo theo một loạt sự sụp đổ các thị trường tài chính trên toàn cầu nên đã làm dấy lên làn sóng bán cổ phiếu tại Mỹ vào ngày 27/10. Cũng vào ngày hôm đó, chỉ số Dow Jones rơi vào một mức kỉ lục mới khi rớt 554,26 điểm, phá vỡ mức kỷ lục của “Ngày thứ hai đen tối” ở Mỹ vào năm 1987.

Danh sách các nạn nhân của George Soros vẫn được kéo dài ra cho đến nay, trong đó có nước Nga trong cuộc khủng hoảng tài chính tháng 8/1998 khi giới đầu cơ quốc tế tấn công vào đồng Rúp. Ông đã đưa ra nhưng lời bình luận không có lợi khiến ngay trong giờ đầu tiên giao dịch, chỉ số chứng khoán Nga đã tụt 12%. 5 ngày sau đồng Rúp đã mất tới 25% giá trị.

NÓI TÓM LẠI, trong tâm trí của Chính phủ một số nước thì George Soros bị coi là một kẻ phá hoại, một tên khủng bố man rợ đối với những chính sách của họ, đối với nền kinh tế và đồng tiền của các quốc gia này nhưng trong con mắt của rất nhiều người khác thì ông lại là một thiên tài về kinh doanh tài chính và là một nhà từ thiện hào phóng nhất thế giới.