
Vào năm 2010, TQ (Trung Quốc) đã chính thức trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới, vượt lên trên Nhật Bản, và đang trên đà trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới trong 1-2 thập kỷ tới.
Sự đi lên của TQ có rất nhiều hệ quả, cho thế giới. Ví dụ như, TQ sẽ thay thế Mỹ trở thành nước có ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới. Đồng tiền Nhân dân tệ của TQ sẽ trở thành một trong các ngoại tệ mạnh được dùng làm ngoại tệ dự trữ trên thế giới, trong khi vai trò của USD thì giảm đi. Nhiều nước, trong đó có VN (Việt Nam), có nguy cơ trở thành rất phụ thuộc vào TQ về kinh tế. Nhưng đồng thời, sự đi lên của TQ cũng có thể kéo VN lên theo.
Bài viết này nhằm phân tích về sự đi lên của TQ trong hơn 3 thập kỷ qua, và những vấn đề của họ, đồng thời đưa ra một số so sánh với VN, và nhằm rút ra một số bài học cho VN.
Trong bài này, tôi sẽ đề cập đến những điểm sau, mỗi điểm được trình bày trong một mục: Triết lý "mèo trắng mèo đen"; Truyền thống tiết kiệm; Sức mạnh tỷ người; Quân bài nhân công rẻ mạt; Chính sách đồng tiền yếu; Chủ nợ của thế giới; Thực dân kinh tế thế kỷ 21; Làn sóng Hoa kiều mới; Mua chuộc Đài Loan; "Lục địa hóa" Hồng Kông; Hiện đại hóa quân sự; Phát triển công nghệ; Tự do mậu dịch; Sức mạnh mềm; Vấn nạn tham nhũng; Sự xụp đổ của xã hội tiêu thụ?; Những bài học cho VN?
Triết lý mèo trắng mèo đen.
Mao Zedong (Mao Trạch Đông1) thành lập nước TQ mới (CHND Trung Hoa) vào năm 1949, và muốn đưa TQ đi theo CNCS để trở thành một cường quốc cộng sản trên thế giới, dựa trên học thuyết Marx-Lenin cộng với triết lý của Mao, lan tỏa ảnh hưởng đến toàn cầu. Thế nhưng, các chính sách «nặng mầu tư tưởng» của Mao đa làm cản trở sự phát triển của TQ. Có thể kể đến một số chiến dịch tai hại do Mao phát động như
- «Cải cách ruộng đất», 1953 (đấu tố «địa chủ», nhiều người làm ăn tử tế bị thiệt mạng)
- «Đại nhảy vọt», 1958-1961 (gây nên thảm họa kinh tế với 20 triệu người bị chết đói)
- «Cách mạng văn hóa», 1966-1971 (hủy hoại tầng lớp trí thức và nền khoa học TQ)
Một việc có lợi cho TQ mà Mao làm được là bình thường hóa quan hệ với đế quốc Mỹ, một «kẻ thù về hệ tư tưởng», vào năm 1972, với chuyến đi thăm TQ lịch sử của Tổng thống Nixon. Nhưng phải đợi đến sau năm 1976, khi Chu Ân Lai (Thủ tướng TQ) và Mao chết, và Deng Xiaoping (Đặng Tiểu Bình, sinh năm 1904)2 lên nắm quyền, TQ mới thực sự thay đổi quĩ đạo, bắt đầu giai đoạn phát triển nhanh, để từ một nước nghèo khó trở thành đại cường quốc tranh dành ngôi bá chủ thế giới với Mỹ vào năm 2010.
Đặng Tiểu Bình từng là tướng quân đội và từng làm Phó Thủ tướng dưới thời Mao, nhưng trong thời kỳ cách mạng văn hóa bị Mao buộc tội là «hữu khuynh» và bắt đi lao động cải tạo cho đến năm 1976, và con trai của Đặng Tiểu Bình thì bị thủ tiêu. Khi Mao chết, Hoa Quốc Phong lên thay đã khôi phục lại Đặng Tiểu Bình, và sau đó họ Đặng với uy tín cao đã trở thành nhà lãnh đạo cao nhất của TQ.
Trong các câu triết lý thâm thúy của Đặng Tiểu Bình, nổi tiếng nhất có lẽ là câu: Mèo trắng hay mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột. Từ lúc Đặng Tiểu Bình lên, TQ đã áp dụng triệt để triết lý «mèo trắng mèo đen», rũ bỏ các chính sách nặng màu «hệ tư tưởng» (ideology), và lập nên các chính sách «thực dụng» (pragmatic) nhằm giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm, trong đó đặc biệt là phát triển kinh tế và ổn định xã hội TQ, khiến thế giới phải nể sợ.
Một số biểu hiện cụ thể của học thuyết «mèo trắng mèo đen» là:
- Từ năm 1978, TQ bắt đầu đợt cải cách triệt để về kinh tế3. Chủ nghĩa tư bản hay kinh tế thị trường không bị coi là xấu nữa, cho phép kinh tế tư nhân, miễn sao phát triển được kinh tế.
Các hợp tác xã nông nghiệp (mô hình nông nghiệp XHCN) được xóa đi, phân lại đất cho nông dân tư hữu nhằm tăng sản lượng nông nghiệp. Vào năm 2005, khu vực kinh tế tư nhân đã chiếm đến 70% nền kinh tế TQ (tuy nhiên, cần hiểu rằng, các hãng gọi là «tư nhân» ở TQ vẫn có Nhà nước chiếm cổ phần khá lớn, hoặc/và do con cháu các vị lãnh đạo ĐCS làm chủ).
- Về mặt đối ngoại, TQ chơi với bất cứ chế độ chính trị nào, bất cứ thế lực cầm quyền nào, miễn sao điều này có lợi về kinh tế cho họ. Không còn phân biệt «địch ta» về ý thức hệ nữa. Ví dụ, khi Taliban nắm chính quyền ở Afganistan thì TQ chơi với Taliban, nhưng khi Taliban bị lật đổ và Chính phủ mới lên thay, thì TQ lại chơi ngay với Chính phủ mới, nhằm chiếm giữ quyền khai thác khoáng sản ở đó.
---
Theo triết lý mèo trắng mèo đen, thì tên gọi tư bản hay cộng sản không quan trọng, miễn sao trở thành giàu có quyền lực. Trên thực tế, ở TQ ngày nay, phần lớn các nhà tư bản của TQ là «tư bản đỏ», tức là từ ĐCS mà ra. Theo một tin của Tân Hoa Xã TQ đưa ra vào tháng 10/2006, trong số 3220 tỷ phú (tiền nhân dân tệ) tại TQ, có đến 2932 «hoàng tử đỏ», tức là con cháu của các lãnh đạo cao cấp của ĐCS TQ, chiếm 91% ! Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ở TQ tăng lên trong mấy chục năm qua, nhưng ngày nay không còn ai nói đến chuyện «đấu tranh giai cấp» nữa.
Truyền thống tiết kiệm
Truyền thống tiết kiệm của dân TQ là một yếu tố vô cùng thuận lợi cho sự nghiệp tích lũy làm giàu của họ. TQ là nước có tỷ lệ tiết kiệm cao nhất thế giới, và trong 2 thập kỷ qua tỷ lệ đó còn tiếp tục tăng lên. Nếu như vào thời điểm 1990 tỷ lệ tiết kiệm của TQ là khoảng 39%, thì con số đó tăng lên đến mức 53% vào năm 2008, tức là tư nhân và Nhà nước chỉ tiêu thụ 47% tổng tài sản làm gia, còn lại là tiết kiệm. Để so sánh, cũng quãng năm 2008, tỷ lệ tiết kiệm ở Ấn Độ đạt khoảng 30%, ở Việt Nam đạt khoảng 35%, còn ở các nước tư bản phát triển thì thấp hơn, chẳng hạn ở Pháp đạt khoảng 20%, và ở Mỹ chỉ khoảng 13%. Nếu chỉ tính tư nhân, thì tỷ lệ tiết kiệm của tư nhân (thu nhập trừ đi chi tiêu của tư nhân) ở TQ vào năm 2008 vào quãng 28%, so với các nước khác: Ấn Độ 32% (tăng lên mạnh từ mức 20% vào năm1998), Pháp 15%, Đức 11%, và ở Mỹ chỉ có hơn 2%. (Số liệu lấy từ nhiều nguồn khác nhau)4.
Country 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Australia 2 3.5 0.6 -0.5 -0.4 -0.2 1.3 1.5 1.6 4.3 2.8
Canada 4.7 5.2 3.5 2.6 3.2 2.1 3.5 2.5 3.7 5 3.8
Denmark -4 2.1 2.1 2.4 -1.3 -4.2 -2.3 -3.2 -2.4 3.2 4.9
Germany 9.2 9.4 9.9 10.3 10.4 10.5 10.5 10.8 11.2 11.3 12
Hungary 8.9 8.5 6.4 4.3 6.8 6.1 7.5 4.6 3 3.7 5.3
Italy 8.4 10.5 11.2 10.3 10.2 9.9 9.1 8.2 8.6 8.4 7.7
Japan 8.7 5.1 5 3.9 3.6 3.9 3.8 2.4 2.3 2.3 2.4
Korea 9.3 5.2 0.4 5.2 9.2 7.2 5.2 2.9 2.9 3.6 3.5
Poland 10.2 12 8.2 7.6 7.7 6.9 6.5 7.1 3.9 6.3 6.4
Switzerland 11.7 11.9 10.7 9.4 9 10.1 11.4 12.7 12.8 15.3 15
United States 2.9 2.7 3.5 3.5 3.4 1.4 2.4 1.7 2.7 4.3 3.4
Greece -6 -7.5 -8 -7.3 -7.2 -8 -7.3
Euro area 8.4 9.2 9.7 9.4 9.3 8.6 8.2 8.3 8.9
Chile 6.5 7 6.8 6.4 7.2 7.1 7.7 7.7
Estonia -3 -4 -6.5 -8.4 -11.7 -10.4 -9.6 -5.2
France 15 15.7 16.8 15.7 15.8 15 15 15.5 15.3 16.3 15.6
Portugal 10.2 10.9 10.6 10.5 9.7 9.2 8.1 6.1 6.4 8.8 6.9
UK 4.7 6 4.8 5.1 3.7 3.9 2.9 2.2 1.5 7 6.4
Bảng trên: Tỷ lệ tiết kiệm của các gia đinh (tính trên thu nhập đa trừ thuế) ở một số nước thuộc OECD trong các năm 2000-2010. (Nguồn: OECD). Những nước nào có tỷ lệ tiết kiệm thấp thì dễ suy thoái hay khủng hoảng. Ví dụ Hy Lạp gần như vỡ nợ vào năm 2010.
Các khoản tiết kiệm được thể hiện ở đâu? Nó thể hiện ở những tài sản bền vững tồn tại lâu dài và những khoản đầu tư, như nhà cửa, công ty, máy móc, khoa học và công nghệ mới, v.v., và những khoản đầu tư ra nước ngoài: các công ty ở nước ngoài, các dự trữ tài nguyên mua được của nước ngoài, các khoản cho nước ngoài vay, v.v. Tổng cộng các khoản đầu tư của TQ ra nước ngoài có thể ước lượng cỡ vài nghìn tỷ USD. Riêng các khoản TQ cho Mỹ vay (chủ yếu dưới hình thức mua trái phiếu) đã lên tới một con số khổng lồ là 1700 triệu USD vào năm 2010. Ngoài ra, TQ còn mua quyền khai thác hay mua các công ty khai thác dầu mỏ, khoáng sản, rừng, đất nông nghiệp, v.v. ở khắp mọi nơi trên thế giới, và còn mua cổ phần hay mua đứt nhiều công ty nước ngoài. Một ví dụ gần đây: hãng xe Geely của TQ, có tiếng xấu là sản xuất xe không đảm bảo độ an toàn, vào năm 2010 đa mua đứt lại hãng xe Volvo, một hãng nổi tiếng về chất lượng xe tốt. Công ty đầu tư CIC (China Investment Corporation) của Chính phủ TQ nắm trong tay 300 tỷ USD để đi đầu tư các nơi trên thế giới.
Có tiết kiệm thì mới có tiền đầu tư (mà không phải vay nợ), và tỷ lệ đầu tư cao thì tăng trưởng kinh tế nhanh. Nếu giả sử là số tiền đầu tư mới mỗi năm ở TQ tương đương với 40% GDP, và chỉ số hiệu quả đầu tư ICOR là 4 5, thì đủ để cho TQ giữ được tăng trưởng kinh tế ở mức 10%/năm. (Đây là ví dụ minh họa chứ không hẳn là con số thực tế, nhưng cho thấy ảnh hưởng của mức tiết kiệm và đầu tư trong nước đến tăng trưởng kinh tế, chưa tính đến các đầu tư của TQ ở nước ngoài mang về lợi nhuận mà không hiện lên trong GDP).
Khi có tiền tiết kiệm, dự trữ, thì nền kinh tế cũng an toàn, ổn định hơn là nếu đi vay để đầu tư và tiêu xài. Năm 2008 xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến cho nhiều nước lao đao, kinh tế đi xuống (tốc độ tăng trưởng âm) trong năm 2009. Nhưng TQ năm 2009 vẫn tăng trưởng ở mức rất cao là 8.7%, một mức mà ở nhiều nước khác lúc kinh tế thuận buồm xuôi gió nhất cũng không mơ đạt được. Đó chính là do TQ có nhiều tiền dự trữ, có thể tung ra gói kích cầu khổng lồ 600 tỷ USD vào cuối năm 2008 để kích thích kinh tế (trong khi các nước khác cũng muốn kích cầu, nhưng không có tiền để có thể làm mạnh như vậy). Khủng hoảng tài chính 2008 đã làm cho các nước «tư bản già cỗi» cũng như một loạt các nước đang phát triển yếu đi, nhưng lại làm cho TQ mạnh lên, nhờ thế mạnh dự trữ tài chính của họ.
Vì sao tỷ lệ tiết kiệm ở TQ lại rất cao? không những cao hơn rất nhiều so với các nước giàu, mà còn cao hơn nhiều so với cả các nước nghèo. Thứ nhất là truyền thống cần kiệm của người TQ: có thể làm việc rất nhiều mà không kêu ca, và có tinh thần tiết kiệm cao. Kể cả các Hoa kiều sống ở các nước giàu, có thu nhập cao, nhưng vẫn giữ thói quen tiết kiệm: nhiều khi ghế rách còn ngồi được thì vẫn dùng mãi không chịu vứt đi thay cái khác. Thứ hai là, tuy thu nhập bình quân đầu người ở TQ hiện nay đã vào loại khá, không còn là nước nghèo nữa, nhưng phân chia rất không đều: có một tỷ lệ nhỏ gười giàu lên nhanh, với mức sống không kém gì phương Tây ở các thành phố lớn; nhưng phần lớn dân số (đặc biệt là những người ở vùng nông thôn) vẫn rất nghèo và sẵn sàng lao động với mức lương rẻ mạt chưa bằng 1/10 so với mức lương phương Tây cho cùng công việc. Lực lượng đông đảo đó không có nhiều tiền để tiêu dùng, và do vậy mức tiêu dùng chung ở TQ thấp. Một lý do nữa là, đồng RMB (Nhân dân tệ) được giữ ở giá thấp so với USD góp phần làm giảm lượng tiêu thụ hàng ngoại ở TQ.
Một báo cáo của IMF (quĩ tiền tệ quốc tế) năm 20096 viết như sau: mức tiết kiệm tư nhân cao chưa chắc đã phải là điều tốt. Nó có thể là dấu hiệu của một hệ thống bảo hiểm xã hội tồi, khiến cho người dân buộc phải tiết kiệm để đề phòng lúc cơ nhỡ. Và nó cũng có thể chứng tỏ là quản lý doanh nghiệp kém, khiến cho các doanh nghiệp có thể giữ lại phần lớn lợi nhuận mà không chịu chi trả cho cổ đông.
Có những người viện vào những lý do như trong báo cáo IMF nhắc tới phía trên để coi nhẹ đi tầm quan trọng của tỷ lệ tiết kiệm cao ở Trung Quốc. Họ còn cho rằng nước Mỹ, một nước hiện có mức tiết kiệm vào loại thấp nhất thế giới, nếu tăng tiết kiệm lên sau đợt khủng hoảng tài chính 2008 thì sẽ chậm phục hồi kinh tế sau khủng hoảng (?!). Tuy nhiên, tỷ lệ tiết kiệm sụt giảm ở Mỹ trong suốt mấy thập kỷ qua (nhân dân «được» thúc đẩy tiêu dùng quá nhiều, quá khả năng, theo kiểu «xã hội tiêu thụ») chính là một trong các nguyên nhân chính dẫn đến sự giảm sút thế lực kinh tế của Mỹ so với thế giới, nợ nước ngoài và thâm thụt cán cân thương mại trầm trọng của Mỹ trong những năm qua. Nếu Mỹ vực kinh tế dậy bằng cách tiếp tục kích thích tiêu pha quá khả năng, không tiết kiệm (như lời khuyên của một số nhà kinh tế), thì chỉ là đào hố sâu thêm cho mình.
Đối với các nước đã phát triển, vẫn phải giữ một tỷ lệ tiết kiệm tương đối (ví dụ như Pháp và Đức, với tỷ lệ tiết kiệm tương đối lớn), mới giữ được sự phát triển bền vững. (Thu nhập ít nhưng chi phí thấp, có nhiều của cải dự trữ thì cuối cùng vẫn giàu hơn là thu nhập cao nhưng chi phí cao, không có dự trữ). Muốn phát triển nhanh, từ nghèo khó trở nên giàu có, thì phải tiết kiệm nhiều. TQ hiểu rất rõ vấn đề này.
Trong những năm tới, khi hàng hóa TQ trên các thị trường quốc tế đã bão hòa, TQ sẽ buộc phải tăng tiêu thụ nội địa nếu muốn tiếp tục phát triển sản suất, không thì tất yếu sẽ dẫn đến khủng hoảng thừa. Điều này kéo theo là mức tiết kiệm của TQ sẽ phải giảm dần đi. Đến lúc mà TQ đạt thu nhập bình quân đầu người ngang bằng với các nước giầu hiện nay, thì tỷ lệ tiết kiệm cũng sẽ phải giảm đến một «mức tiết kiệm theo nguyên tắc vàng» (golden rule saving rate)7
Sức mạnh tỷ người.
Vào năm 2010, nước TQ có 1.340 triệu người, đông nhất thế giới, và bằng 20% của toàn thế giới. «Sức mạnh tỷ người» này là một lợi thế lớn của TQ trên trường quốc tế. Với dân số đông gấp hơn 4 lần Mỹ, chỉ cần đạt mức thu nhập bình quân đầu người bằng 1/4 Mỹ cũng sẽ đủ để TQ vượt lên trên Mỹ thành nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Đối với các doanh nghiệp xuyên quốc gia (multi-national), thì thị trường TQ là quá lớn để mà có thể bỏ qua, và doanh nghiệp nào cũng mơ ước chiếm lĩnh được thị trường này. Bởi vậy từ khi cải cách kinh tế và mở cửa với Tư bản vào năm 1978 và thiết lấp các «vùng kinh tế đặc biệt»8 (đấy là những vùng mà nước ngoài được đầu tư trực tiếp, với các luật lệ ưu đai tự do hơn các vùng còn lại) từ những năm 1980, TQ đã không khó khăn gì trong việc thu hút đầu tư của tư bản nước ngoài.
Biết được lợi thế thị trường lớn của mình, nên TQ có thế mạnh trong đàm phán thương mại với nước ngoài. Thông thường, để vào được thị trường TQ, các hãng phải nhân nhượng về chuyện chuyển giao công nghệ cho TQ, và lắp đặt sản phẩm tại TQ. Ví dụ, đi kèm thỏa thuận mua máy bay A320 của Airbus, TQ đạt được thỏa thuận lắp máy bay đó tại TQ, trong một công ty với 49% vốn thuộc về TQ. Chiếc A320 đầu tiên sản xuất tại TQ đa ra lò năm 2009
Thị trường nội địa lớn cũng giúp cho các công ty TQ, đặc biệt là trong các lĩnh vực cần có «economy of scale», dễ tồn tại và phát triển. Tất nhiên, dân số đông quá thì không những chỉ có lợi, mà cũng có thể có hại, vì bùng nổ dân số kéo theo nhiều vấn đề về xã hội và môi trường, và đông dân quá thì không đủ của cải và tài nguyên thiên thiên để mà thỏa mãn các nhu cầu. Chính phủ TQ cũng nhận thấy là nước họ đa đông dân đến mức báo động, và trong nhiều năm kể từ 1979 áp dụng khắt khe chính sách «1 con» nhằm hạn chế tăng dân số. Theo ước tính, chính sách 1 con đã làm bớt đi 250 triệu lượt sinh đẻ ở TQ trong quãng thời gian từ 1979 đến 2000 (tức là nếu không có chính sách này, thì dân số TQ sẽ còn tăng thêm 250 triệu người nữa)10. Nếu như trong vòng 50 năm 1950-2000 dân số TQ tăng hơn gấp đôi, từ 550 triệu lên hơn 1200 triệu, thì dự kiến trong giai đoạn 2000-2050 dân số TQ sẽ chỉ còn tăng thêm khoảng 10%, và có nhiều khả năng giảm đi kể từ 2030.

Không nhất thiết phải đông dân mới lợi thế và phát triển được, mà còn phụ thuộc vào tổ chức nội bộ tốt và đối ngoại khôn khéo. Ví dụ, Thụy Sĩ chỉ có 8 triệu dân nhưng là một trong các nước giàu có và hạnh phúc nhất thế giới. Nhưng dù sao, đất rộng người đông hơn các nước khác là một lợi thế không nhỏ trong các quan hệ đối ngoại, nếu như giữ được đất nước thống nhất và chính quyền Trung ương mạnh. Cái mà TQ sợ là đất nước «chia 5 xẻ 7», như đã từng xảy ra trong lịch sử TQ, sẽ làm TQ yếu đi. Chính vì điểm này nên TQ nhất quyết không muốn Đài Loan hay Tây Tạng độc lập. Cũng chính vì đoàn kết là sức mạnh nên TQ dùng chính sách chia để trị trong quan hệ đối ngoại, chia rẽ các nước hay các miền của một nước để ngăn không cho các đối thủ của mình mạnh lên nhiều. Chuyện đàm phán với các nước ASEAN về Trường Sa - Hoàng Sa là một ví dụ: TQ đoi đàm phán tay đôi với các nước chứ không đàm phán đa bên, vì nếu các bên kia thỏa thuận đoàn kết được với nhau thì làm yếu thế TQ.
2. Con bài nhân công rẻ mạt
Không ai có thể cạnh tranh nổi với TQ về chi phí lao động, kể cả các nước đang phát triển khác, vì TQ hiện có hàng trăm triệu lao động dôi dư ở nông thôn, sẵn sàng chấp nhận các công việc nặng nhọc với mức lương thấp.
Các vùng nông thôn Trung Quốc (TQ) cung cấp một lực lượng nhân công rẻ mạt khổng lồ: ước tính có khoảng 250 triệu người nông dân TQ không có việc ở nông thôn, trong đó có 140 triệu đi làm “culi” ở các nơi, còn 110 triệu “lực lượng dự trữ” có thể huy động được (*). Ở vùng quê của họ rất nghèo, nên các nhân công này sẵn sàng chấp nhận các công việc nặng nhọc với mức lương thấp (hiện lương trung bình quãng 200 USD/ tháng, chưa bằng 1/10 so với ở nhiều nước phương Tây).
Tất nhiên, hàng trăm triệu nhân công nghèo khó của TQ muốn được hưởng lương cao hơn, chế độ bảo hiểm xã hội và điều kiện lao động tốt hơn. Nhưng ở nông thôn không có việc làm, còn đói khổ hơn là đi làm “culi” ở thành phố, nên họ lép vế và đành chấp nhận mức lương rẻ mạt, điều kiện làm việc căng thẳng, và chế độ bảo hiểm hầu như không có gì, trong nền “kinh tế thị trường” ở TQ. Các doanh nghiệp không vội vàng gì tăng lương cho nhân công vì muốn giữ thế cạnh tranh và lợi nhuận, và nhà nước TQ cũng không vội vàng gì trong việc can thiệp đòi tăng quyền lợi của nhân công, vì nhân công rẻ mạt là lợi thế của TQ. Lương của nhân công TQ có tăng trong những năm qua, nhưng tăng chậm hơn so với tăng trưởng kinh tế, và vẫn sẽ còn thấp hơn hàng chục lần so với các nước phương Tây trong những năm tới.
Theo một con số chính thức của chính phủ TQ, thì lương tháng trung bình của công nhân ở TQ trong giai đoạn 2002-2007 tăng lên từ 700 nhân dân tệ thành 1.400 nhân dân tệ (khoảng 200 USD theo tỷ giá hiện tại) tuy nhiên theo một số quan sát viên thì con số tăng trưởng hai lần này có phần phóng đại.
Không ai có thể cạnh tranh nổi với TQ về chi phí lao động, kể cả các nước đang phát triển khác. Bởi vậy hàng loạt các hãng nước ngoài, từ nhỏ đến lớn, đã di chuyển khâu sản xuất sang TQ, và TQ nghiễm nhiên trở thành “xưởng sản xuất của thế giới”: nguyên nhiên vật liệu được nhập từ các nơi về TQ, chế biến ra hàng hóa tại TQ, rồi lại được xuất lại sang các nước khác.
Đài Loan, trung tâm sản suất đồ điện tử bán dẫn cho toàn thế giới trong những thập kỷ cuối của thế kỷ 20, cũng đã chuyển đến 80% khâu sản xuất sang Trung Quốc. Các nước giàu dịch chuyển phần sản xuất sang nhiều nước nghèo, trong đó có cả Việt Nam, chứ không chỉ riêng TQ. Và các doanh nghiệp lớn nước ngoài cũng không muốn bị phụ thuộc vào một nguồn sản xuất duy nhất là TQ, mà muốn chia bớt sản xuất ra các nước khác để giảm rủi ro.
Tuy nhiên, TQ chiếm vị thế áp đảo hơn hẳn các nước khác trong sản xuất hàng tiêu dùng. Ngay tại Việt Nam cũng tràn ngập hàng hóa sản xuất tại TQ, lấn chiếm hàng nội địa, gây khó khăn cho sản xuất nội địa. Các nước đang phát triển khác cũng rơi vào tình trạng tương tự như VN, với hàng giá rẻ của TQ tràn ngập thị trường. Và các nhà máy phải đóng cửa vì không cạnh tranh nổi về giá với TQ.
Nhân công rẻ mạt ở TQ có lợi và có hại cho ai?
- Nước TQ được lợi, vì nhờ đó mà trở thành “xưởng sản xuất của thế giới”, nắm bắt được công cụ sản xuất và công nghệ, tạo việc làm cho dân chúng và phát triển kinh tế. Các thế lực lãnh đạo chính trị (cộng sản) và doanh nghiệp (tư bản) TQ nhờ đó lợi theo.
- Tầng lớp dân nghèo ở TQ thì được lợi về tuyệt đối (có việc làm, và thu nhập cũng có tăng dần lên), nhưng thiệt thòi về tương đối ở TQ, vì thu nhập của họ tăng chậm hơn so với tăng trưởng trung bình ở TQ, và khoảng cách chênh lệnh về kinh tế giữa tầng lớp dân nghèo và tầng lớp cộng sản--tư bản ngày càng cao.
- Các chủ tư bản của các doanh nghiệp nước ngoài được lợi, vì bóc lột được dân công TQ với giá rẻ, giảm chi phí, tăng lợi nhuận.
- Công nhân lao động ở các nước khác thì bị thiệt hại vì mất việc làm, hàng loạt nhà máy đóng của. Chỉ riêng ở Pháp, theo thống kê đã có khoảng 700 nghìn người mất việc làm vì TQ.
Nếu tính toàn thế giới thì con số này sẽ lên đến hàng chục triệu hay thậm chí hàng trăm triệu. Ở những nước đã trở nên “hoàn toàn phụ thuộc” vào TQ như Kazakhstan, có đến trên 80% hàng tiêu dùng là nhập từ TQ, còn các nhà máy thì đóng cửa.
- Đối với các nước ngoài, thì việc di chuyển quá nhiều khâu sản xuất sang TQ có hại nhiều hơn là có lợi, và có thể lợi trước mắt nhưng hại về lâu dài. Tuy là di chuyển sản suất kéo theo giá thành giảm đi, người tiêu dùng được lợi (và TQ khoe là làm tiết kiệm được cho người tiêu dùng ở Mỹ đến 600 tỷ USD trong giai đoạn 1996-2003), nhưng những người thất nghiệp thì không làm ra của cải cho xã hội và xã hội (tức là cũng chính những người tiêu dùng) phải nuôi. Khi di chuyển quá nhiều sản xuất chế biến ra nước ngoài, thì cái phần của cải bị hụt đi, không làm ra đó, còn nhiều hơn là phần tiết kiệm được, nên tổng cộng lại là có hại. Đứng về mặt quốc gia, di chuyển sản suất ra nước ngoài có lợi nếu như ở trong nước tạo ra được nhiều việc làm cao cấp hơn thay thế cho công việc sản xuất, và nhân dân trình độ tăng lên kịp để làm được các công việc mới đó.
Nhưng trên thực tế, ngay tại các nước đã phát triển, một lượng lớn người không đủ trình độ để làm các công việc cao cấp hơn là làm công nhân, và cũng không có đủ việc cao cấp hơn để làm. Tại sao việc di chuyển phần lớn sản suất sang TQ gây thiệt hại cho nhiều nước về phương diện quốc gia (gây thất nghiệp và hủy hoại nền công nghiệp) nhưng người ta vẫn “nhắm mắt” làm? Đó là vì tư bản luôn chạy theo lợi nhuận trước mắt, và ích kỷ chỉ cần biết lợi cho mình không cần biết hại đến xung quanh ra sao (dù rằng khi môi trường xung quanh mình bị hại, thì cuối cùng mình sẽ bị hại theo). TQ đã dùng miếng mồi “lợi trước mắt” để câu cả thế giới. Chính sách kinh tế xã hội của các nước thì có lỗ hổng, gây mâu thuẫn quyền lợi giữa đất nước và doanh nghiệp (di chuyển toàn bộ sản xuất ra nước ngoài thì có hại cho đất nước nhưng có lợi cho doanh nghiệp) nên đã không ngăn chặn được xu thế này.
3.Chính sách đồng tiền yếu
Trong ba thập kỷ qua, TQ đã giữ chính sách đồng tiền yếu, và chính sách này đã góp phần làm cho hàng hóa TQ tràn ngập thế giới, còn hàng nhập khẩu cho tiêu dùng ở TQ thì ít, và thặng dư thương mại (trade surplus) của TQ lên đến 200-300 tỷ USD/năm.
Thông thường, các nước giàu thì có đồng tiền mạnh, còn các nước nghèo hay đang phát triển thì có đồng tiền yếu. Từ mạnh ở đây có nhiều nghĩa:
1) Ổn định, không bị mất giá nhanh hay lạm phát cao, thuận lợi cho việc dùng làm công cụ tích trữ tài sản.
2) Được nhiều người nước ngoài chấp nhận, có thể dễ dàng thanh toán bằng tiền này khi ở nước khác hoặc trên các thị trường quốc tế.
3) Giá hối đoái cao so với các đồng tiền khác, tính theo chỉ giá sinh hoạt. Ví dụ như 100 EUR ở Việt Nam thì sẽ mua được nhiều dịch vụ và hàng hóa nhu yếu phẩm hơn là 100 EUR ở châu Âu, và có nghĩa là EUR mạnh hơn VND theo nghĩa thứ 3).
Nước nào nghèo thì đồng tiền của nước đó sẽ yếu theo nghĩa 1) vì kinh tế chưa ổn định, dễ bị lạm phát cao; theo nghĩa 2) vì niềm tin của mọi người vào đồng tiền của nước đó thấp và theo nghĩa 3) vì nghèo thường gắn liền với lạc hậu về công nghệ và chỉ có nhiều lao động thô, nên các loại hàng hóa dịch vụ chỉ cần lao động thô thì rẻ còn các đồ công nghệ cao phải nhập khẩu thì đắt. Hơn nữa, đồng tiền phải yếu (theo nghĩa thứ 3), thì mới có thể cạnh tranh về giá và xuất khẩu được (thường là những đồ công nghệ thấp) ra thị trường thế giới. Ngoài ra, đồng tiền yếu làm hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng (vì đồ ngoại đắt khiến ít người mua), góp phần làm giảm thâm hụt hoặc tăng thặng dư cán cân thương mại.
Trong ba thập kỷ qua, TQ đã giữ chính sách đồng tiền yếu, và chính sách này đã góp phần làm cho hàng hóa TQ tràn ngập thế giới, còn hàng nhập khẩu cho tiêu dùng ở TQ thì ít, và thặng dư thương mại (trade surplus) của TQ lên đến 200-300 tỷ USD/năm.
Vào thời điểm tháng 8/2010, tỷ giá USD/RMB (đồng nhân dân tệ, phiên âm tiếng Anh là Renmimbi) là 1USD = 6,77RMB, nhưng theo các phân tích kinh tế, tỷ giá này phải xuống thành 1USD = 3RMB hoặc thấp hơn nữa (tức là đồng RMB phải lên giá hơn nữa so với USD) thì Mỹ và các nước khác mới có thể cân bằng lại cán cân thương mại với TQ.
Đồng RMB của TQ khi mới xuất hiện vào năm 1948 được cố định tỷ giá là 2,46RMB = 1USD (1), và tỷ giá đó được giữ trong nhiều năm. Trong những năm 1970, thậm chí RMB còn lên giá so với USD thành quãng 1,5 RMB = 1 USD vào năm 1980. Nhưng cùng với sự mở cửa kinh tế, TQ đã phá giá dần RMB so với USD trong suốt nhiều năm để tăng khả năng cạnh tranh, và đến 1994 thì tỷ giá USD/RMB là 1USD = 8,62RMB. Sau đó TQ cố định lại tỷ giá 1USD = 8,27RMB trong giai đoạn 1997-2005.
Từ 2005, sau khi bị Mỹ thúc ép liên tục, TQ mới thả lỏng bớt đồng RMB, để cho nó lên giá một chút so với USD. Vào tháng 6/2010 Ngân hàng Trung ương TQ tuyên bố sẽ thả lỏng hơn đồng RMB. Nước nào có cán cân thương mại bị thâm hụt nhiều, nợ nước ngoài cao, thì các lực kinh tế đẩy đồng tiền phải yếu đi (theo nghĩa thứ 3) cho cân bằng lại. Ví dụ, sau một thời gian dài thâm thụt cán cân thương mại nặng với Nhật Bản, Mỹ đã ép Nhật Bản phải nâng tỷ giả đồng Yên lên 100% so với USD trong giai đoạn 1985-1988 (từ quãng 250 Yên = 1 USD lên thành 125 Yên = 1 USD (2).
Tình hình của TQ hiện tại cũng tương tự như Nhật Bản năm 1985, bởi vậy nhiều khả năng TQ sẽ bị áp lực làm tăng giá đồng RMB, dù rằng chính phủ TQ không thích chuyện này và tìm mọi cớ để “kháng cự”. Triển vọng tỷ giá hối đoái 1USD = 3RMB chắc còn xa, nhưng nhiều khả năng là RMB sẽ lên giá so với USD trong những năm tới.
Về lý thuyết, RMB vẫn đang là đồng tiền yếu theo nghĩa thứ 2, vì nó chưa được dùng phổ biến làm tiền dự trữ của các nước khác (trừ một số nước lân cận như Mông Cổ, Bắc Triều Tiên). Thế nhưng, RMB hiện đã là đồng tiền mạnh theo nghĩa thứ nhất (có khi còn ổn định hơn USD), và theo dự đoán thì trong tương lai không xa cũng sẽ mạnh theo nghĩa thứ 2.
Bản thân TQ hiện cũng không hài lòng về việc đồng USD được sử dụng làm tiền dự trữ trên thế giới lấn át các đồng tiền khác, và muốn thay thế USD bằng một rổ các đồng tiền mạnh (trong đó ắt hẳn sẽ có phần của RMB) để làm thành một “đồng tiền quốc tế”. (Ý muốn này của TQ là hoàn toàn đúng đắn về lý thuyết kinh tế, vì nó làm tăng ổn định cho dự trữ ngoại tệ).
Nếu so sánh giữa RMB và VND, ta có thể thấy rằng VND yếu hơn RMB theo nghĩa thứ nhất và thứ hai, nhưng có khi lại mạnh hơn RMB theo nghĩa thứ 3?! Lạm phát của VN ở mức khá cao (10-20%) trong những năm vừa qua trong khi tỷ giá hối đoái USD/VND (hay giữa các đồng tiền mạnh khác và VND) có tăng nhưng chậm hơn nhiều. Điều đó có nghĩa là VND tăng giá so với các đồng tiền khác sau khi đã trừ đi lạm phát, hay nói cách khác, VND mạnh lên theo nghĩa thứ 3. Điều này không có vẻ có lợi cho cán cân thương mại của VN, và một phần giải thích vì sao VN cạnh tranh kém TQ?
------------
* Bài phân tích này được viết sau khi tôi đọc cuốn sách «Le Vampire du Milieu: Comment la Chine nous dicte sa loi» của hai tác giả Philippe Cohen (Tổng biên tập tạp chí Marianne của Pháp) và Luc Richard (một nhà viết bình luận đã sống 10 năm qua ở TQ), xuất bản ở Pháp năm 2010. Quyển sách đó có rất nhiều thông tin thú vị và cập nhật (cho đến năm 2010) về TQ, và tôi có trích dẫn lại nhiều tin đó trong bài viết này, kể cả những chỗ không ghi cụ thể là có trích từ sách. Tuy nhiên, về mặt phân tích thì tôi không theo hai tác giả này (mà tôi cho là quá lo sợ và nghi kị TQ), và muốn có cái nhìn khách quan hơn về TQ. Để viết bài này, tôi có tham khảo thêm nhiều tài liệu khác về TQ.
4.Chủ nợ của thế giới.
Các nước khi còn nghèo, muốn phát triển thì thường phải vay nợ nước ngoài để đầu tư vì thiếu vốn. Sự phát triển đi kèm vay nợ, và sau đó thì phải trả nợ, chia bớt một phần lợi nhuận của mình cho chủ nợ hoặc chủ đầu tư nước ngoài. Khi mà vay nợ quá nhiều, thì có thể dẫn đến mất ổn định và khủng hoảng kinh tế tài chính nếu không có đủ khả năng trả nợ. Ví dụ khủng hoảng tài chính trên thế giới thì rất nhiều, hầu như không một nước đang phát triển nào mà không từng bị. Ngay một nước được coi là «đã phát triển» như Hy Lạp cũng bị khủng hoảng tài chính vào năm 2010 khi mà nợ chính phủ quá nhiều. Chính phủ Mỹ, tuy chưa đến mức có nguy cơ phá sản, những cũng đang rất nan giải với bài toán nợ nước ngoài. Việt Nam, với tỷ lệ nợ nước ngoài khá cao và thâm hụt cán cân thương mại hàng năm, cũng luôn bị mối đe dọa khủng hoảng tài chính rình rập.
Điểm đặc biệt khiến cho TQ khác hẳn các nước khác trong giai đoạn phát triển, là TQ phát triển mà không cần vay nợ, không những thế lại còn thành chủ nợ của cả thế giới! (Đây thực sự là một «nghịch lý», vì giầu như Mỹ thì là con nợ, còn nghèo như TQ thì lại là chủ nợ). Đó là do TQ tiêu dùng ít (tiết kiệm cao), và luôn xuất siêu. Khả năng xuất siêu của họ dựa trên nhân công rẻ mạt (khiến giá thành rẻ), tiêu dùng ít (kéo theo nhập khẩu hàng tiêu dùng ít, chủ yếu nhập đồ thô để chế biết rồi xuất lại), và các thủ đoạn chiếm lĩnh thị trường (hứa cho vay, chào giá rẻ hơn đối thủ, mua chuộc những người có quyền quyết định ở nước ngoài, v.v.). Trong những năm gần đây, thặng dư thương mại (trade surplus) của TQ nằm ở mức 200-300 tỷ USD/năm.
Cộng các khoản tiền thặng dư này lại qua nhiều năm, TQ đã có được trữ ngoại tệ ở mức khổng lồ 2,4 nghìn tỷ USD vào đầu năm 2010 (gấp 24 lần GDP của Việt Nam !), chủ yếu dưới dạng tiền cho các nước khác vay, trong đó khoảng 70% (quãng 1,7 tỷ USD) là cho Mỹ vay, trong đó chính phủ liên bang của Mỹ vay gần 800 tỷ. Với «khoản tiền thừa» khổng lồ này, TQ ở vào vị thế mạnh, «rủng rỉnh» săn lùng các cơ hội đầu tư ở các nơi, và mua chuộc các nước bằng các lời hứa cho vay để đổi lấy các hợp đồng lớn và các nhượng bộ về thương mại khác, ví dụ như quyền khai thác các khoáng sản. Đặc biệt, khi mà khủng hoảng tài chính xảy ra năm 2008, lại là cơ hội để TQ mua được nhiều tài sản lớn trên thế giới với giá rẻ, và nhiều chính phủ gặp khó khăn về tài chính đã phải «ngửa tay» nhận «giúp đỡ» của TQ, với cái giá phải trả là để cho TQ xâm chiếm thị trường hoặc khai thác tài nguyên của họ.
Một ví dụ là, năm 2009, TQ đã thắng đấu thầu 2 hợp đồng xây dựng lớn cho tuyến đường cao tốc ở Balan, với giá đấu thầu 310 triệu EUR. Không những giá đấu thầu này của TQ rẻ hơn đến 25% so với giá đấu thầu của các đối thủ khác, mà các công ty TQ tham gia đấu thầu còn cho chính phủ Balan vay một khoản 100 triệu EUR ứng trước. Tất nhiên, để thực hiện được hợp đồng xây dựng với giá rẻ hơn hẳn các đối thủ của mình, TQ lôi toàn bộ từ kỹ sư đến công nhân giá rẻ mạt của họ sang xây dựng thay vì sử dụng người địa phương. Ngay ở những nước còn nghèo và có tỷ lệ thất nghiệp cao như Algeria (trên 30% vào đầu những năm 2000), khi nhà thầu xây dựng TQ trúng thầu (và họ luôn trúng thầu), họ cũng chỉ sử dụng nhân công TQ rẻ mạt chứ không chia việc cho người bản xứ.
1 Vì các tư liệu tôi tham khảo chủ yếu là nguồn nước ngoài, nên sẽ dùng phiên âm nước ngoài của các danh từ riêng tiếng TQ, từ nào mà tôi biết phiên âm Hán-Việt thì sẽ chú thích thêm phiên âm Hán Việt vào.
2 Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/Deng_Xiaoping
3 Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/Chinese_economic_reform
4 Xem thêm chi tiết về tỷ lệ tiết kiệm ở TQ: Xinhua He, Yongfu Cao, Understanding high saving rate in China,
5 ICOR = incremental capital output ratio. ICOR = 4 tức là cần đầu tư thêm 4 đồng để tăng sản lượng hàng năm thêm 1 đồng. ICOR càng thấp thì hiệu quả đầu tư càng cao. Đài Loan từng đạt ICOR 3, TQ có ICOR > 4 trong những năm gần đây, còn VN có ICOR > 5.
6 Olivier Blanchard and Gian Maria Milesi-Ferretti, Global Imbalances: In Midstream?, IMF Staff position note, 22/12/2009.
7 Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/Golden_Rule_savings_rate
8 Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/Special_Economic_Zones
9 Xem: http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A2m_Quy%E1%BA%BFn
10 Xem: http://news.bbc.co.uk/2/hi/asia-pacific/941511.stm
GS: Nguyễn Tiến Dũng
Nguồn: Tiasang.com.vn