Việt Nam mới chuyển sang kinh tế thị trường gần đây sau nhiều thập niên chiến tranh và nỗ lực xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Cho nên cũng dễ hiểu, giáo dục đại học Việt Nam lạc hậu hơn nhiều quốc gia láng giềng như Thái Lan và Malaysia, và còn một chặng đường rất dài phía trước mới có thể tiến đến trình độ của Singapo Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản. Trong bối cảnh này, một phân tích so sánh về năng lực nghiên cứu của các quốc gia trong khu vực Đông và Đông Nam Á (gọi chung là Đông Á) dựa trên CBQT sẽ giúp chỉ ra con đường phát triển mà Việt Nam cần xem xét khi tiến hành công cuộc cải cách giáo dục đại học hiện nay (Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005).
Dưới đây, CBQT chỉ bao gồm những bài báo (article) được phản biện đồng nghiệp và có mặt trong cơ sở dữ liệu Thomson-Reuters của Viên Thông tin quốc tế ISI (http://isiwebofknowledge.com), và có thể truy cập theo địa chỉ http://db.vista.gov.vn/. Dựa trên cơ sở dữ liệu trên có thể đưa ra một bức tranh tổng thể về năng lực nghiên cứu của 11 quốc gia Đông Á xét theo các tiêu chí như số lượng và tốc độ tăng trưởng CBQT, lượng trích dẫn và phần đóng góp của tác giả trong nước so với tác giả nước ngoài, số CBQT trong từng lãnh vực nghiên cứu v.v... Số lượng CBQT và lượng trích dẫn tính trên 01 triệu dân dược sử dụng như một chỉ số về năng lực khoa học quốc gia, từ đó có thể xem xét mối quan hệ tiềm năng giữa đầu ra nghiên cứu khoa học và phát triển kinh tế xã hội.
Trong phần minh họa, chúng tôi sẽ so sánh hoạt động nghiên cứu của các trường đại học hàng đầu ở Việt Nam và Thái Lan, từ đó sẽ thấy khoảng cách còn khá xa giữa đại học Việt Nam với các nước khác trong khu vực.
1. Năng suất nghiên cứu khoa học quốc gia
Năm 2008, số CBQT của các quốc gia Đông Á dao động từ 607 ở Philipin đến 94766 ở Trung Quốc. Nhật Bản, nước đông dân thứ hai trong khu vực đứng thứ hai với 64039 CBQT. Để có thể so sánh năng lực nghiên cứu giữa các nước với nhau, chúng ta sẽ xét số CBQT trên một triệu dân, chỉ số này được gọi là năng suất nghiên cứu quốc gia - NSNCQG.
Hình 1 cho thấy NSNCQG của các nước tăng trưởng với tốc độ khá ổn định. Việt Nam, Thái Lan và Malaysia có tốc độ tăng trưởng nhanh, khoảng 15-16% hàng năm, song số CBQT trên một triệu dân của Việt Nam vẫn thấp hơn Thái Lan 6,5 lần và Ma lai xia 9.5 lần. Tuy nhiên, Việt nam lại cao hơn Indonesia 3 lần; và từ năm 2004 đã vượt qua Phi li pin, nước có tốc độ tăng trưởng hàng năm chỉ ở mức 5,7%. Trung Quốc tăng trưởng nhanh nhất, khoảng 20% /năm; họ đã vượt qua Thái Lan và chuẩn bị đuổi kịp Ma lai xia. Trong khi đó, các nền kinh tế tiên tiến có NSNCQG cao nhất trong khu vực lại tăng trưởng chậm hơn, như Hàn Quốc, Đài Loan, và Singapore; khoảng 9-11% hàng năm; Hồng Kông: 5%/năm và Nhật Bản: 1%/năm
Singapo dẫn đầu khu vực về NSNCQG, cao hơn Thái Lan, Việt Nam và Indonesia lần lượt là 30, 170 và 530 lần, Tiếp theo là Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông và Nhật Bản (Hình 1). Indonesia, Philipin và Việt Nam tạo thành nhóm các nước có NSNCQG thấp nhất trong vùng, cả ba còn phải trải qua một chặng đường dài phía trước để đạt tới trình độ hiện nay của Thái Lan, Trung Quốc và Ma lai xia. Nhưng đến lượt các nước này vẫn còn cách xa nhóm các nước phát triển nhất bao gồm Singapo, Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Khoảng cách về NSNCQG nói trên phản ảnh trình độ phát triển kinh tế xã hội rất khác nhau trong khu vực. Trên thực tế, NSNCQG tương quan mạnh với bình quân GDP (hình 1) và mạnh hơn với Chỉ Số Phát triển Con Người – HDI (UNDP, 2006), một chỉ số tích hợp các tiêu chí được quy chuẩn thống nhất bao gồm bình quân GDP, tỉ lệ người biết chữ, số trẻ em được đi học và tuổi thọ. Đặc điểm này cho thấy nghiên cứu khoa học có vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạo nên năng lực đổi mới quốc gia (national innovation capability), một mục tiêu không những đặt ra với các nền kinh tế phát triển mà cả với các nước đang phát triển chủ yếu dựa vào nội địa hóa các công nghệ nhập ngoại (Bernardes và Albuquerque, 2003; Liên hợp quốc, 2005).
2. Chất lượng nghiên cứu
NSNCQG, như cách định nghĩa trên đây, không nói lên chất lượng các CBQT vốn rất khác nhau không chỉ giữa các tạp chí có mặt trong cơ sở dữ liệu ISI, mà ngay cả giữa các bài báo trong cùng một tạp chí căn cứ trên số lần trích dẫn (citation) của từng bài báo. Cần lưu ý số lần trích dẫn nhiều hay ít còn phụ thuộc vào lãnh vực nghiên cứu, nên ta không nên căn cứ vào đây để so sánh chất lượng các CBQT thuộc những lĩnh vực khoa học khác nhau. Chỉ đối với các cơ sở nghiên cứu đa ngành, hoặc các quốc gia, thì số trích dẫn trung bình mới có thể xem như một tiêu chí đáng tin cậy nhất nói lên chất lượng nghiên cứu của cả tổ chức ấy. Chính vì thế mà số trích dẫn trung bình được xem như một trong các chỉ số nói lên chất lượng nghiên cứu khoa học quốc gia (King, 2004), và được sử dụng để xếp hạng các trường đại học đẳng cấp quốc tế (SJTU, 2008; THES, 2008).
Hình 1. Năng suất nghiên cưú khoa học quốc gia của 11 nước trong khu vực Đông Á tính theo số công bố quốc tế trên một triệu dân .
Hình 2. Tương quan mạnh giữa NSNCQG với bình quân GDP. Dữ liệu năm 2004.
Số trích dãn trung bình có thể truy cập được từ cơ sở dữ liệu ISI đối với các nước có số CBQT hàng năm ít hơn 10,000. Đối với các nước có số CBQT lớn hơn như Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc, thông tin này không thể rút ra được từ cơ sở dữ liệu ISI, nên chúng tôi phải tính nó bằng cách lấy mẫu ngẫu nhiên (random sampling), số lần lấy mẫu phải đủ lớn để bảo đảm sai số tương đối chuẩn thấp hơn 5%. Kết quả được trình bày trên Hình 3.
Ta có thể thấy ngay số trích dẫn trung bình của các nước trên hình 3 không hoàn toàn phản ảnh trình độ phát triển khoa học và công nghệ trong khu vực. Rất khó hiểu tại sao công bố quốc tế của Philipin và Việt NamTrung Quốc, Malaysia, Đài Loan và Hàn Quốc? Tương tự, Hồng Kông và Singapore dẫn đầu trong khu vực về số trích dẫn, bỏ xa Đài Loan và Hàn Quốc. Phần 4 sau đây sẽ lý giải những hiện tượng này qua xem xét đóng góp của các tác giả trong và ngoài nước trong các CBQT.
Hình 3 (bên trái). Trích dẫn trung bình của các CBQT từ 11 quốc gia Đông Á năm 2004. Truy cập cơ sở dữ liệu ISI tháng 8/2009.
Hình 4 (bên phải). Tỉ lệ số tác giả trong nước trong các CBQT của 11 quốc gia Đông Á
3. Nghiên cứu khoa học dựa trên hợp tác quốc tế và bằng nguồn nội lực
Tác giả trong nước và nước ngoài
NSNCQG và số lần trích dẫn trung bình trên đây chưa chú ý đến một thực tế là nhiều tác giả tham gia vào CBQT là người nước ngoài. Cơ sở dữ liệu ISI cung cấp đầy đủ thông tin về số lượng các tác giả nước ngoài này và địa chỉ của họ. Từ hình 4 có thể thấy số tác giả nước ngoài đứng tên trong các CBQT chiếm đến 60-70% ở Indonesia và Philipin, 40% ở Thái Lan và chỉ còn khoảng 20% ở các nước tiên tiến như Nhật Bản, Đài Loan và Trung Quốc. Như vậy đạt đến trình độ cao vẫn cần phải có hợp tác quốc tế để khoa học phát triển bền vững, nhưng nguồn nội lực vẫn phải áp đảo. Có thể tin rằng trong quá trình phát triển của đất nước tỷ lệ tác giả trong nước sẽ tăng lên so với tác giả nước ngoài.
CBQT của các nước có NSNCQG thấp như Philipin, Indonesia và Việt Nam phần lớn do có sự tham gia của các tác giả nước ngoài. Nhiều công bố quốc tế của các nước này được tiến hành tại Bắc Mỹ và Tây Âu thông qua hợp tác khoa học song phương hay các chương trình đào tạo nghiên cứu sinh hoặc sau tiến sỹ từ các nước Đông Á. Các đề tài nghiên cứu ở đây nằm trong chương trình phát triển khoa học của các nước tiên tiến. Thông qua các hình thức nghiên cứu hợp tác như vậy, những quốc gia kém phát triển có cơ hội đào tạo chuyên gia, tích luỹ kinh nghiệm và kỹ năng cần thiết để xây dựng năng lực nghiên cứu nội địa và cơ sở hạ tầng khoa học cho chính nước mình.
Do đó, để có thể đưa ra một thước đo thực chất hơn về NSNCQG, chúng ta nên dựa vào các CBQT chủ yếu do tác giả trong nước làm ra chứ không phải sử dụng toàn bộ các CBQT. Cũng chính dựa trên các CBQT do nội lực mới có thể đánh giá sát thực hiệu quả các chính sách khoa học và công nghệ của một quốc gia, bởi chúng là kết quả trực tiếp của những đầu tư nội địa và cũng trực tiếp phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Những nghiên cứu dùng nguồn nội lực
Nói chung, rất khó đánh giá chính xác liệu một CBQT tạo ra bằng nguồn nội lực hay chủ yếu được tiến hành ở nước ngoài. Để làm việc này chúng tôi sẽ căn cứ trên tiêu chí ai là tác giả đầu mối (corresponding author), một thông tin có thể truy cập từ cơ sở dữ liệu ISI. Cụ thể, một công bố quốc tế có thể xem là do nội lực nếu tác giả đầu mối lấy địa chỉ làm việc ở trong nước. Như vậy, nói theo ngôn ngữ xử lý thông tin, tác giả đầu mối được xem là đại diện (proxy) cho các CBQT dùng nguồn nội lực. Có hai lý do minh chứng cho cách làm này.
Thứ nhất, nếu tất cả các tác giả có mặt trong CBQT đều là người trong nước thì điều này không cần phải bàn cãi. Rất may là trên thực tế số CBQT thuộc loại này thường áp đảo trong số các CBQT có tác giả đầu mối là người trong nước, chúng chiếm đến 60% và 72% trong trường hợp Việt Nam và Philipin, và tỷ lệ này còn cao hơn ở các nước tiên tiến hơn trong khu vực.
Thứ hai, như ta sẽ thấy trong phần sau và trên bảng 3, bài báo với tác giả đầu mối trong nước thường được trích dẫn ít hơn hẳn so với tác giả đầu mối là người nước ngoài. Nghĩa là, bằng cách dùng proxy này ta đã phân biệt ra hai nhóm CBQT có thuộc tính (chất lượng) khác hẳn nhau.
Theo ISI, tỉ lệ các CBQT do nội lực có tác giả đầu mối trong nước dao động từ 30% với Indonesia cho đến 60% với Thái Lan, 80% với Trung Quốc và khoảng 90% đối với Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan (Hình 5). Lại một lần nữa có thể thấy đất nước càng phát triển, CBQT do nội lực càng tăng lên.
Trích dẫn các công bố quốc tế do nội lực và do hợp tác quốc tế
Các CBQT do nội lực thường ít được trích dẫn hơn công bố có tác giả đầu mối là người nước ngoài. Xu hướng này tồn tại ngay ở các nước phát triển như Úc (Butler, 2003) và đương nhiên sẽ rõ rệt hơn ở các nước kém phát triển có nguồn lực nội địa yếu kém hơn, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu yêu cầu các trang thiết bị thí nghiệm cao cấp. Trên thực tế, tần số trích dẫn các CBQT do nội lực thấp hơn các công bố do hợp tác quốc tế đến hai lần trong cả hai trường hợp Thái Lan và Việt Nam (Bảng 3).
Đặc điểm này cũng giúp ta lý giải tại sao lượng trích dẫn trung bình các CBQT của Việt Nam và Philipin lại cao hơn Trung Quốc và Đài Loan (hình 3), hoặc các CBQT của Hồng Kông và Đài Loan được thường xuyên trích dẫn hơn Nhật Bản.
Hình 5. Tỉ lệ bài báo có tác giả đầu mối trong nước của các nước Đông Á năm 2008.
Trình độ của một quốc gia trong từng lãnh vực nghiên cứu cũng có thể được đánh giá căn cứ trên các CBQT do nội lực. Ví dụ, Bảng 2 cho thấy tình trạng ở Việt Nam. Trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu, như y học và nông nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế xã hội, tác giả đầu mối của hầu hết các CBQT đều là từ nước ngoài. Ngược lại, về Toán học, một lĩnh vực nghiên cứu mạnh nhất ở Việt nam, phần lớn tác giả đầu mối là người trong nước.
4. So sánh hoạt động R&D trong các trường đại học hàng đầu Việt Nam và Thái Lan
Để xem đại học Việt Nam đang đứng ở đâu trong khu vực về năng lực nghiên cứu khoa học, chúng ta có thể so sánh các trường đại học hàng đầu ở Việt Nam với hai trường đại học hàng đầu Chulalongkorn và Mahidol của Thái Lan. ĐH Chulalongkorn là một trong số 200 trường đại học đẳng cấp quốc tế theo xếp hạng năm 2005, 2007 và 2008 của Thời báo Giáo dục Đai học (THES, 2008)
Các hoạt động R&D ở Thái Lan được tập trung chủ yếu tại các trường đại học, các trường này chiếm 95% tổng số CBQT của cả nước so với con số 55% của Việt nam. Bên cạnh ĐH Chulalongkorn và Mahidol, Thái Lan còn có nhiều trường ĐH danh tiếng khác như Chiang Mai, Khon Kaen, Kasetsart, Prince Songkla, Thammasat, và Viện Công nghệ Châu Á, hàng năm mỗi trường này đều công bố hàng trăm công trình trên các tạp chí quốc tế.
Tổng số CBQT của bốn trường đại học hàng đầu Việt nam (Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội và Đai học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) được so sánh với ĐH Chulalongkorn và Mahidol của Thái Lan trên bảng 3 cho năm 2004 và bảng 4 cho năm 2008.
CBQT của các trường ĐH hàng đầu Việt Nam đã gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây và tăng gấp đôi kể từ năm 2004 và 2008. Mặc dù tăng nhanh nhưng CBQT từ các trường ĐH hàng đầu Việt Nam vẫn thấp hơn ĐH Chulalongkorn hay Mahidol từ 15 đến 30 lần. Từng trường ĐH này công bố nhiều hơn toàn bộ các viện nghiên cứu Việt Nam cộng lại. CBQT của các trường ĐH Thái Lan cũng được trích dẫn thường xuyên hơn các ĐH của Việt Nam (Bảng 3).
Bảng 2 Tác giả đầu mối (TDDM) trong nước và nước ngoài trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau của Việt Nam, năm 2008.
Lĩnh vực nghiên cứu TGĐM trong nước TBĐM ngoài nước Tỉ lệ nội địa
Toán học, Tối ưu, Thống kê 95 21 0.82
Vật lý, Quang học, và Vật lý ứng dụng 52 37 0.58
Công nghệ 14 20 0.41
Sức khoẻ cộng đồng, Sức khỏe liên quan Môi trường và Nghề nghiệp 14 25 0.36
Hoá học, Hoá phân tích và Điện hóa 17 35 0.33
Nông nghiệp, Nông học 7 25 0.22
Nghiên cứu miễn dịch; Bệnh truyền nhiễm; khoa nhi; Y học nhiệt đới 14 62 0.18
Sinh thái học; Khoa học Môi trường; Độc chất 4 30 0.12
Tổng cộng các lĩnh vực 301 505 0.3
Tác giả đầu mối Việt Nam chiếm 29% tổng số công bố quốc tế năm 2004 và 37% năm 2008. Số trích dẫn trung bình các công bố quốc tế có tác giả đầu mối là người Việt Nam cũng thấp hơn nhiều so với tác giả đầu mối nước ngoài (Bảng 3)
Ngược lại, tại trường ĐH Chulalongkorn và Mahidol, tác giả đầu mối người Thái chiếm 70% tổng số các công bố quốc tế của các trường này năm 2004 (Bảng 3) và gần 80% năm 2008 (Bảng 4). Số trích dẫn trung bình của họ cũng cao hơn. Chúng ta có thể tin rằng khi khoa học và giáo dục đại học ở Việt Nam ngày càng tiến bộ hơn, chắc chắn tỉ lệ và chất lượng các công bố quốc tế có tác giả đầu mối trong nước sẽ tăng theo.
Có một chi tiết rất đáng lưu ý trong cột 3 của Bảng 3: số trích dẫn trung bình của 5 viện nghiên cứu hàng đầu Việt Nam (6,5) thấp hơn hẳn con số tính cho toàn quốc (10). Để giải thích điều có vẻ nghịch lý này, chúng ta có thể xem xét các công bố về y học, một lãnh vực không được 5 cơ sở hàng đầu nói trên nghiên cứu. Trong số 82 CBQT năm 2004 về y học, chỉ có 7 công bố có tác giả đầu mối là người Việt Nam, 75 công trình còn lại đều do người nước ngoài làm tác giả đầu mối, có số lượng trích dẫn rất cao. Điều này phần nào ảnh hưởng đến số trích dẫn trung bình của toàn Việt Nam.
5. So sánh CBQT trong các lĩnh vực nghiên cứu
Từ phân tích trên đây, có thể thấy rằng để có được bức tranh tổng thể về các lĩnh vực nghiên cứu tầm quốc tế ở Việt Nam, chúng ta chỉ nên chú ý đến các CBQT do nội lực. Trên bảng 5, chúng ta sẽ so sánh bức tranh của cả Việt Nam với một trường ĐH Chulalongkorn.
Tại ĐH Chulalongkorn, lĩnh vực nghiên cứu hàng đầu là các khoa học ứng dụng như y tế, hoá học, công nghệ sinh học, công nghệ, khoa học vật liệu, nông nghiệp, v.v.. Ngược lại ở Việt Nam, các lĩnh vực nghiên cứu có nhiều CBQT nhất lại là Toán học và Vật lý (một nửa trong số đó là Vật lý lý thuyết), trong khi đó các sản phẩm nghiên cứu thuộc hai lĩnh vực này lại khá khiêm tốn ở ĐH Chulalongkorn và các ĐH khác cuả Thái Lan.
Bảng 3 CBQT của một số tổ chức R&D ở Việt Nam và Thái Lan năm 2004. Truy cập cơ sở dữ liệu ISI tháng 8/2009.
Tổng CBQT Tr. dẫn trg bình TGĐM trong nước TGĐM nước ngoài
CBQT Tr. dẫn trg bình CBQT Tr. dẫn trg. bình
Bốn ĐH hàng đầu VN 83 6.6 44 4.5 39 8.8
Viện KHCN Việt Nam 82 6.3 31 4.9 51 7.5
Cả nước Việt Nam 403 10.0 117 6.6 286 14.1
ĐH Chulalongkorn 416 12.0 295 7.1 121 15.3
ĐH Mahidol 465 13.9 320 8.3 145 16.9
Bảng 4 CBQT của một số tổ chức R&D hàng đầu Việt Nam và Thái Lan năm 2008
Tổng số CBQT TGĐM trong nước Tỉ lệ nội địa
Bốn trường ĐH hàng đầu Việt Nam 160 87 54%
Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam 156 74 47%
Việt Nam (tổng cộng trong cả nước) 806 307 37%
ĐH Chulalongkorn 869 715 82%
ĐH Mahidol 817 598 73%
Toán học và vật lý lý thuyết chiếm ưu thế trong các CBQT ở Việt Nam có thể được giải thích một phần do ảnh hưởng cuộc chiến tranh kéo dài trước đây (lúc đó chỉ hai hướng nghiên cứu này là khả dĩ có CBQT) và ảnh hưởng của cấu trúc nền khoa học Liên Xô đối với Việt Nam, phần khác, có lẽ do người Việt nam có thiên hướng tư duy trừu tượng. Nhưng đúng hơn, chính sự yếu kém về chất lượng các nghiên cứu ứng dụng và công nghệ ở nước ta mới là lý do tạo nên sự nổi trội quá rõ rệt của hai lãnh vực Toán và Vật lý lý thuyết. Và nhân tố quan trọng lý giải sự yếu kém của các khoa học ứng dụng tại Việt Nam là thiếu đầu tư thích đáng và thiếu một quan niệm đúng đắn về nghiên cứu khoa học và đào tạo đại học, cho rằng các nghiên cứu ứng dụng không nhất thiết phải lấy CBQT làm thước đo chất lượng.
Nhiều tổ chức nghiên cứu khoa học có tiếng ở Việt Nam vắng bóng trên các tạp chí khoa học quốc tế. Ở ĐH Quốc gia Hà Nội với 30.000 sinh viên, các CBQT có tác giả đầu mối trong nước chỉ tập trung ở ba nơi, trường ĐH Công nghệ và hai khoa Toán và Vật lý của trường ĐH Khoa học Tự nhiên. Tương tự, trong số 19 công bố của ĐH Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2004, có đến 9 công bố về vật lý.
Có rất ít CBQT bằng nội lực trong các lĩnh vực ứng dụng như chế biến lương thực, nông nghiệp và khai thác tài nguyên, các lĩnh vực hiện chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu của Việt Nam. Nghiên cứu y học bằng nội lực cũng chưa tương xứng với một quốc gia có ít nhiều truyền thống trong lãnh vực này và thường xuyên bị ảnh hưởng bởi những căn bệnh truyền nhiễm nhiệt đới. Trên thực tế, các CBQT về y học chủ yếu thuộc về các tác giả đầu mối nước ngoài (Bảng 2), từ đây ta có thể thấy nỗ lực đào tạo chuyên gia y học ở các nước tiên tiến của Việt Nam trong những năm gần đây vẫn chưa đủ khối lượng tới hạn để hình thành nhiều cơ sở nghiên cứu trong nước đạt trình độ quốc tế.
CBQT cũng rất hiếm trong nghiên cứu đại dương và khí quyển vốn là lĩnh vực rất quan trọng đối với một quốc gia thường xuyên chịu các thảm hoạ thời tiết và có đường biển dài với khu đặc quyền kinh tế rộng lớn đầy tiềm năng. Vì Việt nam là một trong số các quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất về biến đổi khí hậu và nước biển dâng trong những thập niên tới nên sự thiếu hụt chuyên gia trong lĩnh vực này là một điều thực sự đáng lo ngại.
Kết luận
Năng lực nghiên cứu khoa học của 11 nước Đông Á được đánh giá theo ba chiều kích: số CGQT trên một triệu dân, số trích dẫn trung bình và mức độ phát huy nội lực dựa trên số tác giả đầu mối có địa chỉ trong nước. Trong quá trình đi lên của các nước đang phát triển, thành tích nghiên cứu sẽ tăng lên theo cả ba chiều kích này.
Nghiên cứu này cho thấy lượng CBQT tính trên 1 triệu dân có tương quan chặt chẽ với bình quân GDP và Chỉ số Phát triển Con người (HDI), và do đó, chúng có thể được sử dụng như các tiêu chí thể hiện trình độ phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia. Singapo dẫn đầu khu vực Đông Á với 1549 CBQT trên 1 triệu dân năm 2008, nhiều hơn Thái Lan, Việt Nam và Indonesia đến 30, 170 và 530 lần. Về tốc độ tăng trường, Trung Quốc phát triển nhanh nhất với tốc độ 20%/năm, tiếp sau đó là Ma lai xia, Thái Lan và Việt Nam với tốc độ 15-16%/năm; trong khi đó các nước phát triển hơn có tốc độ tăng trường thấp hơn như Hồng Kông 5%/năm và Nhật Bản: 1%/năm.
Các nước trong khu vực cũng rất khác nhau về mức độ phát huy nội lực trong nghiên cứu khoa học nếu xét trên tỉ lệ các công bố quốc tế có tác giả đầu mối trong nước. Tỉ lệ này tăng từ 30% ở Indonesia, 60% ở Thái Lan đến 90% ở Nhật Bản và Đài Loan.
Các bài viết có tác giả đầu mối nước ngoài được trích dẫn nhiều hơn tác giả đầu mối trong nước. Khi năng lực nghiên cứu khoa học và giáo dục đại học của đất nước tăng lên, tỉ lệ và lượng trích dẫn các bài nghiên cứu có tác giả đầu mối trong nước chắc chắn sẽ tăng lên.
Cho tới nay, tổng số CBQT của cả Việt Nam vẫn còn ít hơn một trường đại học Thái Lan như Chulalongkorn hay Mahidol. Hơn nữa, trong khi các tác giả đầu mối trong nước chiếm gần 80% tổng số các CBQT của Thái Lan thì con số này ở Việt nam chỉ là 38%. Nghiên cứu khoa học của Thái Lan có mối liên hệ rất chặt chẽ với đào tạo đại học: 95% CBQT của Thái Lan là do các trường đại học tiến hành so với con số 55% của Việt Nam. Toán học và vật lý lý thuyết thường là hai lãnh vực có nhiều công bố quốc tế nhất của Việt Nam. Trong khi đó rất nhiều dự án công nghệ và ứng dụng được tiến hành ở Việt Nam (Ca và Hung, 2008), nhưng các kết quả ít xuất hiện trên các tạp chí quốc tế. Từ đây nảy sinh mối quan ngại về chất lượng và ý nghĩa của các nghiên cứu ứng dụng đó.
Bảng 5. CBQT của tác giả đầu mối trong nước năm 2007: so sánh trường ĐH Chulalongkorn với các cơ sở nghiên cứu của Việt Nam
Đh Chulalongkorn, Thái Lan Toàn Việt Nam
Lĩnh vực nghiên cứu CBQT Lĩnh vực nghiên cứu CBQT
Hóa học 97 Toán học 58
Y tế 72 Vật lý 39
Kỹ thuật 51 Kỹ thuật 15
Sinh hoá học, sinh học 36 Khoa học và Kỹ thuật vật liệu 12
Vật liệu tổng hợp, bong sợi 28 Y tế 11
Khoa học Polime 26 Khoa học Máy tính 10
Thú y 20 Hóa học 9
Công nghệ sinh học và vi sinh 19 Môi trường; Địa lý 7
Thực vật học 14 Dinh dưỡng 5
Nông nghiệp 13 Nghiên cứu Châu Á 5
Vi sinh học 11 Tự động hoá và điều khiển học 4
Phục hồi chức năng 9 Làm vườn 4
Dược học và Dược phẩm 8 Năng lượng và nhiên liệu 3
Môi trường và địa lý 7 Thực vật học 3
Các ngành khác (Ít hơn 7 CBQT) 158 Các ngành khác (Ít hơn 3 CBQT) 50
Tổng cộng 569 Tổng cộng 234
Kể từ khi chuyển sang cơ chế thị trường hơn hai thập kỷ trước đây, thu nhập bình quân của Việt Nam đã vượt quá 1000 USD, ngưỡng các nước có “thu nhập trung bình dưới”. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung vào các ngành có giá trị gia tăng thấp như nông nghiệp, khai thác tài nguyên và chế biến công nghiệp nhẹ (Dapice, et. al. 2008). Để nâng cao giá trị gia tăng của hàng hóa và hội nhập vào chuỗi cung ứng toàn cầu, Việt nam cần nhiều lực lượng lao động có tay nghề hơn, đặc biệt trong các lĩnh vực có liên quan đến khoa học và công nghệ, với số lượng nhiều hơn mức mà các trường đại học có thể đào tạo hiện nay.
Để đáp ứng được nhu cầu này, các trường đại học Việt Nam cần đổi mới triệt để (Cộng Hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005). Cần phải chuyển nhiều trường đại học Việt Nam từ giảng dạy là chính thành các đại học nghiên cứu. Mặc dù chính sách của chính phủ đã chính thức đề cập tới vấn đề này, nhưng sự chuyển biến vẫn còn chậm chạp và các chính sách cụ thể vẫn chưa đủ khuyến khích nghiên cứu khoa học chất lượng quốc tế trong các trường đại học.
Từ những phân tích trên đây có thể đưa ra những khuyến nghị về cách tiếp cận nhằm tái cấu trúc hệ thống khoa học và giáo dục đại học ở Việt Nam. Cần phải tập trung nhiều hơn nguồn lực nghiên cứu về các trường đại học, đặc biệt là các trường đại học nghiên cứu đa ngành tuân theo những chuẩn mực được quốc tế thừa nhận trong giảng daỵ và nghiên cứu khoa học. Chỉ bằng cách nâng lên tầm quốc tế các các cơ sở nghiên cứu khoa học của Việt Nam thì mới giải quyết được tình trạng thiếu hụt chuyên gia trình độ cao trong những lĩnh vực như y tế, nông nghiệp, công nghệ và nhiều lĩnh vực ứng dụng cũng như khoa học xã hội khác. Làm được điều đó, các trung tâm xuất sắc (center of excellence) trong nghiên cứu, đào tạo và sáng tạo công nghệ sẽ được hình thành và tạo nên một bộ mặt mới cho nền khoa học và giáo dục của Việt Nam .
Tìm kiếm
Thứ Hai, 21 tháng 6, 2010
Thứ Hai, 7 tháng 6, 2010
Người Trung Quốc và bài toán thế kỷ
Mấy tháng nay, dư luận xôn xao về chuyện nhà toán học thiên tài người Nga Grigory Perelman, người đã chứng minh được giả thuyết Poincaré, bài toán của thế kỷ, có thể sẽ từ chối nhận giải thưởng 1 triệu đôla của viện Clay. Cách đây bốn năm, chính ông cũng đã từ chối huy chương Fields, giải thưởng danh giá nhất dành cho các nhà toán học. Xung quanh chuyện này, Bee đăng lại bài dịch của dịch giả Phạm Văn Thiều do báo Sài Gòn Tiếp Thị giới thiệu.
Một buổi tối, ngày 20/6/2006, vài trăm nhà vật lý, trong đó có một người từng đoạt giải Nobel, tụ tập trong phòng họp của khách sạn Hữu Nghị ở Bắc Kinh để nghe một báo cáo của nhà toán học người Trung Quốc Shing-Tung Yau.
Vào cuối những năm 1970, khi chưa đầy ba mươi tuổi, ông đã có một loạt đột phá góp phần dẫn tới cuộc cách mạng của lý thuyết dây trong vật lý học và thêm vào đó ông đã được nhận huy chương Fields – một phần thưởng danh giá nhất trong toán học và ông trở nên nổi tiếng trong cả hai lĩnh vực (toán học và vật lý) như một nhà tư tưởng có khả năng kỹ thuật vô song.
Niềm tự hào của toán học Trung Quốc
Sau đó, Yau đã trở thành giáo sư toán của đại học Harvard, viện trưởng viện Toán học ở Bắc Kinh và Hong Kong, chia sẻ thời gian giữa Mỹ và Trung Quốc.
Bài giảng của ông ở khách sạn Hữu Nghị là một phần của hội nghị quốc tế về lý thuyết dây do ông tổ chức với sự hỗ trợ của Chính phủ Trung Quốc nhằm khích lệ những tiến bộ gần đây của nước này trong lĩnh vực vật lý lý thuyết. (Hơn 6 ngàn sinh viên tụ tập ở đại lễ đường Nhân dân để đợi được phát bản báo cáo chính của Stephen Hawking, một người bạn thân của Yau).
Không có nhiều người trong cử toạ biết về chủ đề bài giảng của Yau: đó là giả thuyết Poincaré, một bài toán hóc búa đã tồn tại một thế kỷ về những đặc trưng của các mặt cầu ba chiều, mà vì những hệ quả quan trọng của nó trong toán học và vũ trụ học, cũng như vì nó đã làm thất bại mọi ý đồ nhằm giải nó trong quá khứ, nên các nhà toán học coi nó như chiếc chén thánh.
Là một người đàn ông 57 tuổi, chắc nịch, đeo kính gọng đen, mặc chiếc sơmi ngắn tay, Yau đứng trên bục giảng, hai tay đút túi quần, kể về hai sinh viên của ông là Xi-Ping Zhu và Huai-Dong Cao đã hoàn tất chứng minh giả thuyết Poincaré chỉ mới ít tuần trước. “Tôi rất kỳ vọng vào công trình của Zhu và Cao”, Yau nói, “Các nhà toán học Trung Quốc hoàn toàn có đủ lý do để tự hào về một thành công lớn lao trong việc giải quyết được trọn vẹn một bài toán hóc búa như thế”.
Ông nói rằng Zhu và Cao phải hàm ơn một cộng sự lâu năm người Mỹ của ông là Richard Hamilton, người xứng đáng được coi là có uy tín nhất trong việc giải bài toán Poincaré. Ông cũng có nhắc tới Grigory Perelman, một nhà toán học Nga mà ông công nhận là đã có một đóng góp quan trọng.
Tuy nhiên, Yau nói: “Trong công trình của Perelman, mặc dù là rất đẹp, nhưng nhiều ý tưởng then chốt của chứng minh mới chỉ là những phác thảo, thường còn thiếu các chi tiết”.
Và ông nói thêm, “Chúng tôi rất muốn gặp Perelman để bàn thảo. Nhưng ông ta sống ở St. Petersburg và từ chối giao tiếp với những người khác”.
Nhà toán học Grigory Perelman đã từng từ chối giải thưởng danh giá
Trong suốt 90 phút, Yau thảo luận về một số chi tiết có tính kỹ thuật trong chứng minh của các học trò ông. Và khi ông kết thúc, không một ai có câu hỏi nào. Tuy nhiên, đêm đó, một nhà vật lý người Brazil đã đưa lên blog của ông cảm tưởng về bài giảng của Yau. “Nghe cứ như Trung Quốc sắp dẫn đầu trong lĩnh vực toán học đến nơi!”, ông viết.
Trao giải cho người Nga
Grigory Perelman quả thật là một người khó gần. Ông đã từ bỏ chức danh nghiên cứu viên tại viện Toán Steklov ở St. Petersburg, và ông cũng có rất ít bạn. Ông sống với mẹ trong một căn hộ ở ngoại ô thành phố. Mặc dù chưa bao giờ đồng ý phỏng vấn trước đó, nhưng ông là một người chân thành, cởi mở khi chúng tôi gặp ông, gần ngay sau hội nghị của Yau ở Bắc Kinh. “Tôi cũng có tìm kiếm một số người bạn, nhưng họ không nhất thiết phải là nhà toán học”, ông nói.
Một tuần trước khi bỏ phiếu, Perelman đã dành nhiều giờ để thảo luận về giả thuyết Poincaré với ngài John M. Ball, vị chủ tịch 58 tuổi của hiệp hội Toán học quốc tế (I.M.U.), một hội nghề nghiệp có ảnh hưởng nhất của lĩnh vực này. Cuộc gặp gỡ diễn ra tại một trung tâm hội nghị trong một ngôi nhà lớn uy nghiêm nhìn ra sông Neva, kể cũng thật khác thường.
Vào cuối tháng 5/2006, một uỷ ban gồm chín nhà toán học xuất sắc đã bỏ phiếu nhất trí trao cho Perelman huy chương Fields vì công trình của ông về giả thuyết Poincaré, và Ball đã phải cất công tới St. Petersburg để thuyết phục Perelman nhận giải trong một nghi lễ công khai tại đại hội tổ chức bốn năm một lần của hiệp hội Toán học quốc tế, diễn ra tại Madrid ngày 22/8/2006.
Huy chương Fields, giải thưởng được trao bốn năm một lần, cho từ hai đến bốn nhà toán học, với tiêu chí không chỉ ban thưởng cho những thành tựu trong quá khứ mà còn muốn kích thích những nghiên cứu trong tương lai, nên nó chỉ được trao cho những nhà toán học ở tuổi 40 hoặc trẻ hơn.
Trong mấy chục năm gần đây, khi số lượng các nhà toán học chuyên nghiệp tăng lên, huy chương Fields ngày càng trở nên có uy tín. Trong gần 70 năm trở lại đây, chỉ có 44 huy chương Fields đã được trao, kể cả ba công trình có liên quan gần gũi với giả thuyết Poincaré – và chưa có một nhà toán học nào từ chối giải thưởng này. Tuy nhiên, Perelman đã nói với Ball rằng ông không có ý định nhận nó, “Tôi từ chối”, ông chỉ nói ngắn gọn như vậy.
- Cuộc chạy đua thầm lặng
Shing-Tung Yau học toán tại trường đại học Trung Hoa ở Hong Kong. Tại đây ông đã được nhà toán học Trung Quốc xuất sắc là Shiing-Shen Chern chú ý và giúp ông nhận được học bổng của trường đại học California ở Berkeley.
Năm 1969 Yau bắt đầu làm nghiên cứu sinh ở Berkeley, ông đăng ký học bảy môn học mỗi học kỳ và dự thính một số môn học khác. Ông gửi một nửa số tiền học bổng về cho mẹ ở Trung Quốc và sự ngoan cường của ông đã khiến các giáo sư đặc biệt chú ý. Năm 1976 ông đã chứng minh được một giả thuyết tồn tại hơn 20 năm liên quan đến một loại đa tạp mà lúc đó rất quan trọng đối với lý thuyết dây. Một nhà toán học người Pháp tên là Calabi đã đưa ra chứng minh bài toán mà sau này được gọi là giả thuyết Calabi, nhưng bài toán của Yau là tổng quát hơn và mạnh hơn. (Các nhà vật lý hiện nay thường nói tới các đa tạp Calabi-Yau).
Kỳ vọng Poincaré
Năm 1980, khi mới 30 tuổi, Yau đã trở thành nhà toán học trẻ nhất được bổ nhiệm là thành viên của đội ngũ giảng dạy thường trực của viện Nghiên cứu cao cấp và ông đã bắt đầu thu hút được các tài năng. Hai năm sau ông giành được huy chương Fields và là người Trung Quốc đầu tiên đoạt giải thưởng này.
Harvard đã tìm mọi cách tuyển mộ Yau. Sau cùng, vào năm 1987, Yau đồng ý đến làm việc tại Harvard. Sau đó Yau mở rộng sự hợp tác với các đồng nghiệp và sinh viên. Ngoài việc tiến hành các nghiên cứu riêng của mình, ông bắt đầu tổ chức các xêmina. Ông thường liên kết với các nhà toán học có đầu óc đặc biệt sáng tạo. Nhưng ấn tượng mạnh mẽ nhất đối với Yau là Hamilton, vì sự ngông nghênh và óc tưởng tượng tuyệt vời của ông ta. Yau tin rằng Hamilton có thể sử dụng phương trình dòng Ricci để chứng minh các giả thuyết Thurston và Poincaré, nên ông đã hối thúc Hamilton tập trung giải quyết bài toán đó.
Yau tin rằng nếu như ông có thể giúp để giải được bài toán Poincaré thì đó không chỉ là một chiến công đối với ông mà còn đối với cả đất nước Trung Quốc. Vào giữa những năm 1990, Yau và một số học giả Trung Quốc đã bắt đầu có những cuộc gặp gỡ với Giang Trạch Dân (lúc đó là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc) để thảo luận làm thế nào xây dựng lại các viện nghiên cứu ở trong nước vốn đã bị tàn phá nặng nề trong thời kỳ Cách mạng văn hoá. Yau đã thuyết phục một đại gia về bất động sản ở Hong Kong tài trợ cho viện Toán thuộc viện Hàn lâm khoa học ở Bắc Kinh và cấp tiền để lập ra một huy chương theo kiểu huy chương Fields để trao cho các nhà toán học Trung Quốc dưới 45 tuổi. Trong những chuyến về thăm Trung Quốc, Yau đã giới thiệu Hamilton và các công trình hợp tác của hai người về dòng Ricci và giả thuyết Poincaré như là một mẫu mực cho các nhà toán học trẻ ở Trung quốc. Như ông đã nói công khai ở Bắc Kinh, “Họ luôn mồm nói rằng toàn bộ đất nước cần phải học tập Mao Chủ tịch hay một số anh hùng vĩ đại nào đấy. Nên tôi nửa đùa nửa thật nói với họ rằng cả nước nên học tập Hamilton”.
Bài toán cuộc đời
Giả thuyết Poincaré được Poincaré nêu ra hơn 100 năm trước, gần như năm nào cũng có những thông báo về chứng minh giả thuyết này. Nhà toán học Poincaré là em họ của Raymond Poincaré, tổng thống của nước Pháp trong thời gian Thế chiến lần thứ nhất, và cũng là một trong số những nhà toán học sáng tạo nhất của thế kỷ 19. Là một người mảnh khảnh, cận thị, và nổi tiếng là đãng trí, Poincaré đã thai nghén bài toán nổi tiếng của mình vào năm 1924, tám năm trước khi ông qua đời. Ông đặt nó vào cuối một bài báo dài 65 trang như một vấn đề bộc phát.
Grigory Perelman cũng đã học tập Hamilton. Vào năm 1993, ông nhận được học bổng hai năm ở Berkeley. Trong thời gian ông ở đó, Hamilton đã có một số buổi thuyết trình tại khu đại học và trong một lần, ông có nói rằng ông đang nghiên cứu về giả thuyết Poincaré. Chiến lược dòng Ricci của Hamilton là cực kỳ kỹ thuật và rất khó thực hiện. Sau một buổi thuyết trình ở Berkeley, Hamilton có nói với Perelman về trở ngại lớn nhất của ông ta. Khi một không gian được là trơn bởi dòng Ricci, một số vùng biến dạng thành cái mà các nhà toán học gọi là các điểm kỳ dị. Một số vùng, gọi là “cổ chai”, trở thành những vùng có mật độ vô hạn. Khó khăn nhất đối với Hamilton là loại kỳ dị mà ông gọi là “điếu xìgà”. Nếu như nó xuất hiện, thì Hamilton lo ngại rằng sẽ không thể có được một hình học đều đặn. Perelman thấy rằng bài báo mà ông đã viết về các không gian Alexandrov có thể sẽ giúp Hamilton chứng minh được giả thuyết Thurston – và do đó có cả giả thuyết Poincaré – nếu như Hamilton giải được “bài toán xìgà”. “Có lúc tôi đã hỏi Hamilton có biết một kết quả mà tôi đã chứng minh nhưng chưa công bố – mà bây giờ hoá ra rất hữu ích không”, Perelman nói, “Nhưng sau đó tôi nhận thấy rằng ông đã không hiểu điều tôi nói”.
Vào cuối năm đầu tiên ở Berkeley, Perelman đã viết được một số bài báo hết sức căn bản và độc đáo. Ông được mời đọc báo cáo tại đại hội của I.M.U. vào năm 1994 tại Zurich, Thuỵ Sĩ cùng với một loạt lời mời làm việc tại Stanford, Princeton, viện Nghiên cứu cao cấp và đại học
Tel Aviv. Cũng như Yau, Perelman là một tay chuyên giải toán vĩ đại. Perelman nói với chúng tôi rằng ông thích làm việc trên vài bài toán đồng thời. Tuy nhiên, ở Berkeley ông thấy mình cứ trở đi trở lại với phương trình dòng Ricci của Hamilton và bài toán mà Hamilton nghĩ rằng mình sẽ giải được nhờ phương trình đó.
Cuối cùng ông đã nhận được một số lời mời làm việc. Nhưng ông đều từ chối tất cả và vào mùa hè năm 1995, ông trở về St. Petersburg với công việc cũ của ông ở viện Steklov, nơi ông được trả lương chưa đầy 100 đôla một tháng.
Ở tuổi 29, Perelman đã xác lập được một cách vững chắc vị thế một nhà toán học của mình và đã gỡ bỏ hầu hết những trách nhiệm nghề nghiệp. Ông tự do theo đuổi bất cứ bài toán nào mà mình muốn và ông cũng biết rằng công trình của ông, nếu ông chọn để công bố chúng, đều sẽ được quan tâm một cách nghiêm túc. Yakov Eliashberg, một nhà toán học ở Stanford, người đã quen biết Perelman ở Berkeley, nghĩ rằng ông quay trở về Nga là để nghiên cứu bài toán Poincaré. “Tại sao lại không chứ?”, Perelman nói, khi chúng tôi hỏi ông linh cảm của Eliashberg có đúng không.
- Tuyên chiến
Vào tháng 11.2002, Yau nhận được một email từ một nhà toán học Nga mà tên tuổi của người đó ông còn chưa kịp ghi nhận. Bức thư nói: “Xin được gửi tới ông bài báo của tôi”.
Hôm 28.3.2010, viện toán học Clay công bố trao giải Millennium cho G. Perelman về bài giải giả thuyết Poincaré.
Ngày 11.11 năm đó, Perelman đã đưa lên mạng bài báo 39 trang với nhan đề “Công thức entropy đối với dòng Ricci và những áp dụng của nó trong hình học” trên địa chỉ arXiv.org, một trang web chuyên dùng của các nhà toán học để giới thiệu các bài báo trước khi được công bố trên các tạp chí chuyên ngành (preprint). Sau đó, Perelman gửi bản tóm tắt của bài báo đó theo email cho hơn 10 nhà toán học ở Mỹ, trong đó có Hamilton, Yau và Giang Tian – không có ai trong họ đã nghe nói về ông nhiều năm nay.
Trong bản tóm tắt đó ông đã giải thích rằng ông đã viết một bản phác thảo về “chứng minh có tính chiết trung” của giả thuyết hình học hoá”.
Vượt rào
Perelman không nhắc gì đến chứng minh mà cũng không đưa nó cho ai xem. “Tôi không có những người bạn để bàn luận về chứng minh đó”, ông nói ở St. Petersburg. “Tôi không muốn thảo luận công trình của tôi với người mà tôi không tin cậy”. Việc Perelman đã đưa hú hoạ chứng minh của một giả thuyết nổi tiếng nhất trong toán học lên mạng là sự coi thường những quy ước trong học thuật, nhưng ông cũng đã phải chịu một sự mạo hiểm đáng kể.
Nếu chứng minh là sai, ông sẽ bị sỉ nhục một cách công khai và không có cách nào để ngăn cản một nhà toán học khác tìm ra những sai sót và công bố chiến công của mình. Nhưng Perelman nói rằng ông hoàn toàn không quan tâm. “Lý luận của tôi là thế này: nếu tôi phạm sai lầm và có ai đó dùng công trình của tôi để xây dựng được một chứng minh đúng thì tôi cũng rất hài lòng”, ông nói. “Tôi không bao giờ phô trương là người duy nhất giải được bài toán Poincaré cả”.
Gang Tian (một nhà toán học người Hoa, được xem là đối thủ của Yau) nhận được email của Perelman khi ông đang ở phòng làm việc của mình ở MIT (học viện công nghệ Massachusetts – Mỹ). Ông và Perelman đã rất thân thiện vào năm 1992, khi cả hai ở ĐH New York và hàng tuần đều cùng dự một xêmina toán ở Princeton. “Tôi ngay lập tức nhận thấy tầm quan trọng của nó”, Tian nói về bài báo của Perelman.
Thực tế cái mà Perelman đưa lên mạng chỉ là đợt đầu tiên, nhưng nó đủ để các nhà toán học thấy rằng ông đã hình dung ra phải giải bài toán Poincaré như thế nào. Perelman đã chứng minh rằng các “điếu xì gà” từng gây khó khăn cho Hamilton, có thể không thực sự xảy ra và ông cũng chứng tỏ được rằng bài toán “các cổ chai” cũng sẽ giải quyết được.
“Nếu như ông ta vỗ ngực tuyên bố: “Tôi đã giải được nó” thì chắc chắn ông ta sẽ nhận được một sự chống lại ghê gớm”.
Nhà toán học Frank Quinn, Virginia Tech
Tian bèn viết thư cho Perelman đề nghị ông tới MIT giảng về bài báo của mình. Các đồng nghiệp ở Princeton và Stony Brook cũng đưa ra những lời mời tương tự. Perelman chấp nhận tất và đặt mua vé đi một tháng thỉnh giảng bắt đầu từ tháng 4.2003. “Tại sao lại không?”, ông nhún vai nói với chúng tôi.
Chuyến thỉnh giảng tháng 4 của Perelman được các nhà toán học và báo giới coi như một sự kiện lớn. Rất nhiều người ngồi nghe vô cùng ngạc nhiên khi không thấy Perelman nói gì về giả thuyết Poincaré cả. Frank Quinn, một nhà toán học thuộc Virginia Tech, nói. “Ông ta bắt đầu từ một số điểm then chốt và những tính chất đặc biệt, rồi sau đó trả lời các câu hỏi. Ông ta đã xác lập được sự tin cậy. Nếu như ông ta vỗ ngực tuyên bố: “Tôi đã giải được nó” thì chắc chắn ông ta sẽ nhận được một sự chống lại ghê gớm”.
Phản pháo
Hamilton và Yau sững sờ trước thông báo của Perelman. “Chúng tôi cảm thấy rằng không một ai khác có khả năng tìm ra lời giải”, Yau nói với chúng tôi ở Bắc Kinh. “Nhưng sau đó vào năm 2002, Perelman lại thông báo rằng ông ấy công bố một điều gì đó. Về cơ bản ông ta làm theo một lối tắt trực tiếp hơn chứ không làm tất cả những đánh giá chi tiết như chúng tôi”. Hơn thế nữa, Yau phàn nàn, “chứng minh của Perelman được viết rất lộn xộn mà chúng tôi không sao hiểu được”.
Vào những năm 1960 – 1970, tôpô học đã trở thành một trong những lĩnh vực sinh sôi mạnh nhất của toán học và các nhà tôpô học trẻ tuổi thường xuyên công phá giả thuyết Poincaré. Điều kinh ngạc đối với phần lớn các nhà toán học là các đa tạp 4, 5 và có số chiều cao hơn hoá ra lại dễ chứng minh hơn các đa tạp ba chiều. Vào năm 1982, giả thuyết Poincaré đã được chứng minh với tất cả các số chiều, chỉ trừ có trường hợp ba chiều. Năm 2002, viện toán Clay, một cơ sở tư nhân nhằm khích lệ các nghiên cứu toán học, đã tuyên bố giả thuyết Poincaré là một trong bảy bài toán quan trọng và nổi bật nhất trong toán học và đã đặt ra giải thưởng một triệu đôla cho bất cứ ai chứng minh được nó.
Trong số ra ngày 18.4.2003 của tạp chí nổi tiếng Science, Yau có đăng một bài báo có nói về chứng minh của Perelman: “Nhiều chuyên gia, nhưng không phải tất cả, dường như đã tin rằng Perelman đã thoát được ra khỏi các “điếu xì gà” và thuần dưỡng được các “cổ chai hẹp”. Nhưng về chuyện ông kiểm soát được số các phẫu thuật thì người ta ít tin tưởng hơn. Điều đó chứng tỏ có thể có một lỗi nghiêm trọng, Yau cảnh báo, khi lưu ý rằng rất nhiều những nỗ lực chứng minh khác của giả thuyết Poincaré đều đã từng vấp phải những bước thiếu hụt tương tự”.
Những chứng minh này phải được xem xét một cách hoài nghi cho đến khi các nhà toán học có cơ hội xem xét nó một cách thật kỹ lưỡng, Yau nói với chúng tôi. Cho đến chừng nào, ông nói, “nó không phải là toán nữa mà là tôn giáo”.
Vào giữa tháng 7.2003, Perelman đã đưa lên mạng hai phần cuối cùng của chứng minh của mình và các nhà toán học bắt đầu kiểm tra các bước chứng minh của ông một cách hết sức thận trọng. Ở Mỹ ít nhất có tới hai nhóm chuyên gia nhận làm chuyện này: Gang Tian và John Morgan; và một cặp các nhà nghiên cứu ở đại học Michigan. Cả hai dự án này đều nhận được sự hỗ trợ của viện Clay.
Viện này còn có ý định sẽ công bố công trình của Tian và Morgan dưới dạng một cuốn sách. Cuốn sách, ngoài việc hướng dẫn các nhà toán khác theo dõi được lôgic của Perelman, nó còn là một căn cứ để xét xem có trao cho Perelman giải thưởng một triệu đôla của viện này vì đã giải được bài toán Poincaré hay không. (Để được chọn, chứng minh phải được công bố trên một tạp chí được phản biện nghiêm ngặt và phải chịu được hai năm săm soi của cộng đồng toán học quốc tế).
Perelman nói với chúng tôi: “Tôi không quá lo lắng nhiều cho mình. Đây là một bài toán nổi tiếng. Một số người cần có thời gian để quen với thực tế là đây không còn là một giả thuyết nữa. Cá nhân tôi đã quyết định với mình rằng mình nên tránh xa việc kiểm chứng và không nên tham gia vào tất cả các cuộc gặp gỡ đó. Điều quan trọng đối với tôi là không làm nhiều ảnh hưởng đến quá trình đó”.
Một buổi tối, ngày 20/6/2006, vài trăm nhà vật lý, trong đó có một người từng đoạt giải Nobel, tụ tập trong phòng họp của khách sạn Hữu Nghị ở Bắc Kinh để nghe một báo cáo của nhà toán học người Trung Quốc Shing-Tung Yau.
Vào cuối những năm 1970, khi chưa đầy ba mươi tuổi, ông đã có một loạt đột phá góp phần dẫn tới cuộc cách mạng của lý thuyết dây trong vật lý học và thêm vào đó ông đã được nhận huy chương Fields – một phần thưởng danh giá nhất trong toán học và ông trở nên nổi tiếng trong cả hai lĩnh vực (toán học và vật lý) như một nhà tư tưởng có khả năng kỹ thuật vô song.
Niềm tự hào của toán học Trung Quốc
Sau đó, Yau đã trở thành giáo sư toán của đại học Harvard, viện trưởng viện Toán học ở Bắc Kinh và Hong Kong, chia sẻ thời gian giữa Mỹ và Trung Quốc.
Bài giảng của ông ở khách sạn Hữu Nghị là một phần của hội nghị quốc tế về lý thuyết dây do ông tổ chức với sự hỗ trợ của Chính phủ Trung Quốc nhằm khích lệ những tiến bộ gần đây của nước này trong lĩnh vực vật lý lý thuyết. (Hơn 6 ngàn sinh viên tụ tập ở đại lễ đường Nhân dân để đợi được phát bản báo cáo chính của Stephen Hawking, một người bạn thân của Yau).
Không có nhiều người trong cử toạ biết về chủ đề bài giảng của Yau: đó là giả thuyết Poincaré, một bài toán hóc búa đã tồn tại một thế kỷ về những đặc trưng của các mặt cầu ba chiều, mà vì những hệ quả quan trọng của nó trong toán học và vũ trụ học, cũng như vì nó đã làm thất bại mọi ý đồ nhằm giải nó trong quá khứ, nên các nhà toán học coi nó như chiếc chén thánh.
Là một người đàn ông 57 tuổi, chắc nịch, đeo kính gọng đen, mặc chiếc sơmi ngắn tay, Yau đứng trên bục giảng, hai tay đút túi quần, kể về hai sinh viên của ông là Xi-Ping Zhu và Huai-Dong Cao đã hoàn tất chứng minh giả thuyết Poincaré chỉ mới ít tuần trước. “Tôi rất kỳ vọng vào công trình của Zhu và Cao”, Yau nói, “Các nhà toán học Trung Quốc hoàn toàn có đủ lý do để tự hào về một thành công lớn lao trong việc giải quyết được trọn vẹn một bài toán hóc búa như thế”.
Ông nói rằng Zhu và Cao phải hàm ơn một cộng sự lâu năm người Mỹ của ông là Richard Hamilton, người xứng đáng được coi là có uy tín nhất trong việc giải bài toán Poincaré. Ông cũng có nhắc tới Grigory Perelman, một nhà toán học Nga mà ông công nhận là đã có một đóng góp quan trọng.
Tuy nhiên, Yau nói: “Trong công trình của Perelman, mặc dù là rất đẹp, nhưng nhiều ý tưởng then chốt của chứng minh mới chỉ là những phác thảo, thường còn thiếu các chi tiết”.
Và ông nói thêm, “Chúng tôi rất muốn gặp Perelman để bàn thảo. Nhưng ông ta sống ở St. Petersburg và từ chối giao tiếp với những người khác”.
Nhà toán học Grigory Perelman đã từng từ chối giải thưởng danh giá
Trong suốt 90 phút, Yau thảo luận về một số chi tiết có tính kỹ thuật trong chứng minh của các học trò ông. Và khi ông kết thúc, không một ai có câu hỏi nào. Tuy nhiên, đêm đó, một nhà vật lý người Brazil đã đưa lên blog của ông cảm tưởng về bài giảng của Yau. “Nghe cứ như Trung Quốc sắp dẫn đầu trong lĩnh vực toán học đến nơi!”, ông viết.
Trao giải cho người Nga
Grigory Perelman quả thật là một người khó gần. Ông đã từ bỏ chức danh nghiên cứu viên tại viện Toán Steklov ở St. Petersburg, và ông cũng có rất ít bạn. Ông sống với mẹ trong một căn hộ ở ngoại ô thành phố. Mặc dù chưa bao giờ đồng ý phỏng vấn trước đó, nhưng ông là một người chân thành, cởi mở khi chúng tôi gặp ông, gần ngay sau hội nghị của Yau ở Bắc Kinh. “Tôi cũng có tìm kiếm một số người bạn, nhưng họ không nhất thiết phải là nhà toán học”, ông nói.
Một tuần trước khi bỏ phiếu, Perelman đã dành nhiều giờ để thảo luận về giả thuyết Poincaré với ngài John M. Ball, vị chủ tịch 58 tuổi của hiệp hội Toán học quốc tế (I.M.U.), một hội nghề nghiệp có ảnh hưởng nhất của lĩnh vực này. Cuộc gặp gỡ diễn ra tại một trung tâm hội nghị trong một ngôi nhà lớn uy nghiêm nhìn ra sông Neva, kể cũng thật khác thường.
Vào cuối tháng 5/2006, một uỷ ban gồm chín nhà toán học xuất sắc đã bỏ phiếu nhất trí trao cho Perelman huy chương Fields vì công trình của ông về giả thuyết Poincaré, và Ball đã phải cất công tới St. Petersburg để thuyết phục Perelman nhận giải trong một nghi lễ công khai tại đại hội tổ chức bốn năm một lần của hiệp hội Toán học quốc tế, diễn ra tại Madrid ngày 22/8/2006.
Huy chương Fields, giải thưởng được trao bốn năm một lần, cho từ hai đến bốn nhà toán học, với tiêu chí không chỉ ban thưởng cho những thành tựu trong quá khứ mà còn muốn kích thích những nghiên cứu trong tương lai, nên nó chỉ được trao cho những nhà toán học ở tuổi 40 hoặc trẻ hơn.
Trong mấy chục năm gần đây, khi số lượng các nhà toán học chuyên nghiệp tăng lên, huy chương Fields ngày càng trở nên có uy tín. Trong gần 70 năm trở lại đây, chỉ có 44 huy chương Fields đã được trao, kể cả ba công trình có liên quan gần gũi với giả thuyết Poincaré – và chưa có một nhà toán học nào từ chối giải thưởng này. Tuy nhiên, Perelman đã nói với Ball rằng ông không có ý định nhận nó, “Tôi từ chối”, ông chỉ nói ngắn gọn như vậy.
- Cuộc chạy đua thầm lặng
Shing-Tung Yau học toán tại trường đại học Trung Hoa ở Hong Kong. Tại đây ông đã được nhà toán học Trung Quốc xuất sắc là Shiing-Shen Chern chú ý và giúp ông nhận được học bổng của trường đại học California ở Berkeley.
Năm 1969 Yau bắt đầu làm nghiên cứu sinh ở Berkeley, ông đăng ký học bảy môn học mỗi học kỳ và dự thính một số môn học khác. Ông gửi một nửa số tiền học bổng về cho mẹ ở Trung Quốc và sự ngoan cường của ông đã khiến các giáo sư đặc biệt chú ý. Năm 1976 ông đã chứng minh được một giả thuyết tồn tại hơn 20 năm liên quan đến một loại đa tạp mà lúc đó rất quan trọng đối với lý thuyết dây. Một nhà toán học người Pháp tên là Calabi đã đưa ra chứng minh bài toán mà sau này được gọi là giả thuyết Calabi, nhưng bài toán của Yau là tổng quát hơn và mạnh hơn. (Các nhà vật lý hiện nay thường nói tới các đa tạp Calabi-Yau).
Kỳ vọng Poincaré
Năm 1980, khi mới 30 tuổi, Yau đã trở thành nhà toán học trẻ nhất được bổ nhiệm là thành viên của đội ngũ giảng dạy thường trực của viện Nghiên cứu cao cấp và ông đã bắt đầu thu hút được các tài năng. Hai năm sau ông giành được huy chương Fields và là người Trung Quốc đầu tiên đoạt giải thưởng này.
Harvard đã tìm mọi cách tuyển mộ Yau. Sau cùng, vào năm 1987, Yau đồng ý đến làm việc tại Harvard. Sau đó Yau mở rộng sự hợp tác với các đồng nghiệp và sinh viên. Ngoài việc tiến hành các nghiên cứu riêng của mình, ông bắt đầu tổ chức các xêmina. Ông thường liên kết với các nhà toán học có đầu óc đặc biệt sáng tạo. Nhưng ấn tượng mạnh mẽ nhất đối với Yau là Hamilton, vì sự ngông nghênh và óc tưởng tượng tuyệt vời của ông ta. Yau tin rằng Hamilton có thể sử dụng phương trình dòng Ricci để chứng minh các giả thuyết Thurston và Poincaré, nên ông đã hối thúc Hamilton tập trung giải quyết bài toán đó.
Yau tin rằng nếu như ông có thể giúp để giải được bài toán Poincaré thì đó không chỉ là một chiến công đối với ông mà còn đối với cả đất nước Trung Quốc. Vào giữa những năm 1990, Yau và một số học giả Trung Quốc đã bắt đầu có những cuộc gặp gỡ với Giang Trạch Dân (lúc đó là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc) để thảo luận làm thế nào xây dựng lại các viện nghiên cứu ở trong nước vốn đã bị tàn phá nặng nề trong thời kỳ Cách mạng văn hoá. Yau đã thuyết phục một đại gia về bất động sản ở Hong Kong tài trợ cho viện Toán thuộc viện Hàn lâm khoa học ở Bắc Kinh và cấp tiền để lập ra một huy chương theo kiểu huy chương Fields để trao cho các nhà toán học Trung Quốc dưới 45 tuổi. Trong những chuyến về thăm Trung Quốc, Yau đã giới thiệu Hamilton và các công trình hợp tác của hai người về dòng Ricci và giả thuyết Poincaré như là một mẫu mực cho các nhà toán học trẻ ở Trung quốc. Như ông đã nói công khai ở Bắc Kinh, “Họ luôn mồm nói rằng toàn bộ đất nước cần phải học tập Mao Chủ tịch hay một số anh hùng vĩ đại nào đấy. Nên tôi nửa đùa nửa thật nói với họ rằng cả nước nên học tập Hamilton”.
Bài toán cuộc đời
Giả thuyết Poincaré được Poincaré nêu ra hơn 100 năm trước, gần như năm nào cũng có những thông báo về chứng minh giả thuyết này. Nhà toán học Poincaré là em họ của Raymond Poincaré, tổng thống của nước Pháp trong thời gian Thế chiến lần thứ nhất, và cũng là một trong số những nhà toán học sáng tạo nhất của thế kỷ 19. Là một người mảnh khảnh, cận thị, và nổi tiếng là đãng trí, Poincaré đã thai nghén bài toán nổi tiếng của mình vào năm 1924, tám năm trước khi ông qua đời. Ông đặt nó vào cuối một bài báo dài 65 trang như một vấn đề bộc phát.
Grigory Perelman cũng đã học tập Hamilton. Vào năm 1993, ông nhận được học bổng hai năm ở Berkeley. Trong thời gian ông ở đó, Hamilton đã có một số buổi thuyết trình tại khu đại học và trong một lần, ông có nói rằng ông đang nghiên cứu về giả thuyết Poincaré. Chiến lược dòng Ricci của Hamilton là cực kỳ kỹ thuật và rất khó thực hiện. Sau một buổi thuyết trình ở Berkeley, Hamilton có nói với Perelman về trở ngại lớn nhất của ông ta. Khi một không gian được là trơn bởi dòng Ricci, một số vùng biến dạng thành cái mà các nhà toán học gọi là các điểm kỳ dị. Một số vùng, gọi là “cổ chai”, trở thành những vùng có mật độ vô hạn. Khó khăn nhất đối với Hamilton là loại kỳ dị mà ông gọi là “điếu xìgà”. Nếu như nó xuất hiện, thì Hamilton lo ngại rằng sẽ không thể có được một hình học đều đặn. Perelman thấy rằng bài báo mà ông đã viết về các không gian Alexandrov có thể sẽ giúp Hamilton chứng minh được giả thuyết Thurston – và do đó có cả giả thuyết Poincaré – nếu như Hamilton giải được “bài toán xìgà”. “Có lúc tôi đã hỏi Hamilton có biết một kết quả mà tôi đã chứng minh nhưng chưa công bố – mà bây giờ hoá ra rất hữu ích không”, Perelman nói, “Nhưng sau đó tôi nhận thấy rằng ông đã không hiểu điều tôi nói”.
Vào cuối năm đầu tiên ở Berkeley, Perelman đã viết được một số bài báo hết sức căn bản và độc đáo. Ông được mời đọc báo cáo tại đại hội của I.M.U. vào năm 1994 tại Zurich, Thuỵ Sĩ cùng với một loạt lời mời làm việc tại Stanford, Princeton, viện Nghiên cứu cao cấp và đại học
Tel Aviv. Cũng như Yau, Perelman là một tay chuyên giải toán vĩ đại. Perelman nói với chúng tôi rằng ông thích làm việc trên vài bài toán đồng thời. Tuy nhiên, ở Berkeley ông thấy mình cứ trở đi trở lại với phương trình dòng Ricci của Hamilton và bài toán mà Hamilton nghĩ rằng mình sẽ giải được nhờ phương trình đó.
Cuối cùng ông đã nhận được một số lời mời làm việc. Nhưng ông đều từ chối tất cả và vào mùa hè năm 1995, ông trở về St. Petersburg với công việc cũ của ông ở viện Steklov, nơi ông được trả lương chưa đầy 100 đôla một tháng.
Ở tuổi 29, Perelman đã xác lập được một cách vững chắc vị thế một nhà toán học của mình và đã gỡ bỏ hầu hết những trách nhiệm nghề nghiệp. Ông tự do theo đuổi bất cứ bài toán nào mà mình muốn và ông cũng biết rằng công trình của ông, nếu ông chọn để công bố chúng, đều sẽ được quan tâm một cách nghiêm túc. Yakov Eliashberg, một nhà toán học ở Stanford, người đã quen biết Perelman ở Berkeley, nghĩ rằng ông quay trở về Nga là để nghiên cứu bài toán Poincaré. “Tại sao lại không chứ?”, Perelman nói, khi chúng tôi hỏi ông linh cảm của Eliashberg có đúng không.
- Tuyên chiến
Vào tháng 11.2002, Yau nhận được một email từ một nhà toán học Nga mà tên tuổi của người đó ông còn chưa kịp ghi nhận. Bức thư nói: “Xin được gửi tới ông bài báo của tôi”.
Hôm 28.3.2010, viện toán học Clay công bố trao giải Millennium cho G. Perelman về bài giải giả thuyết Poincaré.
Ngày 11.11 năm đó, Perelman đã đưa lên mạng bài báo 39 trang với nhan đề “Công thức entropy đối với dòng Ricci và những áp dụng của nó trong hình học” trên địa chỉ arXiv.org, một trang web chuyên dùng của các nhà toán học để giới thiệu các bài báo trước khi được công bố trên các tạp chí chuyên ngành (preprint). Sau đó, Perelman gửi bản tóm tắt của bài báo đó theo email cho hơn 10 nhà toán học ở Mỹ, trong đó có Hamilton, Yau và Giang Tian – không có ai trong họ đã nghe nói về ông nhiều năm nay.
Trong bản tóm tắt đó ông đã giải thích rằng ông đã viết một bản phác thảo về “chứng minh có tính chiết trung” của giả thuyết hình học hoá”.
Vượt rào
Perelman không nhắc gì đến chứng minh mà cũng không đưa nó cho ai xem. “Tôi không có những người bạn để bàn luận về chứng minh đó”, ông nói ở St. Petersburg. “Tôi không muốn thảo luận công trình của tôi với người mà tôi không tin cậy”. Việc Perelman đã đưa hú hoạ chứng minh của một giả thuyết nổi tiếng nhất trong toán học lên mạng là sự coi thường những quy ước trong học thuật, nhưng ông cũng đã phải chịu một sự mạo hiểm đáng kể.
Nếu chứng minh là sai, ông sẽ bị sỉ nhục một cách công khai và không có cách nào để ngăn cản một nhà toán học khác tìm ra những sai sót và công bố chiến công của mình. Nhưng Perelman nói rằng ông hoàn toàn không quan tâm. “Lý luận của tôi là thế này: nếu tôi phạm sai lầm và có ai đó dùng công trình của tôi để xây dựng được một chứng minh đúng thì tôi cũng rất hài lòng”, ông nói. “Tôi không bao giờ phô trương là người duy nhất giải được bài toán Poincaré cả”.
Gang Tian (một nhà toán học người Hoa, được xem là đối thủ của Yau) nhận được email của Perelman khi ông đang ở phòng làm việc của mình ở MIT (học viện công nghệ Massachusetts – Mỹ). Ông và Perelman đã rất thân thiện vào năm 1992, khi cả hai ở ĐH New York và hàng tuần đều cùng dự một xêmina toán ở Princeton. “Tôi ngay lập tức nhận thấy tầm quan trọng của nó”, Tian nói về bài báo của Perelman.
Thực tế cái mà Perelman đưa lên mạng chỉ là đợt đầu tiên, nhưng nó đủ để các nhà toán học thấy rằng ông đã hình dung ra phải giải bài toán Poincaré như thế nào. Perelman đã chứng minh rằng các “điếu xì gà” từng gây khó khăn cho Hamilton, có thể không thực sự xảy ra và ông cũng chứng tỏ được rằng bài toán “các cổ chai” cũng sẽ giải quyết được.
“Nếu như ông ta vỗ ngực tuyên bố: “Tôi đã giải được nó” thì chắc chắn ông ta sẽ nhận được một sự chống lại ghê gớm”.
Nhà toán học Frank Quinn, Virginia Tech
Tian bèn viết thư cho Perelman đề nghị ông tới MIT giảng về bài báo của mình. Các đồng nghiệp ở Princeton và Stony Brook cũng đưa ra những lời mời tương tự. Perelman chấp nhận tất và đặt mua vé đi một tháng thỉnh giảng bắt đầu từ tháng 4.2003. “Tại sao lại không?”, ông nhún vai nói với chúng tôi.
Chuyến thỉnh giảng tháng 4 của Perelman được các nhà toán học và báo giới coi như một sự kiện lớn. Rất nhiều người ngồi nghe vô cùng ngạc nhiên khi không thấy Perelman nói gì về giả thuyết Poincaré cả. Frank Quinn, một nhà toán học thuộc Virginia Tech, nói. “Ông ta bắt đầu từ một số điểm then chốt và những tính chất đặc biệt, rồi sau đó trả lời các câu hỏi. Ông ta đã xác lập được sự tin cậy. Nếu như ông ta vỗ ngực tuyên bố: “Tôi đã giải được nó” thì chắc chắn ông ta sẽ nhận được một sự chống lại ghê gớm”.
Phản pháo
Hamilton và Yau sững sờ trước thông báo của Perelman. “Chúng tôi cảm thấy rằng không một ai khác có khả năng tìm ra lời giải”, Yau nói với chúng tôi ở Bắc Kinh. “Nhưng sau đó vào năm 2002, Perelman lại thông báo rằng ông ấy công bố một điều gì đó. Về cơ bản ông ta làm theo một lối tắt trực tiếp hơn chứ không làm tất cả những đánh giá chi tiết như chúng tôi”. Hơn thế nữa, Yau phàn nàn, “chứng minh của Perelman được viết rất lộn xộn mà chúng tôi không sao hiểu được”.
Vào những năm 1960 – 1970, tôpô học đã trở thành một trong những lĩnh vực sinh sôi mạnh nhất của toán học và các nhà tôpô học trẻ tuổi thường xuyên công phá giả thuyết Poincaré. Điều kinh ngạc đối với phần lớn các nhà toán học là các đa tạp 4, 5 và có số chiều cao hơn hoá ra lại dễ chứng minh hơn các đa tạp ba chiều. Vào năm 1982, giả thuyết Poincaré đã được chứng minh với tất cả các số chiều, chỉ trừ có trường hợp ba chiều. Năm 2002, viện toán Clay, một cơ sở tư nhân nhằm khích lệ các nghiên cứu toán học, đã tuyên bố giả thuyết Poincaré là một trong bảy bài toán quan trọng và nổi bật nhất trong toán học và đã đặt ra giải thưởng một triệu đôla cho bất cứ ai chứng minh được nó.
Trong số ra ngày 18.4.2003 của tạp chí nổi tiếng Science, Yau có đăng một bài báo có nói về chứng minh của Perelman: “Nhiều chuyên gia, nhưng không phải tất cả, dường như đã tin rằng Perelman đã thoát được ra khỏi các “điếu xì gà” và thuần dưỡng được các “cổ chai hẹp”. Nhưng về chuyện ông kiểm soát được số các phẫu thuật thì người ta ít tin tưởng hơn. Điều đó chứng tỏ có thể có một lỗi nghiêm trọng, Yau cảnh báo, khi lưu ý rằng rất nhiều những nỗ lực chứng minh khác của giả thuyết Poincaré đều đã từng vấp phải những bước thiếu hụt tương tự”.
Những chứng minh này phải được xem xét một cách hoài nghi cho đến khi các nhà toán học có cơ hội xem xét nó một cách thật kỹ lưỡng, Yau nói với chúng tôi. Cho đến chừng nào, ông nói, “nó không phải là toán nữa mà là tôn giáo”.
Vào giữa tháng 7.2003, Perelman đã đưa lên mạng hai phần cuối cùng của chứng minh của mình và các nhà toán học bắt đầu kiểm tra các bước chứng minh của ông một cách hết sức thận trọng. Ở Mỹ ít nhất có tới hai nhóm chuyên gia nhận làm chuyện này: Gang Tian và John Morgan; và một cặp các nhà nghiên cứu ở đại học Michigan. Cả hai dự án này đều nhận được sự hỗ trợ của viện Clay.
Viện này còn có ý định sẽ công bố công trình của Tian và Morgan dưới dạng một cuốn sách. Cuốn sách, ngoài việc hướng dẫn các nhà toán khác theo dõi được lôgic của Perelman, nó còn là một căn cứ để xét xem có trao cho Perelman giải thưởng một triệu đôla của viện này vì đã giải được bài toán Poincaré hay không. (Để được chọn, chứng minh phải được công bố trên một tạp chí được phản biện nghiêm ngặt và phải chịu được hai năm săm soi của cộng đồng toán học quốc tế).
Perelman nói với chúng tôi: “Tôi không quá lo lắng nhiều cho mình. Đây là một bài toán nổi tiếng. Một số người cần có thời gian để quen với thực tế là đây không còn là một giả thuyết nữa. Cá nhân tôi đã quyết định với mình rằng mình nên tránh xa việc kiểm chứng và không nên tham gia vào tất cả các cuộc gặp gỡ đó. Điều quan trọng đối với tôi là không làm nhiều ảnh hưởng đến quá trình đó”.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)