Yếu tố ngẫu nhiên.
Tất nhiên các mô hình sẽ đều phải có yếu tố ngẫu nhiên, bởi vì thị trường chứng khoán là một hệ động lực rất phức tạp, không ai có thể kiểm soát hết các thành phần trong đó, phải chấp nhận là có những thông tin không được biết, và hệ sẽ bị nhiễu do các thông tin không được biết đó gây ra.
Câu hỏi quan trọng là mô hình các yếu tố ngẫu nhiên (các nhiễu) bằng cái gì ? Trong thế kỷ 20 người ta thường dùng chuyển động Brown làm cơ sở cho mô hình nhiễu. Tuy nhiên chuyển động Brown có tính liên tục, trong khi đó các biến động ngẫu nhiên của thị trường có thể không liên tục (ví dụ thỉnh thoảng xảy ra tai nạn bất ngờ ảnh hưởng mạnh đến giá, làm giá nhảy vọt tại thời điểm nào đó chứ không thay đổi liên tục).
Bởi vậy, để mô hình chính xác hơn, cần cho phép nhiễu tổng quát hơn thay vì là dựa trên random walk hay Brownian movement. (Phải thay chữ walk bằng chữ run, random run, tức là chạy loạn không chỉ đổi hướng lung tung mà lúc nhanh lúc chậm lung tung và thỉnh thoảng còn teleport nữa ). Loại quá trình tương đối tổng quát có thể thích hợp là quá trình Lévy, cho phép có các bước nhảy. Tuy nhiên nếu tổng quát quá, thì lại rất khó khăn trong việc tính toán thực tế. Bởi vậy sau khi làm mô hình chung chung với Lévy tổng quát, lại phải chọn lựa từ đó một số quá trình Lévy cụ thể hơn để có thể tính toán được ?
Yếu tố năng lượng
Chứng khoán cũng tuân theo các qui luật vật lý của chuyển động, trong đó chuyển động do năng lượng tạo nên. Năng lượng có thể chia thành các thành phần như thế năng, động năng, nhiệt năng, hóa năng, v.v. Bản thân việc chuyển động của giá có thể coi là ứng với cơ năng (mechanical energy) gồm có động năng và các thế năng trực tiếp liên quan.
Ví dụ, khi giá cổ phiếu lên quá cao so với giá trị thực của nó, thì những người biết điều đó sẽ dần bán cổ phiếu ra. Bởi vậy giá trị thực tạo thế năng, tạo ra lực kéo giá cổ phiếu về phía giá trị thực. Khi giá cổ phiếu đang đi lên, thì tiếp tục có đà đi lên, bởi các nhà đầu tư bị cuốn hút bởi sự đi lên đó, muốn mua vào để hưởng theo sự đi lên, làm cho tự nó tiếp tục đi lên. Bởi vậy bản thân vận tốc của cổ phiếu tạo động năng, quán tính khiến cho cổ phiếu tiếp tục đi theo hướng của vận tốc.
Chú ý rằng giá cổ phiếu không phải là một hệ đóng, tức là năng lượng của nó có thể thay đổi. Ví dụ như thế năng thay đổi, do giá trị thực của công ty cổ phần thay đổi theo thời gian.
Hóa năng cầng được tính đến khi có thể xảy ra các vụ takeover, M&A, v.v. Thông thường trong hệ cơ học người ta không tính đến hóa năng (coi nó là không đổi, không ảnh hưởng đến chuyển động), nhưng khi hóa năng biến thành cơ năng hoặc ngược lại thì có thể làm thay đổi rất nhiều sự chuyển động ! Đối với một số loại chứng khoán, hay trong những giai đoạn nào đó, có thể bỏ qua yếu tố hóa năng này.
Khi mua bán trên thị trường thì mất các loại tiền lệ phí, chi phí giao dịch, v.v. Nói theo cơ học, thì đó là các thứ ma-xát biến cơ năng thành nhiệt năng, làm giảm cơ năng. Nếu ma-xat nhỏ, thì mô hình có thể bỏ qua yếu tố này.
Phương trình bậc 2.
Do chuyển động của chứng khoán là có năng lượng chứ không phải chỉ có ngẫu nhiên, nên các mô hình chuyển động giá mà dựa trên phương trình vi phân hay sai phân ngẫu nhiên bậc 1 hay được dùng rất thiếu chính xác. Để chính xác hơn, mô hình cần dùng các phương trình bậc 2, với nhiễu cả ở giá và ở vận tốc của giá.
Phương trình bậc 2 cho phép thấy ngay vì sao volatility lại thay đổi theo thời gian, trong khi đó ở phương trình bậc 1 thì việc volatility thay đổi theo thời gian không giải thích được, mà được đưa vào một cách “hơi gượng ép” (dùng stochastic volatility, như kiểu quá trình Uhlenbeck-Ornstein).
Phương trình bậc 2 cũng cho phép thấy việc sập vay nợ bất động sản subprime ở Mỹ dẫn đến khủng hoảng tài chính 2008 là tất yếu, trong khi các mô hình quản lý rủi ro dùng phương trình bậc 1 thời đó không cho phép nhận ra điều này.
Yếu tố thao túng
Trong thực tế, thị trường chứng khoán rất hay bị một nhóm nhỏ các “big players” và “insiders” thao túng, và gây thiệt hại cho các “small players”. Bởi vậy mô hình chứng khoán thực tế cần tính đến yếu tố này, vì nó sẽ cho phép giải thích nhiều hiện tượng, trong đó có sự co giật giá (vọt lên rồi lại vọt xuống hoặc ngược lại, trong thời gian ngắn), sự tự nhiên mất đi hay tự nhiên xuất hiện các momentum lớn về giá.
Câu hỏi: mô mình hóa về mặt toán học các yếu tố thao túng như thế nào?
Micro-macro
Từ quan điểm của các “complex systems”, tức là các hệ có rất nhiều thành phần, thì thị trường chứng khoán cũng là một hệ như vậy. Trong lý thuyết các hệ như vậy, người ta xuất phát từ các qui tắc ở mức vi mô (qui tắc chuyển động và tương tác của từng thành phần với các thành phần khác xung quanh nó) để tìm ra các qui luật vĩ mô. Một số nghiên cứu mới (ví dụ của Lions) đi theo hướng này, dựa trên các mô hình “mean fields”. Hướng này dẫn tới một lý thuyết kiểu “vật lý thống kê” của thị trường, có thể cho phép giải thích tốt hơn mô hình chuyển động cơ học ở mức vĩ mô của thị trường. Các yếu tố thao túng của các big players cũng có thể được đưa vào trong mô hình micro-macro này.
Như vậy, để đảm bảo là mô hình sát thực, cần có thêm cơ sở micro-macro cho mô hình.
Ước lượng và dự đoán
Cuối cùng thì mục đích của các mô hình là để đưa ra được các hàm ước lượng (estimators) và dự đoán, theo nghĩa xác suất thống kê (kèm theo các khoảng tin cậy, độ tin cậy, v.v.) cho giá cả trong tương lại, để dựa vào đó đưa ra các chiến lược đầu tư và quản lý rủi ro hợp lý.
Như vậy, trong việc xây dựng mô hình, cần xây dựng luôn các hàm ước lượng này.
Các ví dụ và các kiểm định
Cần kiểm tra mô hình trên các ví dụ thực tế.
Những bí dụ đơn giản nhất là giá các commodities phổ biến nhất như vàng, dầu hỏa, chỉ số chứng khoán, giá ngoại tệ, v.v. Các chứng khoán đơn lẻ sẽ phức tạp hơn ?
Ví dụ về vàng: về cơ bản, vàng có một giá trị nội tại gần như là hằng số (sau khi đã trừ lạm phát), và giá vàng có lúc lên quá cao có lúc xuống quá thấp so với giá trị nội tại đó. Mô hình của giá vàng là đơn giản nhất, vì nó như là oscillator có nhiễu (cộng thêm một chút lũng đoạn). Từ mô hình đó cần ước lượng:
* Giá trị nội tại của vàng là bao nhiêu (với khoảng tin cậy, độ tin cậy) ?
* Chu kỳ trong bình của giá vàng là bao nhiêu (noisy oscillator thì có chu kỳ trung bình)
* Xu hướng giá ra sao trong tương lai gần, xa ?
Tìm kiếm
Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2011
Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2011
Rủi ro tín dụng, hệ thống tín dụng.
Rủi ro tín dụng mô hình Merton
Rủi ro tín dụng (credit risk) tức là rủi ro về việc người cho vay (giữ các loại trái phiếu, tín phiếu, …) không đòi được nợ vì người vay mất khả năng trả nợ. Do có rủi ro tín dụng, nên giá trị của các khoản nợ bị giảm đi so với là nếu không có rủi ro, và lãi suất của chúng cao hơn lãi suất không có rủi ro. Các mô hình toán tài chính cho phép đánh giá các mức độ rủi ro tín dụng và giá trị của các khoản tín dụng có rủi ro.
Mô hình Merton
Mô hình đơn giản nhất về rủi ro tín dụng được Merton đưa ra vào năm 1974. Vì nó quá đơn giản, nên nó không dùng được trực tiếp trong thực tế, nhưng nó cho phép giải thích nhiều hiện tượng, và làm cơ sở cho các mô hình khác được dùng để tính toán rủi ro tín dụng trong thực tế.
Trong mô hình Merton, có 1 công ty trách nhiệm hữu hạn mà giá trị tài sản (assets, tức là kể cả nợ) tại các thời điểm ký hiệu là , và có một khoản nợ duy nhất phải trả một lần duy nhất một lượng bằng tại mộ t thời điểm trong tương lai.
Tại thời điểm , có 2 tình huống xảy ra:
* Hoặc là , khi đó công ty trả được nợ, và phần chủ sở hữu còn lại sau khi đã trả nợ là . Bên cho công ty vay nợ lấy lại được toàn bộ số tiền theo hợp đồng vào thời điểm
* Hoặc là , khi đó công ty vỡ nợ, chủ sở hữu của công ty mất toàn bộ công ty, và bên cho vay chỉ lấy lại được khoản tiền là thay vì .
Như vậy, nếu ta gọi là giá trị của khoản nợ vào thời điểm , thì ta có:
còn giá trị của công ty (sau khi đã trừ nợ) là thỏa mãn công thức:
Các công thức trên cho thấy chính bằng giá trị tại thời điểm của một call option kiểu Âu với strike price , thời điểm đáo hạn , cho tài sản của công ty. Theo nguyên lý call-put parity, ta có thể viết
trong đó là lãi suất log (lãi kép liên tục) không rủi ro, còn là giá của put option kiểu Âu với strike price , thời điểm đáo hạn , cho tài sản của công ty.
Để tính giá trị của và , Merton dùng mô hình Black-Scholes cho giá option kiểu Âu. Từ đó ta có công thức Black-Scholes cho giá trị của khoản nợ, với thêm hai tham số: lãi suất không rủi ro, và volatility của .
(Tôi sẽ không viết lại công thức Black-Scholes ở đây).
Nếu ta viết thì tức là là lãi suất (có rủi ro) của khoản nợ tại thời điểm . Độ chênh lệch gọi là credit spread (chênh lệch lãi suất), và rủi ro tín dụng càng cao thì chênh lệch lãi suất càng lớn.
Một số hệ quả đơn giản mà quan trọng:
* , trong đó chính là giá trị của khoản vay vào thời điểm nếu như không có rủi ro. Độ chênh lệch chính bằng giá trị của Put kiểu Âu.
* Volatility càng lớn thì rủi ro tín dụng càng cao, chênh lệch lãi suất càng lớn, và giá trị của khoản nợ càng giảm
* Thời điểm đáo hạn càng xa thì rủi ro càng cao.
* càng thấp thì rủi ro tín dụng cũng càng cao.
Chú ý là, trong mô hình Merton, với giả sử các biến khác không đổi, thì khi tiến tới 0 (thời điểm hiện tại) chênh lệch lãi suất cũng tiến tới 0, tức là nếu vay rất ngắn hạn thì có thể coi là không có rủi ro. (Đây là một điều không sát lắm với thực tế). Còn khi tiến đến vô cùng, thì chênh lệch lãi suất không tiến đến vô cùng mà chỉ tiến đến một mức hữu hạn nào đó.
Rủi ro tín dụng Mô hình KMV
KMV là viết tắt tên của 3 người: Stephen Kealhofer, John McQuown and Oldrich Vasicek. Ba ông này thành lập ra công ty KMV vào năm 1989 về quản lý rủi ro, và phát triển mô hình KMV trong những năm 1990. Hiện tại KMV do công ty Moody’s nắm giữ. Đây là một mô hình được giới tài chính dùng rất phổ biến: vào năm 2004 có 40 trong số 50 tập đoàn tài chính lớn nhất thế giới có đăng ký sử dụ mô hình này. Về mặt lý thuyết thì nó là mở rộng không có gì phức tạp lắm của mô hình Merton, nhưng sức mạnh của nó nằm ở công cụ tính toán thực nghiệm và testing dựa trên một cơ sở dữ liệu lớn của KMV.
Đại lượng trọng điểm trong mô hình KMV là xác suất vỡ nợ, gọi là EDF (expected default frequency). EDF là xác suất (theo các con số thực tế) mà một công ty sẽ vỡ nợ (default) trong vòng 1 năm theo phương pháp tính toán của KMV.
Trong mô hình Merton, thì vỡ nợ xả ray trong trường hợp (tức là giá trị tài sản của công ty sau 1 năm nhỏ hơn số tiền phải trả sau 1 năm), và xác suất để điều đó xảy ra là:
với giả sử giá trị tài sản của công ty thỏa mãn phương trình vi phân ngẫu nhiên
Ở đây là hàm phân phối xác suất toàn phần của phân bố normal chuẩn tắc.
Trong mô hình KMV, thì EDF có cấu trúc tương tự như là trong mô hình Merton, thế nhưng hàm EDF này được tính bằng các dữ liệu thực nghiệm thay vì tính qua công thức sử dụng phân bố normal chuẩn tắc và volatility.
Ước lượng giá trị tài sản
Một điểm khác biệt nữa của mô hình KMV so với Merton là, trong mô hình KMV, đại lượng (giá trị tại sản của công ty tại thời điểm ban đầu) không được coi là có thể quan sát trực tiếp được (vì các con số trong sổ sách kế toán nhiều khi không phản ánh được đúng giá trị), mà nó được ước lượng thông qua giá trị của các đại lượng khác, như là equity của công ty, là thứ dễ đánh giá hơn (equity đánh giá theo market cap của công ty trên thị trường chứng khoán !). Phương pháp KMV để ước lượng từ là dùng phép lặp (iteration).
Ví dụ, theo mô hình Merton, ta có thể viết như là một hàm số:
( là giá cả call kiểu Âu tính theo công thức Black-Scholes)
Giả sử ta đã biết (cho một khoảng thời gian nào đó). Để tính ngược lại được theo công thức trên thì cần biết thêm . Nhưng ta chưa biết bằng bao nhiêu, nên ta bắt đầu bằng một đại lượng nào đó, lắp vào công thức trên tính ra được các giá trị của , rồi tính ra được mới (= volatility thực nghiệm) theo các đại lượng đó của , lắp mới đó vào công thức, ta lại được một dãy giá trị mới của , rồi cứ tiếp tục như vậy. (Phương pháp iteration này tương tự như phương pháp Newton để tìm nghiệm của phương trình; ở đây ta phải tìm được sigma sao cho V tương ứng có độ lệch chuẩn thực nghiệm đúgn bằng sigma).
Phương trình dùng trong thực tế phức tạp hơn là phương trình theo công thức Black-Scholes phía trên, vì cấu trúc của các công ty trong thực tế phức tạp hơn nhiều là chỉ có 1 khoản nợ như là trong mô hình Black-Scholes, nhưng cách tính vẫn là như vậy, dùng iteration để giải phương trình hàm ẩn và tính ra và .
Tính EDF
Sau khi đă tính được và , mô hình KMV thiết lập một đại lượng sau, gọi làdistance to default (DD — khoảng cách đến vỡ nợ):
Ở đây không phải là toàn bộ số nợ của công ty, mà chỉ là default threshold, tức là số nợ ảnh hưởng đến việc vỡ nợ trong 1 năm, trong 1 năm nếu khôn trả được số tiền đó thì vỡ nợ.
Ý tưởng của KMV là có thể coi EDF như là hàm của DD: nếu DD càng lớn thì xác suất vỡ nợ trong 1 năm càng thấp. Hàm này được tính từ thự nghiệm (bằng số hãng có cùng DD bị default trong 1 năm chia cho tống số hãng có cùng DD) dựa trên cơ sỡ dữ liệu của KMV.
Ví dụ.
Ví dụ này là về công ty Philip Morris vào năm 2001, lấy từ Crosbie & Bohn (2002) (có trên trang web www.kmv.com)
Market value of equity S_0: 111680 (triệu USD) (market cap theo giá thị trường)
Overall book liabilities B: 64062 (từ sổ sách kế toán)
Market value of assets V_0: 170558
Volatility sigma_V: 0.21
(hai đại lượng này tính theo phương pháp iteration của KMV)
Default threshold: 47499 (nợ phải trả trong 1 năm)
DD: 3.5
EDF (1 năm): 0.25%
(có nghĩa là tính theo thực nghiệm, thì các công ty có DD= 3.5 sẽ có EDF = 0.25%)
Bài tập:
Vì sao trong ví dụ trên ta có ?
Câu hỏi thắc mắc:
Tại sao KMV lại tính DD như trên, mà không phải là chia cho thay vì chia cho có phải hợp lý hơn không ?! Tức là tại sao không dùng công thức
?!
Rủi ro tín dụng Mô hình chuyển hạng tín dụng
Chuyển hạng tín dụng (credit migration) là việc cho credit rating cho các công ty và thay đổi credit rating của công ty theo thời gian tùy theo sự tốt lên hay tồi đi của tình hình tài chính của công ty. Mô hình được dùng phổ biến trong thực tế về credit migration gọi là CreditMetrics của JPMorgan và RiskMetrics Group.
Trong mô hình này, ta có một ma trận credit migration matrix: các phần tử trong đó là các xác suất (tần số) để một công ty đang được xếp hạng credit rating này chuyển sang hạng credit rating khác sau 1 năm. Ví dụ, xác suất để 1 công ty từ hạng BB lên hạng BBB sau 1 năm là 7.73%.
Có thể xem ma trận này trong trang 339 của quyển sách McNeil/Frey/Embrechts (tôi lười không copy lại đây). Xác suất giữ nguyên hạng là cao nhất (từ 65% đến 91% tùy vào là hạng gì) còn các xác suất lên hạng đều thấp (cao nhất là lên từ CCC thành B, được 11%, tức là có 11% số công ty “gần chết” ngoi lên thành “thoi thóp lại” sau 1 năm, trong khi đó 20% số công ty “gần chết” sau 1 năm thành “chết hẳn”).
Theo mô hình này, thì việc chuyển hạn tuân theo nguyên tắc xích Markov, có nghĩa là để tính ma trận chuyển hạng tín dụng sau N năm, chỉ việc lấy lũy thừa bậc N của ma trận 1 năm.
Một điều thú vị theo mô hình này là, khi N tiến tới vô cùng, thì xác suất phá sản tiến tới 1 (dù cho credit rating ban đầu có là AAA). Điều này hợp với thực tế, vì trong số các hãng lớn cách đây 1 thế kỷ, chỉ còn rất ít hãng tồn tại nguyên hình vào thời điểm hiện tại (trong khi đó thì phần lớn các hãng lớn hiện tại còn tương đối trẻ). In the long term, we are all dead
Rủi ro tổng hợp: độ đo rủi ro nhất quán
Bài này tóm tắt một số ý trong Chương 6 của sách McNeil/Frey/Embrechts về quản lý rủi ro.
Rủi ro tổng hợp (aggregate risk) được hiểu ở đây là rủi ro của một rổ tài sản, tổng hợp lại từ các rủi ro của các tài sản trong rổ.
Một trong những vấn đề đặt ra là xây dựng các thước đo rủi ro tổng hợp thế nào ?
Coherent risk measure
Artzner et al. đưa ra khái niệm coherent risk measure (độ đo rủi ro nhất quán) như là các thước đo rủi ro tổng hợp trong một bài báo vào năm 1999: Artzner, Philippe; Delbaen, Freddy; Eber, Jean-Marc; Heath, David (1999). “Coherent Measures of Risk” (pdf).Mathematical Finance 9 (3): 203–228.http://www.math.ethz.ch/~delbaen/ftp/preprints/CoherentMF.pdf, và từ đó khái niệm này đã trở thành một khái niệm quan trọng trong lý thuyết quản lý rủi ro.
Ý tưởng như sau:
Giả sử ta có một rổ tài sản và vay nợ (assets & liabilities, ví dụ như ngân hàng vừ đi vay vừa cho vay, hay là nhà đầu tư vay tiền mua chứng khoán, hay là công ty vừa có assets vừa có liabilities), ta sẽ gọi là V. Vào một thời điểm tương lai, thì rổ tài sản và vay nợ của ta có thể bị lỗ, tùy theo tình huống xảy ra. Ta sẽ thiết lập một biến ngẫu nhiên (trên một mô hình không gian xác suất nào đó) cho độ lỗ của rổ tài sản/vay nợ ( , tình huống nào mà không bị lỗ thì ). Câu hỏi đặt ra là, với giả sử ta đã biết biến ngẫu nhiên (tức là biết phân phối xác suất của nó), hỏi rằng equity của ta trong rổ tài sản/nợ phải tối thiểu là bao nhiêu thì “chấp nhận được” (theo nghĩa đảm bảo an toàn, ở mức độ hợp lý nào đó) ?
Ví dụ như, các công ty chứng khoán cho nhà đầu tư vay để mua chứng khoán, nhưng có đặt các định mức là chỉ được vay đến mức nào đó thôi nếu có bao nhiêu tiền và mua những loại chứng khoán gì. Tài khoản mà bị vay quá mức chấp nhận được (không còn đủ mức an toàn nữa đối với công ty chứng khoán, có nguy cơ giá trị về âm), thì nhà đầu tư phải nộp thêm tiền vào hoặc bán bớt các chứng khoán trong tài khoản đi để trả nợ.
Như vậy, với mỗi biến ngẫu nhiên dạng “độ lỗ của 1 tài khoản trong các tình huống” ta cần xác định được một số nào đó, là equity tối thiểu chấp nhận được của tài khoản. Nếu với mỗi ta xác định được trên một tập hợp các biến ngẫu nhiên dạng “độ lỗ của một tài khoản”, thì tức là ta có một hàm số trên tập hợp đó. Nếu như equity của tài khoản mà vượt quá , thì có thể hiểu như là tài khoản đang “thừa margin” và có thể rút bớt một phần tiền ra khỏi tài khoản vẫn chấp nhận được. Còn nếu equity thấp hơn thì phải rót thêm tiền mặt vào tài khoản cho đủ yêu cầu về margin.
Người ta giả sử là một tập hình nón lồi (tức là nếu và thuộc và là hai số dương thì cũng thuộc , vì ta hình dung là có thể tạo một tài khoản mà biến “độ lỗ” của nó chính bằng ).
Một hàm như trên được gọi là một độ đo rủi ro nhất quán (coherent risk measure) nếu nó thỏa mãn 4 tiên đề sau:
Tiên đề 1. (Translation invariance). Nếu là một hằng số thì
Ý nghĩa của tiên đề này khá hiển nhiên: nếu biết chắc chắn sẽ bị lỗ thêm một khoản nữa, thì phải bỏ thêm một lượng tiền vào tài khoản để bù lại. (Ở đây lãi suất bị bỏ qua ?!)
Tiên đề 2. (Subadditivity). Với tùy ý ta có
Ý nghĩa tiên đề này cũng khá hiển nhiên: nếu ta có 2 tài khoản đề thỏa mãn yêu cầu về margin, và ta gộp lại coi chúng như là 1 tài khoản gồm 2 phần, thì tài khoản gộp lại như vậy cũng thỏa mãn yêu cầu về margin.
Tiên đề 3. (Positive homogeneity). Nếu là một hằng số thì
Ý nghĩa của nó, nói một cách nôm na, là nếu ta nhân đôi tài khoản lên, thì độ rủi ro cũng tăng lên gấp đôi, và do đó yêu cầu về margin cũng tăng gấp đôi.
Tiên đề 4. (Monotonicity). Nếu (trong hầu hết mọi tình huống), thì ta cũng có
Ý nghĩa của tiên đề 4 cũng khá hiển nhiên.
Ví dụ:
Value at risk (VaR) không phải là một độ đo rủi ro nhất quán, vì nó không thỏa mãn tiên đề 2. Expected shortfall thì là một độ đo rủi ro nhất quán.
Rủi ro tín dụng (credit risk) tức là rủi ro về việc người cho vay (giữ các loại trái phiếu, tín phiếu, …) không đòi được nợ vì người vay mất khả năng trả nợ. Do có rủi ro tín dụng, nên giá trị của các khoản nợ bị giảm đi so với là nếu không có rủi ro, và lãi suất của chúng cao hơn lãi suất không có rủi ro. Các mô hình toán tài chính cho phép đánh giá các mức độ rủi ro tín dụng và giá trị của các khoản tín dụng có rủi ro.
Mô hình Merton
Mô hình đơn giản nhất về rủi ro tín dụng được Merton đưa ra vào năm 1974. Vì nó quá đơn giản, nên nó không dùng được trực tiếp trong thực tế, nhưng nó cho phép giải thích nhiều hiện tượng, và làm cơ sở cho các mô hình khác được dùng để tính toán rủi ro tín dụng trong thực tế.
Trong mô hình Merton, có 1 công ty trách nhiệm hữu hạn mà giá trị tài sản (assets, tức là kể cả nợ) tại các thời điểm ký hiệu là , và có một khoản nợ duy nhất phải trả một lần duy nhất một lượng bằng tại mộ t thời điểm trong tương lai.
Tại thời điểm , có 2 tình huống xảy ra:
* Hoặc là , khi đó công ty trả được nợ, và phần chủ sở hữu còn lại sau khi đã trả nợ là . Bên cho công ty vay nợ lấy lại được toàn bộ số tiền theo hợp đồng vào thời điểm
* Hoặc là , khi đó công ty vỡ nợ, chủ sở hữu của công ty mất toàn bộ công ty, và bên cho vay chỉ lấy lại được khoản tiền là thay vì .
Như vậy, nếu ta gọi là giá trị của khoản nợ vào thời điểm , thì ta có:
còn giá trị của công ty (sau khi đã trừ nợ) là thỏa mãn công thức:
Các công thức trên cho thấy chính bằng giá trị tại thời điểm của một call option kiểu Âu với strike price , thời điểm đáo hạn , cho tài sản của công ty. Theo nguyên lý call-put parity, ta có thể viết
trong đó là lãi suất log (lãi kép liên tục) không rủi ro, còn là giá của put option kiểu Âu với strike price , thời điểm đáo hạn , cho tài sản của công ty.
Để tính giá trị của và , Merton dùng mô hình Black-Scholes cho giá option kiểu Âu. Từ đó ta có công thức Black-Scholes cho giá trị của khoản nợ, với thêm hai tham số: lãi suất không rủi ro, và volatility của .
(Tôi sẽ không viết lại công thức Black-Scholes ở đây).
Nếu ta viết thì tức là là lãi suất (có rủi ro) của khoản nợ tại thời điểm . Độ chênh lệch gọi là credit spread (chênh lệch lãi suất), và rủi ro tín dụng càng cao thì chênh lệch lãi suất càng lớn.
Một số hệ quả đơn giản mà quan trọng:
* , trong đó chính là giá trị của khoản vay vào thời điểm nếu như không có rủi ro. Độ chênh lệch chính bằng giá trị của Put kiểu Âu.
* Volatility càng lớn thì rủi ro tín dụng càng cao, chênh lệch lãi suất càng lớn, và giá trị của khoản nợ càng giảm
* Thời điểm đáo hạn càng xa thì rủi ro càng cao.
* càng thấp thì rủi ro tín dụng cũng càng cao.
Chú ý là, trong mô hình Merton, với giả sử các biến khác không đổi, thì khi tiến tới 0 (thời điểm hiện tại) chênh lệch lãi suất cũng tiến tới 0, tức là nếu vay rất ngắn hạn thì có thể coi là không có rủi ro. (Đây là một điều không sát lắm với thực tế). Còn khi tiến đến vô cùng, thì chênh lệch lãi suất không tiến đến vô cùng mà chỉ tiến đến một mức hữu hạn nào đó.
Rủi ro tín dụng Mô hình KMV
KMV là viết tắt tên của 3 người: Stephen Kealhofer, John McQuown and Oldrich Vasicek. Ba ông này thành lập ra công ty KMV vào năm 1989 về quản lý rủi ro, và phát triển mô hình KMV trong những năm 1990. Hiện tại KMV do công ty Moody’s nắm giữ. Đây là một mô hình được giới tài chính dùng rất phổ biến: vào năm 2004 có 40 trong số 50 tập đoàn tài chính lớn nhất thế giới có đăng ký sử dụ mô hình này. Về mặt lý thuyết thì nó là mở rộng không có gì phức tạp lắm của mô hình Merton, nhưng sức mạnh của nó nằm ở công cụ tính toán thực nghiệm và testing dựa trên một cơ sở dữ liệu lớn của KMV.
Đại lượng trọng điểm trong mô hình KMV là xác suất vỡ nợ, gọi là EDF (expected default frequency). EDF là xác suất (theo các con số thực tế) mà một công ty sẽ vỡ nợ (default) trong vòng 1 năm theo phương pháp tính toán của KMV.
Trong mô hình Merton, thì vỡ nợ xả ray trong trường hợp (tức là giá trị tài sản của công ty sau 1 năm nhỏ hơn số tiền phải trả sau 1 năm), và xác suất để điều đó xảy ra là:
với giả sử giá trị tài sản của công ty thỏa mãn phương trình vi phân ngẫu nhiên
Ở đây là hàm phân phối xác suất toàn phần của phân bố normal chuẩn tắc.
Trong mô hình KMV, thì EDF có cấu trúc tương tự như là trong mô hình Merton, thế nhưng hàm EDF này được tính bằng các dữ liệu thực nghiệm thay vì tính qua công thức sử dụng phân bố normal chuẩn tắc và volatility.
Ước lượng giá trị tài sản
Một điểm khác biệt nữa của mô hình KMV so với Merton là, trong mô hình KMV, đại lượng (giá trị tại sản của công ty tại thời điểm ban đầu) không được coi là có thể quan sát trực tiếp được (vì các con số trong sổ sách kế toán nhiều khi không phản ánh được đúng giá trị), mà nó được ước lượng thông qua giá trị của các đại lượng khác, như là equity của công ty, là thứ dễ đánh giá hơn (equity đánh giá theo market cap của công ty trên thị trường chứng khoán !). Phương pháp KMV để ước lượng từ là dùng phép lặp (iteration).
Ví dụ, theo mô hình Merton, ta có thể viết như là một hàm số:
( là giá cả call kiểu Âu tính theo công thức Black-Scholes)
Giả sử ta đã biết (cho một khoảng thời gian nào đó). Để tính ngược lại được theo công thức trên thì cần biết thêm . Nhưng ta chưa biết bằng bao nhiêu, nên ta bắt đầu bằng một đại lượng nào đó, lắp vào công thức trên tính ra được các giá trị của , rồi tính ra được mới (= volatility thực nghiệm) theo các đại lượng đó của , lắp mới đó vào công thức, ta lại được một dãy giá trị mới của , rồi cứ tiếp tục như vậy. (Phương pháp iteration này tương tự như phương pháp Newton để tìm nghiệm của phương trình; ở đây ta phải tìm được sigma sao cho V tương ứng có độ lệch chuẩn thực nghiệm đúgn bằng sigma).
Phương trình dùng trong thực tế phức tạp hơn là phương trình theo công thức Black-Scholes phía trên, vì cấu trúc của các công ty trong thực tế phức tạp hơn nhiều là chỉ có 1 khoản nợ như là trong mô hình Black-Scholes, nhưng cách tính vẫn là như vậy, dùng iteration để giải phương trình hàm ẩn và tính ra và .
Tính EDF
Sau khi đă tính được và , mô hình KMV thiết lập một đại lượng sau, gọi làdistance to default (DD — khoảng cách đến vỡ nợ):
Ở đây không phải là toàn bộ số nợ của công ty, mà chỉ là default threshold, tức là số nợ ảnh hưởng đến việc vỡ nợ trong 1 năm, trong 1 năm nếu khôn trả được số tiền đó thì vỡ nợ.
Ý tưởng của KMV là có thể coi EDF như là hàm của DD: nếu DD càng lớn thì xác suất vỡ nợ trong 1 năm càng thấp. Hàm này được tính từ thự nghiệm (bằng số hãng có cùng DD bị default trong 1 năm chia cho tống số hãng có cùng DD) dựa trên cơ sỡ dữ liệu của KMV.
Ví dụ.
Ví dụ này là về công ty Philip Morris vào năm 2001, lấy từ Crosbie & Bohn (2002) (có trên trang web www.kmv.com)
Market value of equity S_0: 111680 (triệu USD) (market cap theo giá thị trường)
Overall book liabilities B: 64062 (từ sổ sách kế toán)
Market value of assets V_0: 170558
Volatility sigma_V: 0.21
(hai đại lượng này tính theo phương pháp iteration của KMV)
Default threshold: 47499 (nợ phải trả trong 1 năm)
DD: 3.5
EDF (1 năm): 0.25%
(có nghĩa là tính theo thực nghiệm, thì các công ty có DD= 3.5 sẽ có EDF = 0.25%)
Bài tập:
Vì sao trong ví dụ trên ta có ?
Câu hỏi thắc mắc:
Tại sao KMV lại tính DD như trên, mà không phải là chia cho thay vì chia cho có phải hợp lý hơn không ?! Tức là tại sao không dùng công thức
?!
Rủi ro tín dụng Mô hình chuyển hạng tín dụng
Chuyển hạng tín dụng (credit migration) là việc cho credit rating cho các công ty và thay đổi credit rating của công ty theo thời gian tùy theo sự tốt lên hay tồi đi của tình hình tài chính của công ty. Mô hình được dùng phổ biến trong thực tế về credit migration gọi là CreditMetrics của JPMorgan và RiskMetrics Group.
Trong mô hình này, ta có một ma trận credit migration matrix: các phần tử trong đó là các xác suất (tần số) để một công ty đang được xếp hạng credit rating này chuyển sang hạng credit rating khác sau 1 năm. Ví dụ, xác suất để 1 công ty từ hạng BB lên hạng BBB sau 1 năm là 7.73%.
Có thể xem ma trận này trong trang 339 của quyển sách McNeil/Frey/Embrechts (tôi lười không copy lại đây). Xác suất giữ nguyên hạng là cao nhất (từ 65% đến 91% tùy vào là hạng gì) còn các xác suất lên hạng đều thấp (cao nhất là lên từ CCC thành B, được 11%, tức là có 11% số công ty “gần chết” ngoi lên thành “thoi thóp lại” sau 1 năm, trong khi đó 20% số công ty “gần chết” sau 1 năm thành “chết hẳn”).
Theo mô hình này, thì việc chuyển hạn tuân theo nguyên tắc xích Markov, có nghĩa là để tính ma trận chuyển hạng tín dụng sau N năm, chỉ việc lấy lũy thừa bậc N của ma trận 1 năm.
Một điều thú vị theo mô hình này là, khi N tiến tới vô cùng, thì xác suất phá sản tiến tới 1 (dù cho credit rating ban đầu có là AAA). Điều này hợp với thực tế, vì trong số các hãng lớn cách đây 1 thế kỷ, chỉ còn rất ít hãng tồn tại nguyên hình vào thời điểm hiện tại (trong khi đó thì phần lớn các hãng lớn hiện tại còn tương đối trẻ). In the long term, we are all dead
Rủi ro tổng hợp: độ đo rủi ro nhất quán
Bài này tóm tắt một số ý trong Chương 6 của sách McNeil/Frey/Embrechts về quản lý rủi ro.
Rủi ro tổng hợp (aggregate risk) được hiểu ở đây là rủi ro của một rổ tài sản, tổng hợp lại từ các rủi ro của các tài sản trong rổ.
Một trong những vấn đề đặt ra là xây dựng các thước đo rủi ro tổng hợp thế nào ?
Coherent risk measure
Artzner et al. đưa ra khái niệm coherent risk measure (độ đo rủi ro nhất quán) như là các thước đo rủi ro tổng hợp trong một bài báo vào năm 1999: Artzner, Philippe; Delbaen, Freddy; Eber, Jean-Marc; Heath, David (1999). “Coherent Measures of Risk” (pdf).Mathematical Finance 9 (3): 203–228.http://www.math.ethz.ch/~delbaen/ftp/preprints/CoherentMF.pdf, và từ đó khái niệm này đã trở thành một khái niệm quan trọng trong lý thuyết quản lý rủi ro.
Ý tưởng như sau:
Giả sử ta có một rổ tài sản và vay nợ (assets & liabilities, ví dụ như ngân hàng vừ đi vay vừa cho vay, hay là nhà đầu tư vay tiền mua chứng khoán, hay là công ty vừa có assets vừa có liabilities), ta sẽ gọi là V. Vào một thời điểm tương lai, thì rổ tài sản và vay nợ của ta có thể bị lỗ, tùy theo tình huống xảy ra. Ta sẽ thiết lập một biến ngẫu nhiên (trên một mô hình không gian xác suất nào đó) cho độ lỗ của rổ tài sản/vay nợ ( , tình huống nào mà không bị lỗ thì ). Câu hỏi đặt ra là, với giả sử ta đã biết biến ngẫu nhiên (tức là biết phân phối xác suất của nó), hỏi rằng equity của ta trong rổ tài sản/nợ phải tối thiểu là bao nhiêu thì “chấp nhận được” (theo nghĩa đảm bảo an toàn, ở mức độ hợp lý nào đó) ?
Ví dụ như, các công ty chứng khoán cho nhà đầu tư vay để mua chứng khoán, nhưng có đặt các định mức là chỉ được vay đến mức nào đó thôi nếu có bao nhiêu tiền và mua những loại chứng khoán gì. Tài khoản mà bị vay quá mức chấp nhận được (không còn đủ mức an toàn nữa đối với công ty chứng khoán, có nguy cơ giá trị về âm), thì nhà đầu tư phải nộp thêm tiền vào hoặc bán bớt các chứng khoán trong tài khoản đi để trả nợ.
Như vậy, với mỗi biến ngẫu nhiên dạng “độ lỗ của 1 tài khoản trong các tình huống” ta cần xác định được một số nào đó, là equity tối thiểu chấp nhận được của tài khoản. Nếu với mỗi ta xác định được trên một tập hợp các biến ngẫu nhiên dạng “độ lỗ của một tài khoản”, thì tức là ta có một hàm số trên tập hợp đó. Nếu như equity của tài khoản mà vượt quá , thì có thể hiểu như là tài khoản đang “thừa margin” và có thể rút bớt một phần tiền ra khỏi tài khoản vẫn chấp nhận được. Còn nếu equity thấp hơn thì phải rót thêm tiền mặt vào tài khoản cho đủ yêu cầu về margin.
Người ta giả sử là một tập hình nón lồi (tức là nếu và thuộc và là hai số dương thì cũng thuộc , vì ta hình dung là có thể tạo một tài khoản mà biến “độ lỗ” của nó chính bằng ).
Một hàm như trên được gọi là một độ đo rủi ro nhất quán (coherent risk measure) nếu nó thỏa mãn 4 tiên đề sau:
Tiên đề 1. (Translation invariance). Nếu là một hằng số thì
Ý nghĩa của tiên đề này khá hiển nhiên: nếu biết chắc chắn sẽ bị lỗ thêm một khoản nữa, thì phải bỏ thêm một lượng tiền vào tài khoản để bù lại. (Ở đây lãi suất bị bỏ qua ?!)
Tiên đề 2. (Subadditivity). Với tùy ý ta có
Ý nghĩa tiên đề này cũng khá hiển nhiên: nếu ta có 2 tài khoản đề thỏa mãn yêu cầu về margin, và ta gộp lại coi chúng như là 1 tài khoản gồm 2 phần, thì tài khoản gộp lại như vậy cũng thỏa mãn yêu cầu về margin.
Tiên đề 3. (Positive homogeneity). Nếu là một hằng số thì
Ý nghĩa của nó, nói một cách nôm na, là nếu ta nhân đôi tài khoản lên, thì độ rủi ro cũng tăng lên gấp đôi, và do đó yêu cầu về margin cũng tăng gấp đôi.
Tiên đề 4. (Monotonicity). Nếu (trong hầu hết mọi tình huống), thì ta cũng có
Ý nghĩa của tiên đề 4 cũng khá hiển nhiên.
Ví dụ:
Value at risk (VaR) không phải là một độ đo rủi ro nhất quán, vì nó không thỏa mãn tiên đề 2. Expected shortfall thì là một độ đo rủi ro nhất quán.
Thứ Năm, 17 tháng 3, 2011
Quản lý rủi ro trong đầu tư chứng khoán
Các thống kê trên thế giới đều cho thấy, về lâu dài, đầu tư vào cổ phiếu của các công ty cổ phần là hình thức đầu tư cho lợi nhuận cao hơn đáng kể so với các hình thức đầu tư khác như vàng bạc, tiền gửi tiết kiệm, trái phiếu, bất động sản. Tuy nhiên, đi kèm với mức lợi nhuận trung bình cao hơn đó, cũng là mức rủi ro cao hơn. Có rất nhiều nhà đầu tư, kể cả những quĩ đầu tư lớn hàng tỷ USD, không những không có lãi mà còn bị thua lỗ nặng, thậm chí phá sản. Bởi vậy, việc quản lý rủi ro để ngăn ngừa thua lỗ là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các nhà đầu tư cá nhân cũng như tổ chức. Ở đây tôi muốn điểm qua các loại hình rủi ro trong đầu tư chứng khoán (chủ yếu là cổ phiếu), và các biện pháp hữu hiệu để đề phòng các rủi ro đó. (Nói thì dễ, nhưng thực hiện được cũng không phải dễ đâu !).
Rủi ro về khả năng quản lý:
Việc quản lý danh mục đầu tư nói chúng, và quản lý rủi ro nói riêng, đòi hỏi nhiều sức lực, kiến thức, kinh nghiệm, v.v. Có rất nhiều việc phải làm trong đầu tư: thu thập thông tin, phân tích đầu tư, quyết định đầu tư, theo dõi và xử lý các đầu tư, v.v. Một người riêng lẻ có thể không đủ khả năng để làm tất cả những việc đó một cách có hiệu quả, dễ dẫn đến nhiều sai lầm gây thiệt hại đồng thời bỏ lỡ nhiều cơ hội đầu tư tốt.
Cách phòng chống:
- Cần có những người đáng tin cậy giúp đỡ trong quản lý đầu tư.
- Đầu tư có tổ chức: một tổ chức đầu tư, có phân công công việc, sẽ hiệu quả hơn nhiều so với một cá nhân tự làm mọi thứ.
- Nếu không phải là thành viên của một tổ chức đầu tư, hay là được những người có trình độ và đáng tin tưởng giúp đỡ, thì tốt nhất là không nên tự đầu tư, mà gửi tiền cho một quĩ nào đó đáng tin.
- Học các kiến thức về tài chính và đầu tư. Càng hiểu biết nhiều về tài chính càng thuận lợi.
Rủi ro về bị lừa đảo:
Chuyện lừa đảo xảy ra hàng ngày như cơm bữa trên các thị trường chứng khoán thế giới, ở nhiều dạng khác nhau, ví dụ như:
- Công ty cổ phần làm giả các số liệu tài chính
- Các công ty chứng khoán hay các cá nhân lũng đoạn giá trên thị trường
- Các cò mồi, có thể là các phân tích viên, kích động nhà đầu tư mua bán dựa trên các tin đồn hay phân tích rởm.
- Giao dịch nội gián, giám đốc rút ruột công ty, v.v.
Trong tất cả các vụ lừa đảo như vậy, thì người bị thiệt hại là các nhà đầu tư.
Cách phòng chống:
- Tránh xa các cổ phiếu nhỏ, ít thông tin, ít người quan tâm, trừ khi tiếp cận được với các giám đốc điều hành đang tin cậy của các công ty đó. Càng nhỏ, càng ít thông tin, càng dễ bị lừa đảo và lũng đoạn.
- Khi cổ phiếu đang giữ là của doanh nghiệp có dấu hiệu lừa đảo, thì loại nó khỏi danh mục đầu tư, kiểm tra lại cẩn thận trước khi quyết định có nên đầu tư vào lại cổ phiếu đó không.
- Xây dựng khả năng tự phân tích và thu thập thông tin, tự xác định được giá trị của các cổ phiếu, để khỏi bị các cò mồi kích động.
Rủi ro về thiếu thông tin:
- Thiếu thông tin đáng tin cậy, đặc biệt là đối với các cổ phiếu nhỏ, để có thể dựa vào đó phân tích giá trị cổ phiếu và phân tích biến động giá.
- Vấn đề thông tin bất đối xứng: Có một số ‘”tay trong” nắm được thông tin tốt hơn và sớm hơn, mua bán dựa trên các thông tin đó, còn những người khác không hề nhận được thông tin, hoặc chỉ nhận được khi đã muộn.
Cách phòng chống:
- Tương tự như đối với rủi ro lừa đảo, tránh các cổ phiếu nào mà thiếu thông tin đáng tin cậy, đặc biệt là các cổ phiếu nhỏ, mờ ám.
- Dành công sức, thời gian và tiền chi phí một cách thích đáng cho việc thu thập thông tin.
Rủi ro về ước lượng sai giá trị:
- Việc ước lượng giá trị thật của cổ phiếu không đơn giản, và những người khác nhau có thể cho các ước lượng chênh nhau đến vài lần, trong đó có những người quá lạc quan và người quá bi quan.
- Nếu lạc quan quá, ước lượng giá trị cao quá so với giá trị thật, thì có thể sẽ thành mua cổ phiếu đẳ hơn so với giá trị thật, và nếu sau đó giá cổ phiếu giảm về giá trị thật thì thua lỗ.
Cách phòng chống:
- Đệm an toàn về giá trị: Chỉ đầu tư khi mà giá trị trường thấp hơn rất đáng kể (ví dụ chỉ bằng 1/2) so với ước lượng giá trị thật.
- Cần tích lũy kinh nghiệm phân tích, hoặc dựa trên sự tham mưu của những người nào đó đáng tin cậy trong việc phân tích.
- Phân tích cần dựa trên các mô hình hợp lý và các nguồn tin đáng tin cậy.
- Đối với các ứng cử viên mới cho danh mục đầu tư: cần có đủ thời gian phân tích (ít ra 1 tháng), để có thể hiểu rõ các công ty và giá trị của chúng trước khi đầu tư, không vội vàng nhảy vào mua nhiều khi chưa biết rõ các lắt léo bên trong.
Rủi ro về hoạt động của doanh nghiệp:
Có những rủi ro có thể bất ngờ xảy đến với các doanh nghiệp, làm giảm giá trị của doanh nghiệp, không dự đoán trước được. Ví dụ như thiên tai xảy ra ở Nhật Bản, không những chỉ gây thiệt hại cho người Nhật, mà còn gây thiệt hại cho các doanh nghiệp nước ngoài có liên quan, đặc biệt là các công ty bảo hiểm có bán bảo hiểm ở Nhật. Các công ty năng lượng hạt nhân cũng giảm giá trị rất nhiều sau vụ tai nạn nhà máy điện nguyên tử ở Nhật, vì cả thế giới hoãn lại các chương trình điện hạt nhân. Một công ty (ví dụ Yahoo) đang có thế cạnh tranh rất mạnh trong lĩnh vực nào đó, nhưng đến khi xuất hiện một công ty mới (ví dụ Google) có khả năng cạnh tranh mạnh hơn, thì giá trị của công ty đầu cũng bị giảm đi, v.v.
Cách phòng chống:
- Đa dạng hóa, để nếu cổ phiếu này bị rủi ro về doanh nghiệp thì có cổ phiếu khác bụ lại
- Chọn lựa cổ phiếu của cách doanh nghiệp đang mạnh và tương đối ít rủi ro, loại khỏi danh mục đầu tư những doanh nghiệp có nhiều nguy cơ suy yếu hay phá sản (ví dụ như nợ quá nhiều mà tỷ lệ lợi nhuận kém, công nghệ lỗi thời, v.v.).
Rủi ro biến động giá thị trường:
- Thị trường cổ phiếu là irrational, và giá cổ phiếu có thể biến động mạnh trong ngắn hạn, nhiều khi lên cao hơn nhiều lần so với giá trị thật, và nhiều khi lại chỉ còn bằng một phần nhỏ so với giá trị thật. Nếu giá xuống quá thấp so với giá trị thật, thì dủ có mua được cổ phiếu ở mức giá thấp vẫn có thể bị lỗ tạm thời.
Cách phòng chống:
- Có tầm nhìn đầu tư dài hạn, để có thể chấp nhận lỗ tạm thời khi các biến động bất lợi về giá trong ngắn hạn xảy ra, miễn sao kỳ vọng lợi nhuận về dài hạn là tốt.
- Cash is king: Không tham lam dùng đòn bẩy cao, sẽ dễ bị bật ra khỏi thị trường khi có biến động ngắn hạn bất lợi, dù là phán xét về dài hạn có đúng đến đâu. Ngược lại, có tiền mặt dự trữ (hay là nguồn thu nhập đều đặn có thể dùng để đầu tư thêm), để mỗi khi giá của cổ phiếu tốt đi xuống trong ngắn hạn thì là cơ hội mua vào. Tỷ lệ cụ thể nên giữ bao nhiêu % tài khoản là tiền mặt được cho bởi định lý cash is king (mà tôi có viết trong 1 bài khác)
- Có thể kết hợp sử dụng các chứng khoán phái sinh làm hedging, để làm giảm bớt độ volatility của danh mục đầu tư, tăng độ ổn định ngắn hạn.
- Việc đa dạng hóa góp phần làm giảm rủi ro biến động giá thị trường. Càng có được correlation thấp giữa các chứng khoán đang giữ thì càng giảm được rủi ro biến động giá ngắn hạn.(Nếu các chứng khoán có correlation lớn quá, thì việc đa dạng hóa ít có công dụng).
Rủi ro về thanh khoản:
Có những chứng khoán có thanh khoản thấp, tức là muốn mua/bán rất khó. Khi đó mỗi lần mua bán nói chung đều bị thiệt thòi về giá.
Cách phòng chống:
- Trừ bớt phần thiệt về giá do thanh khoản kém vào lợi nhuận kỳ vọng, khi phân tích có nên đầu tư hay không
- Tầm nhìn dài hạn, có thể sẵn sàng giữ lâu thì đỡ rủi ro thanh khoản.
- Đối với các đầu tư ngắn hạn, thì tránh đụng vào các chứng khoán có thanh khoản kém.
Rủi ro về lỗ quá mức chấp nhận được:
Nhà đầu tư có thể bị lỗ quá mức chấp nhận được trên thị trường chứng khoán. Ví dụ nhà đầu tư có 2 tỷ VND, nhưng trong đó 1 tỷ phải dành vào 1 việc nào đó không thể để bị mất, nếu đem 2 tỷ đi đầu tư mà bị mất 1,2 tỷ, thì là mất quá mức chấp nhận được.
Cách phòng chống:
- Không đầu tư mạo hiểm các khoản tiền không thể để mất (mà đầu tư chứng khoán là đầu tư mạo hiểm).
- Tính Value-at-risk và downside risk để biết số tiền có thể bị mất nếu những tình huống xấu không may xảy ra, xem có chấp nhận được không.
- Mức lỗ chấp nhận được càng thấp, thì value-at-risk phải càng thấp, có nghĩa là càng phải chọn những chứng khoán có mức rủi ro thấp cho danh mục đầu tư và tăng mức tiền mặt dự trữ.
Rủi ro về tâm lý và thực hiện:
Nhà đầu tư có thể bị kích động, mua lúc đáng nhẽ không nên mua, bán lúc đáng nhẽ không nên bán, mua bán quá nhiều như con bạc khát nước, v.v.
Đầu tư cũng như là đẽo cầy giữa đường, nếu cứ nghe theo hết người này đến người khác, thì không đẽo thành cái gì cả.
Trong lúc thực hiện đầu tư cũng có thể có nhiều sai phạm (đặt lệnh nhầm, tính toán sai, v.v.)
Cách phòng chống:
- Xây dựng trước các tình huống có thể xảy ra, và tính trước là nếu gặp tình huống nào thì xử lý thế nào, để khỏi hoang mang thụ động
- Kỷ luật trong đầu tư: có chiến lược và qui trình rõ ràng, và tuân thủ theo nó, không đầu tư theo cảm tính, theo tham lam hay sợ hãi.
- Có kiểm soát: cần có người kiểm soát (nếu một mình đầu tư thì không có ai kiểm soát, làm bậy cũng không ai ngăn chặn, dễ xảy ra các hành động điên rồ gây thiệt hại)
- Biết mình đang làm gì, tin tưởng vào việc mình làm, không để người ngoài kích động.
- Những người phân tích đầu tư phải giữ được khách quan trong phân tích, không bị cái trạng thái đầu tư làm mất khách quan, trở nên wishful thinking. (Để tăng tính khách quan, thì người phân tích và người thực hiện đầu tư phải là 2 người khác nhau).
Rủi ro về khả năng quản lý:
Việc quản lý danh mục đầu tư nói chúng, và quản lý rủi ro nói riêng, đòi hỏi nhiều sức lực, kiến thức, kinh nghiệm, v.v. Có rất nhiều việc phải làm trong đầu tư: thu thập thông tin, phân tích đầu tư, quyết định đầu tư, theo dõi và xử lý các đầu tư, v.v. Một người riêng lẻ có thể không đủ khả năng để làm tất cả những việc đó một cách có hiệu quả, dễ dẫn đến nhiều sai lầm gây thiệt hại đồng thời bỏ lỡ nhiều cơ hội đầu tư tốt.
Cách phòng chống:
- Cần có những người đáng tin cậy giúp đỡ trong quản lý đầu tư.
- Đầu tư có tổ chức: một tổ chức đầu tư, có phân công công việc, sẽ hiệu quả hơn nhiều so với một cá nhân tự làm mọi thứ.
- Nếu không phải là thành viên của một tổ chức đầu tư, hay là được những người có trình độ và đáng tin tưởng giúp đỡ, thì tốt nhất là không nên tự đầu tư, mà gửi tiền cho một quĩ nào đó đáng tin.
- Học các kiến thức về tài chính và đầu tư. Càng hiểu biết nhiều về tài chính càng thuận lợi.
Rủi ro về bị lừa đảo:
Chuyện lừa đảo xảy ra hàng ngày như cơm bữa trên các thị trường chứng khoán thế giới, ở nhiều dạng khác nhau, ví dụ như:
- Công ty cổ phần làm giả các số liệu tài chính
- Các công ty chứng khoán hay các cá nhân lũng đoạn giá trên thị trường
- Các cò mồi, có thể là các phân tích viên, kích động nhà đầu tư mua bán dựa trên các tin đồn hay phân tích rởm.
- Giao dịch nội gián, giám đốc rút ruột công ty, v.v.
Trong tất cả các vụ lừa đảo như vậy, thì người bị thiệt hại là các nhà đầu tư.
Cách phòng chống:
- Tránh xa các cổ phiếu nhỏ, ít thông tin, ít người quan tâm, trừ khi tiếp cận được với các giám đốc điều hành đang tin cậy của các công ty đó. Càng nhỏ, càng ít thông tin, càng dễ bị lừa đảo và lũng đoạn.
- Khi cổ phiếu đang giữ là của doanh nghiệp có dấu hiệu lừa đảo, thì loại nó khỏi danh mục đầu tư, kiểm tra lại cẩn thận trước khi quyết định có nên đầu tư vào lại cổ phiếu đó không.
- Xây dựng khả năng tự phân tích và thu thập thông tin, tự xác định được giá trị của các cổ phiếu, để khỏi bị các cò mồi kích động.
Rủi ro về thiếu thông tin:
- Thiếu thông tin đáng tin cậy, đặc biệt là đối với các cổ phiếu nhỏ, để có thể dựa vào đó phân tích giá trị cổ phiếu và phân tích biến động giá.
- Vấn đề thông tin bất đối xứng: Có một số ‘”tay trong” nắm được thông tin tốt hơn và sớm hơn, mua bán dựa trên các thông tin đó, còn những người khác không hề nhận được thông tin, hoặc chỉ nhận được khi đã muộn.
Cách phòng chống:
- Tương tự như đối với rủi ro lừa đảo, tránh các cổ phiếu nào mà thiếu thông tin đáng tin cậy, đặc biệt là các cổ phiếu nhỏ, mờ ám.
- Dành công sức, thời gian và tiền chi phí một cách thích đáng cho việc thu thập thông tin.
Rủi ro về ước lượng sai giá trị:
- Việc ước lượng giá trị thật của cổ phiếu không đơn giản, và những người khác nhau có thể cho các ước lượng chênh nhau đến vài lần, trong đó có những người quá lạc quan và người quá bi quan.
- Nếu lạc quan quá, ước lượng giá trị cao quá so với giá trị thật, thì có thể sẽ thành mua cổ phiếu đẳ hơn so với giá trị thật, và nếu sau đó giá cổ phiếu giảm về giá trị thật thì thua lỗ.
Cách phòng chống:
- Đệm an toàn về giá trị: Chỉ đầu tư khi mà giá trị trường thấp hơn rất đáng kể (ví dụ chỉ bằng 1/2) so với ước lượng giá trị thật.
- Cần tích lũy kinh nghiệm phân tích, hoặc dựa trên sự tham mưu của những người nào đó đáng tin cậy trong việc phân tích.
- Phân tích cần dựa trên các mô hình hợp lý và các nguồn tin đáng tin cậy.
- Đối với các ứng cử viên mới cho danh mục đầu tư: cần có đủ thời gian phân tích (ít ra 1 tháng), để có thể hiểu rõ các công ty và giá trị của chúng trước khi đầu tư, không vội vàng nhảy vào mua nhiều khi chưa biết rõ các lắt léo bên trong.
Rủi ro về hoạt động của doanh nghiệp:
Có những rủi ro có thể bất ngờ xảy đến với các doanh nghiệp, làm giảm giá trị của doanh nghiệp, không dự đoán trước được. Ví dụ như thiên tai xảy ra ở Nhật Bản, không những chỉ gây thiệt hại cho người Nhật, mà còn gây thiệt hại cho các doanh nghiệp nước ngoài có liên quan, đặc biệt là các công ty bảo hiểm có bán bảo hiểm ở Nhật. Các công ty năng lượng hạt nhân cũng giảm giá trị rất nhiều sau vụ tai nạn nhà máy điện nguyên tử ở Nhật, vì cả thế giới hoãn lại các chương trình điện hạt nhân. Một công ty (ví dụ Yahoo) đang có thế cạnh tranh rất mạnh trong lĩnh vực nào đó, nhưng đến khi xuất hiện một công ty mới (ví dụ Google) có khả năng cạnh tranh mạnh hơn, thì giá trị của công ty đầu cũng bị giảm đi, v.v.
Cách phòng chống:
- Đa dạng hóa, để nếu cổ phiếu này bị rủi ro về doanh nghiệp thì có cổ phiếu khác bụ lại
- Chọn lựa cổ phiếu của cách doanh nghiệp đang mạnh và tương đối ít rủi ro, loại khỏi danh mục đầu tư những doanh nghiệp có nhiều nguy cơ suy yếu hay phá sản (ví dụ như nợ quá nhiều mà tỷ lệ lợi nhuận kém, công nghệ lỗi thời, v.v.).
Rủi ro biến động giá thị trường:
- Thị trường cổ phiếu là irrational, và giá cổ phiếu có thể biến động mạnh trong ngắn hạn, nhiều khi lên cao hơn nhiều lần so với giá trị thật, và nhiều khi lại chỉ còn bằng một phần nhỏ so với giá trị thật. Nếu giá xuống quá thấp so với giá trị thật, thì dủ có mua được cổ phiếu ở mức giá thấp vẫn có thể bị lỗ tạm thời.
Cách phòng chống:
- Có tầm nhìn đầu tư dài hạn, để có thể chấp nhận lỗ tạm thời khi các biến động bất lợi về giá trong ngắn hạn xảy ra, miễn sao kỳ vọng lợi nhuận về dài hạn là tốt.
- Cash is king: Không tham lam dùng đòn bẩy cao, sẽ dễ bị bật ra khỏi thị trường khi có biến động ngắn hạn bất lợi, dù là phán xét về dài hạn có đúng đến đâu. Ngược lại, có tiền mặt dự trữ (hay là nguồn thu nhập đều đặn có thể dùng để đầu tư thêm), để mỗi khi giá của cổ phiếu tốt đi xuống trong ngắn hạn thì là cơ hội mua vào. Tỷ lệ cụ thể nên giữ bao nhiêu % tài khoản là tiền mặt được cho bởi định lý cash is king (mà tôi có viết trong 1 bài khác)
- Có thể kết hợp sử dụng các chứng khoán phái sinh làm hedging, để làm giảm bớt độ volatility của danh mục đầu tư, tăng độ ổn định ngắn hạn.
- Việc đa dạng hóa góp phần làm giảm rủi ro biến động giá thị trường. Càng có được correlation thấp giữa các chứng khoán đang giữ thì càng giảm được rủi ro biến động giá ngắn hạn.(Nếu các chứng khoán có correlation lớn quá, thì việc đa dạng hóa ít có công dụng).
Rủi ro về thanh khoản:
Có những chứng khoán có thanh khoản thấp, tức là muốn mua/bán rất khó. Khi đó mỗi lần mua bán nói chung đều bị thiệt thòi về giá.
Cách phòng chống:
- Trừ bớt phần thiệt về giá do thanh khoản kém vào lợi nhuận kỳ vọng, khi phân tích có nên đầu tư hay không
- Tầm nhìn dài hạn, có thể sẵn sàng giữ lâu thì đỡ rủi ro thanh khoản.
- Đối với các đầu tư ngắn hạn, thì tránh đụng vào các chứng khoán có thanh khoản kém.
Rủi ro về lỗ quá mức chấp nhận được:
Nhà đầu tư có thể bị lỗ quá mức chấp nhận được trên thị trường chứng khoán. Ví dụ nhà đầu tư có 2 tỷ VND, nhưng trong đó 1 tỷ phải dành vào 1 việc nào đó không thể để bị mất, nếu đem 2 tỷ đi đầu tư mà bị mất 1,2 tỷ, thì là mất quá mức chấp nhận được.
Cách phòng chống:
- Không đầu tư mạo hiểm các khoản tiền không thể để mất (mà đầu tư chứng khoán là đầu tư mạo hiểm).
- Tính Value-at-risk và downside risk để biết số tiền có thể bị mất nếu những tình huống xấu không may xảy ra, xem có chấp nhận được không.
- Mức lỗ chấp nhận được càng thấp, thì value-at-risk phải càng thấp, có nghĩa là càng phải chọn những chứng khoán có mức rủi ro thấp cho danh mục đầu tư và tăng mức tiền mặt dự trữ.
Rủi ro về tâm lý và thực hiện:
Nhà đầu tư có thể bị kích động, mua lúc đáng nhẽ không nên mua, bán lúc đáng nhẽ không nên bán, mua bán quá nhiều như con bạc khát nước, v.v.
Đầu tư cũng như là đẽo cầy giữa đường, nếu cứ nghe theo hết người này đến người khác, thì không đẽo thành cái gì cả.
Trong lúc thực hiện đầu tư cũng có thể có nhiều sai phạm (đặt lệnh nhầm, tính toán sai, v.v.)
Cách phòng chống:
- Xây dựng trước các tình huống có thể xảy ra, và tính trước là nếu gặp tình huống nào thì xử lý thế nào, để khỏi hoang mang thụ động
- Kỷ luật trong đầu tư: có chiến lược và qui trình rõ ràng, và tuân thủ theo nó, không đầu tư theo cảm tính, theo tham lam hay sợ hãi.
- Có kiểm soát: cần có người kiểm soát (nếu một mình đầu tư thì không có ai kiểm soát, làm bậy cũng không ai ngăn chặn, dễ xảy ra các hành động điên rồ gây thiệt hại)
- Biết mình đang làm gì, tin tưởng vào việc mình làm, không để người ngoài kích động.
- Những người phân tích đầu tư phải giữ được khách quan trong phân tích, không bị cái trạng thái đầu tư làm mất khách quan, trở nên wishful thinking. (Để tăng tính khách quan, thì người phân tích và người thực hiện đầu tư phải là 2 người khác nhau).
Thứ Ba, 15 tháng 3, 2011
Việt Nam có nền tảng tốt để xây dựng kinh tế sáng tạo
Việt Nam với thế mạnh nhân lực và năng lực sáng tạo, sự đầu tư mạnh mẽ cho CNTT và truyền thông đã có những nền tảng cơ sở rất tốt để xây dựng nền kinh tế sáng tạo, tạo ra giá trị cao từ những sản phẩm sáng tạo đổi mới.
Thế giới đang đứng trước một sự thay đổi lớn lao về cách thức tạo ra của cải và sức mạnh. Trước đây, sức mạnh được tạo ra từ nền tảng công nghiệp như cơ khí, chế tạo, hoá học, sản xuất... ngày nay sức mạnh đến từ khu vực dịch vụ, thông tin và sự sáng tạo đổi mới. Trong xu hướng phát triển của kinh tế xã hội, sự sáng tạo và đổi mới luôn đóng vai trò quan trọng. Những nhà phát minh lớn, như: Leonardo da Vinci, I.Newton, C.Darwin, A.Einstein, T.Edison, H.Ford, Steve Jobs... đã tạo ra những sự sáng tạo làm thay đổi thế giới.
Có thể nhìn thấy sự dịch chuyển sức mạnh này thông qua hình ảnh của nước Mỹ, thay vì Boeing, GE, IBM, General Motor, Coca Cola... trước đó, thì nay hình ảnh nước Mỹ là Apple, Google, Microsoft, Facebook, Disney... Sức mạnh của nước Mỹ đã dịch chuyển từ nền kinh tế sản xuất công nghiệp sang nền kinh tế dịch vụ và sáng tạo đổi mới dựa trên nền tảng tri thức và Internet.
Việt Nam cũng đang phải lựa chọn cho mình một hướng đi và một vị trí xứng đáng trong nền kinh tế sáng tạo toàn cầu. Người Việt Nam rất thông minh và sáng tạo, những tố chất được thể hiện rất rõ trong lịch sử dân tộc, trong chiến tranh và trong thời gian hoà bình xây dựng đất nước, trong kinh doanh, trong học tập nghiên cứu khoa học với những thành tích đáng tự hào về toán học và cờ vua gần đây. Những ngành dịch vụ sáng tạo có thế mạnh của Việt Nam có thể kể đến: thiết kế, nghệ thuật, giáo dục, du lịch, biểu diễn, thời trang, mỹ thuật, thủ công, mỹ nghệ, văn hoá, ẩm thực...
Khoa học sáng tạo là gì?
Khoa học sáng tạo được nghiên cứu một cách có hệ thống và thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học do nhu cầu thực tế. Những vấn đề được quan tâm gồm nguyên lý sáng tạo, kỹ thuật sáng tạo, tâm lý học sáng tạo.
Cùng với sự phát triển của khoa học sáng tạo, việc áp dụng CNTT và máy tính đã giúp cho khoa học sáng tạo những bước phát triển mạnh mẽ. Sáng tạo học (Creatology) đã trở thành một ngành khoa học chuyên sâu có phạm vi nghiên cứu rộng lớn. Quản lý và giải quyết những vấn đề sáng tạo một cách khoa học là một vấn đề khó và phức tạp vì luôn luôn có yếu tố con người trong các hoạt động sáng tạo.
Nhà nghiên cứu X.L Rubinstein cho rằng "sự sáng tạo là hoạt động của con người tạo ra những chất liệu mới có ý nghĩa xã hội và những chất liệu mới ấy có thể là giá trị vật chất hay tinh thần". Theo nhà tâm lý học người Mỹ Willson thì sáng tạo là "quá trình mà kết quả là tạo ra những kết hợp mới cần thiết từ các ý tưởng dạng năng lượng, các đơn vị thông tin, các khách thể hay tập hợp của hai ba yếu tố được nêu ra". Nhà khoa học Tiệp Khắc J.H Lavsa cho rằng "sáng tạo là sự lựa chọn và sử dụng những phương tiện mới cách giải quyết mới". Sáng tạo bao gồm những khái niệm như: tư duy sáng tạo, năng lực sáng tạo và các hoạt động sáng tạo.
Thế giới đang đứng trước một sự thay đổi lớn lao về cách thức tạo ra của cải và sức mạnh.
Tư duy sáng tạo là khả năng giải quyết vấn đề bằng cách tạo ra một cái mới bằng cách thức mới và đạt được kết quả một cách hiệu quả. Tư duy sáng tạo gần như là tài nguyên cơ bản của con người. Tư duy sáng tạo gắn liền với việc đưa ra cái mới, sáng chế mới, ý tưởng mới, phương án giải quyết mới. Tư duy sáng tạo thuộc về năng lực ra quyết định, kết hợp độc đáo, liên tưởng hay phát minh ra ý tưởng mới.
Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những cái mới hoặc giải quyết vấn đề một cách mới mẻ. Đặc trưng của năng lực sáng tạo đó là khả năng giải quyết vấn đề một cách sáng tạo, dựa trên những phẩm chất cá nhân như trí tuệ (IQ), cảm nhận (EQ), trí nhớ, động lực và ý chí cho phép giải quyết vấn đề một cách linh hoạt, độc đáo và hiệu quả.
Hoạt động sáng tạo là một hoạt động đặc biệt bao gồm nhiều thành tố khác nhau để hướng đến kết quả cuối cùng là tạo ra cái mới. Hoạt động sáng tạo đòi hỏi phải có nỗ lực, phải có động cơ sáng tạo và dựa trên năng lực sáng tạo. Hoạt động sáng tạo là một tổng thể của sáng tạo và tái tạo. Sáng tạo hướng đến những sản phẩm mang giá trị mới mẻ, trong khi tái tạo là bước đệm dưỡng sức cho hoạt động sáng tạo.
Thông minh không đồng nhất với sáng tạo
Thông minh và sáng tạo là không đồng nhất với nhau vì sáng tạo có sự ảnh hưởng mạnh hơn của các yếu tố như ý chí, xúc cảm, động cơ. Sự sáng tạo và thông minh là khác nhau ở mỗi cá nhân. Thông minh là một phần quan trọng của trí tuệ cho phép con người nhận thức thế giới một cách sâu sắc, đầy đủ và toàn diện. Sáng tạo là một thành phần khác của trí tuệ, tạo những phát minh, sáng chế, cải tiến, sáng tác, những cái mới, có thể là những sản phẩm thuộc lĩnh vực khoa học xã hội - nghệ thuật.
Sản phẩm của trí thông minh là phát minh có thể tồn tại rất lâu dài, thậm chí vĩnh viễn, nhưng sáng chế là sản phẩm của sáng tạo thì rất nhanh được cải tiến để đi đến sáng chế mới.
Mấu chốt của hoạt động sáng tạo là ý tưởng. Ý tưởng sáng tạo dù là giản đơn hay phức tạp thì chính nó là mấu chốt của hoạt động sáng tạo vì nó là cơ sở và là đích đến của sự sáng tạo. Einstein cho rằng, ý tưởng, trực giác sáng tạo, khả năng đặt vấn đề hay câu hỏi đúng đắn (liên quan EQ) quan trọng hơn việc giải quyết vấn đề thường bao gồm các công việc liên quan đến toán học hay kinh nghiệm (liên quan IQ).
Năng lực sáng tạo được đo lường thông qua các trắc nghiệm. Quá trình này được diễn ra bằng cách đo năng lực sáng tạo khi cá nhân được kiểm tra thử thách thông qua giải quyết các nhiệm vụ đã được chuẩn hoá. Các nhiệm vụ này được thiết kế sao cho đánh giá đúng những tâm điểm của trí tuệ sáng tạo, giúp cho cá nhân bộc lộ năng lực sáng tạo của mình. Các phép thử hành vi trong trắc nghiệm sáng tạo phải chuyển thành các kích thích hành động sáng tạo của cá nhân đo lường.
Phương pháp khoa học quản lý sáng tạo
Các phương pháp nghiên cứu sáng tạo, như Phương pháp đối tượng tập trung (Method of Focal Objects) của F.Zwicky, Tư duy theo chiều ngang (Lateral thinking) của E.D.Bono, phương pháp Động não (Brainstorming) của A.Osborn, phương pháp Đối tượng tiêu chuẩn do F.Kunze nghiên cứu và phương pháp Tổng hợp (Synectic) do W.Gorden đề xuất vào năm 1960.
Phương pháp Sáu chiếc mũ sáng tạo của Edward de Bono: giúp cho chủ thể sáng tạo có được nhiều cái nhìn về một đối tượng mà những cái nhìn này sẽ khác biệt so với các cách nhìn nhận thông thường. Mỗi một chiếc mũ mang một màu sắc tượng trưng cho một dạng thức của suy nghĩ:
(1). Mũ trắng: trung tính, tập trung trên thông tin rút ra được , các dữ liệu căn cứ và những thứ cần thiết, làm sao để nhận được chúng.
(2). Mũ đỏ: nóng, tình cảm, cảm giác, cảm nhận, trực quan, những ý kiến khôg chứng minh hay giải thích lý lẽ.
(3). Mũ đen: phê phán, bình luận, tại sao sự kiện là sai, tất cả những ý kiến cảm xúc tiêu cực bi quan.
(4). Mũ vàng: tích cực, lạc quan, quan điểm tích cực, lợi ích, những điều tốt đẹp.
(5). Mũ lục: sáng tạo, đưa ra những khả năng có thể xảy ra và các giả thuyết, ý tưởng mới.
(6). Mũ xanh dương: là điều khiển, chi phối quá trình, các bước tổ chức, lãnh đạo, suy xét và các kết luận.
Quy trình sáng tạo DOIT (Define problem, Open mind and apply creative techniques, Identify the best solution, Transform): là phương pháp sáng tạo bằng cách hoạt động nhận thức tối đa vấn đề theo hướng cởi mở các ý tưởng hiện tại để hướng đến giải pháp tốt nhất dựa trên việc đánh giá và so sánh các giải pháp.
Các ý tưởng được đưa ra xem là nguồn dữ liệu cần thiết và quan trọng cho sáng tạo. Các thao tác sáng tạo đòi hỏi người sáng tạo phải theo sát, kiểm soát để có kết quả sáng tạo tốt nhất. Các bước bao gồm: (i) Xác định vấn đề (ii) Cởi mở ý tưởng và sáng tạo (iii) Xác định lời giải hay nhất (iv) Chuyển bước và thực hiện lời giải
Sơ đồ ý tưởng (Mind Map) của Tony Buzan: rất dễ dùng và được áp dụng rộng rãi trong thực tế. Sử dụng hình ảnh của sơ đồ để xâu chuỗi các thông tin theo một kết cấu nhất định nhằm nhìn nhận vấn đề hay giải quyết vấn đề theo hướng sáng tạo, gọn ghẽ, khoa học.
Được sử dụng như một phương pháp ghi nhớ chi tiết để phân tích đối tượng, tổng hợp các dữ liệu của vấn đề thành một dạng của lược đồ phân nhánh. Trên cơ sở đó, các ý tưởng sáng tạo cùng được nảy sinh dựa trên việc phát triển khi liên kết các các dữ liệu, dữ kiện. Phương pháp này hỗ trợ cho sự sáng tạo khi thực hiện động não (Brainstorming), giúp cho ý tưởng được rõ ràng khúc chiết, dễ quản lý và kiểm soát ý tưởng.
Lý thuyết sáng tạo TRIZ (Teoriya Resheniya Izobreatatelskikh Zadatch): do nhà khoa học sáng tạo Genrich Sanfovich Altshuller (Liên Xô) và các cộng sự tạo ra. Đây là lý thuyết lớn với các công cụ hoàn chỉnh nhất trong khoa học sáng tạo.
TRIZ dựa vào kết quả của một cuộc khảo sát và phân tích sâu sắc những quy luật sáng tạo cơ bản ẩn chứa bên trong những sáng chế. Lý thuyết bao gồm 9 quy luật phát trển hệ thống kỹ thuật, 40 nguyên tắc sáng tạo cơ bản để giải quyết các bài toán kỹ thuật, 76 chuẩn để giải các bài toán sáng chế. Có thể áp dụng để tiếp tục tổ hợp hoá các thành phần này theo các cách khác nhau để tạo nên những kết quả đa dạng phong phú.
Nguyên lý sáng tạo TRIZ được áp dụng trong nhiều ngành công nghiệp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. TRIZ được áp dụng để tạo ra những tiến bộ trong ngành phần mềm, công nghệ hoá học, kiến trúc, quảng bá giáo dục. Các tập đoàn lớn như Boeing, Samsung, Johnson&Johnson... đang áp dụng TRIZ trong hoạt động quản lý sáng tạo của mình.
Hệ thống quản lý sáng tạo của Thomas Edison:
Thomas Alva Edison, nhà phát minh hàng đầu với 1093 phát minh sáng chế hữu ích như: bóng đèn điện, máy hát, tàu điện... là nhà tiên phong trong lĩnh vực quản lý sáng tạo một cách khoa học. Với biệt danh "Nhà phù thuỷ ở Menlo Park", Edison nổi tiếng với khả năng tự học hỏi và năng lực sáng tạo mạnh mẽ. Peter Drucker, bậc thầy về quản lý đã gọi Thomas Edison là "hình mẫu lý tưởng cho mọi doanh nhân hoạt động trong lĩnh vực sáng tạo và công nghệ". Trước Edison, việc phát minh sáng tạo là các hoạt động ngẫu nhiên và đơn lẻ. Hệ thống quản lý sáng tạo của Edison bao gồm phương pháp quản lý sáng tạo, nguyên tắc sáng tạo và những phẩm chất năng lực để sáng tạo hiệu quả.
Phương pháp quản lý sáng tạo của Thomas Edison bao gồm các nguyên lý:
(i). Tư duy hướng tới giải pháp: lấy giải pháp làm trọng tâm là cách giúp Edison luôn có rất nhiều công cụ và phương pháp để giải quyết vấn đề.
(ii). Suy nghĩ đa chiều: tư duy nhiều vấn đề cùng một lúc và xem xét vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau để có sự đa dạng trong tư duy.
(iii). Hoạt động hết mình: hoạt động hết mình với niềm đam mê và sáng tạo tối đa với nguồn năng lượng và sức khoẻ dồi dào cho phép Edison có rất nhiều phát minh sáng chế.
(iv). Sáng tạo siêu giá trị: sáng tạo hữu ích phải đến từ nhu cầu thị trường. Edison luôn phát minh và sáng tạo ra những sản phẩm thiết yếu cho cuộc sống như điện thoại, máy chiếu phim, máy hát đĩa...
Nguyên tắc sáng tạo của Edison được tóm tắt thông qua từ SMART:
(S)pecific: cần xác định những việc cần làm một cách chi tiết cụ thể.
(M)easurable: đo lường, đánh giá quá trình thực hiện như thế nào? Làm sao biết đã hoàn thành mục tiêu
(A)ccountable: hãy chịu trách nhiệm và cam kết thực hiện đầy đủ trách nhiệm để hoàn thành mục tiêu. Đảm bảo rõ ràng trách nhiệm của từng người trong nhóm.
(R)elevant: đảm bảo các mục tiêu cụ thể là phù hợp với với mục đích và giá trị ban đầu.
(T)imeline: thời hạn phải hoàn thành cho từng mục tiêu, công việc sáng tạo cần hoàn thành trong thời hạn cho phép, nếu không sẽ không còn giá trị.
Những phẩm chất và năng lực EDISON cần thiết cho sáng tạo:
(E)motional: theo kinh nghiệm của Edison, trí tuệ cảm xúc đóng vai trò quan trọng trong việc tìm lời giải sáng tạo và hoàn thành mục tiêu. Đam mê gắn với sáng tạo cho phép hoàn thành công việc tốt hơn.
(D)ecisive: sự quyết đoán trong công việc, mạnh dạn đưa ra quyết định, chấp nhập rủi ro và thử thách trong công việc và sáng tạo.
(I)ntergrated: kết hợp một cách rõ ràng thận trọng mục tiêu hiện nay có phù hợp với các định hướng khác hay không và phải đặt trên cơ sở của mục đích chung nhất. Giữ phương châm luôn luôn gắn mục tiêu với những mục đích cao cả hơn ngoài lợi ích cá nhân.
(S)ensory: sử dụng giác quan để cảm nhận và mường tượng ra quá trình thực hiện mục tiêu.
(O)ptimistic: lạc quan và thực hiện mục tiêu là một điều tất yếu.
(N)ow: xác định mục tiêu hiện tại và thực hiện ngay.
Cuối cùng, theo Edison "thành công bao gồm 99% lao động và 1% sáng tạo". Để hoàn thiện sáng chế tạo ra pin kiềm, Edison đã tổ chức thực hiện khoảng 50.000 thí nghiệm. Trong quá trình lao động và sáng tạo, Edison đã tích luỹ được một kho kinh nghiệm và kiến thức khổng lồ. Cùng với những sách vở tư liệu được sưu tầm, kho tri thức sâu rộng này đã giúp Edison tiến hành thành công các hoạt động sáng tạo đổi mới.
Giáo dục khả năng sáng tạo
Dựa trên cơ sở nhận thức mỗi người đều có tiềm năng sáng tạo nhất định, các hoạt động sư phạm giáo dục sáng tạo nhằm tạo nên một cách có chủ ý khả năng sáng tạo hay các thành phần của năng lực sáng tạo bằng những phương pháp và những điều kiện sư phạm phù hợp. Giáo dục có vai trò đặc biệt để nâng cao và phát triển khả năng sáng tạo của con người. Giáo dục sáng tạo có hai hướng chính:
(i)- Hướng dẫn có chương trình, kế hoạch có nội dung nhằm phát triển có chủ định khả năng sáng tạo. Theo hướng này thì có hai kiểu chương trình phát triển sáng tạo được xây dựng là phát triển sáng tạo nói chung và phát triển những thành phần cụ thể của sáng tạo.
(ii)- Giáo dục loại trừ những cản trở cho sự hoạt động sáng tạo. Đây là hướng được áp dụng nhiều trong thực tế thông qua các lớp huấn luyện ngắn hạn theo chuyên đề nhằm nhận ra những yếu tố cản trở sự sáng tạo như: sự sợ hãi, tính ỳ tâm lý, các biện pháp khắc phục để thúc đẩy sự sáng tạo.
Giáo dục có vai trò rất quan trọng để nuôi dưỡng phát triển tư duy sáng tạo. Giáo dục cái mới hay nhồi nhét kiến thức sẽ không bao giờ đủ, thậm chí còn làm tắt đi khả năng sáng tạo. Giáo dục cách sáng tạo để đạt đến cái mới tìm ra cái mới là yêu cầu tối cần thiết, chính là trang bị công cụ tối ưu cho con người khả năng sáng tạo.
Bảo vệ tài sản trí tuệ và giá trị sáng tạo:
Trong các kết quả hoạt động sáng tạo của con người, những sáng chế (License) sẽ được trải qua các bước thẩm định như sau:
(1). Xác định tác giả sáng chế, cải tiến
(2). Xác định các giải pháp kỹ thuật so với chuẩn sáng chế
(3). Cấp giấy chứng nhận tác giả hoặc công nhận sáng chế (Patent)
(4). Xác định quyền chuyển nhượng hay sử dụng
(5). Bảo vệ phát minh sáng chế theo quy mô
Các tổ chức bảo vệ quyền lợi tác giả và phát minh sáng chế gồm NOIP (Cục sở hữu trí tuệ - Việt Nam), WIPO (Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới), UPSTO (Mỹ), EPO (Châu Âu) và Công ước quốc tế Berne. Thông qua các tổ chức bảo vệ phát minh và bản quyền, sự sáng tạo mới sẽ được đánh giá và trả công xứng đáng, đem lại lợi ích kinh tế cho cá nhân và tổ chức thực hiện sáng tạo đổi mới. Từ đó, có động lực thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới và sáng tạo trên quy mô toàn cầu.
Sáng tạo trong nền kinh tế tri thức toàn cầu hoá
Theo Edison, để sáng tạo cần phải có một trí tưởng tượng phong phú và nền tảng kiến thức sâu rộng. Ngày nay, Internet cung cấp một môi trường hoàn hảo cho sự sáng tạo phát triển. Thông qua Internet, chúng ta có thể học hỏi một cách có hệ thống các kiến thức cần thiết, giao lưu với các cộng đồng sáng tạo trên những diễn đàn chuyên ngành hay các cộng đồng chuyên môn CoP (Community of Practice). Internet còn là nguồn cung cấp thông tin vô tận và mới mẻ về tất cả các vấn đề trong cuộc sống.
Thông qua Internet, các ý tưởng và sáng tạo có thể được kiểm tra, gọt dũa để trở nên hoàn thiện và hữu ích. Thông qua giao dịch eCommerce, ý tưởng và sáng tạo mới được bán và cung cấp cho những khách hàng toàn cầu một cách thuận tiện và nhanh chóng. Ví dụ cụ thể là những sản phẩm, thông tin, dịch vụ, phần mềm được sáng tạo ra ở một nơi và được phân phối thông qua Internet đến tay người dùng trên khắp thế giới.
Trong cuộc vận động phát triển và toàn cầu hoá hiện nay, quốc gia nào có năng lực quản lý và sáng tạo đổi mới tốt hơn sẽ tạo ra nhiều giá trị mới và thu lại được nhiều lợi ích hơn. Việt Nam với thế mạnh nhân lực và năng lực sáng tạo, sự đầu tư mạnh mẽ cho CNTT và truyền thông đã có những nền tảng cơ sở rất tốt để xây dựng nền kinh tế sáng tạo, tạo ra giá trị cao từ những sản phẩm sáng tạo đổi mới.
Thế giới đang đứng trước một sự thay đổi lớn lao về cách thức tạo ra của cải và sức mạnh. Trước đây, sức mạnh được tạo ra từ nền tảng công nghiệp như cơ khí, chế tạo, hoá học, sản xuất... ngày nay sức mạnh đến từ khu vực dịch vụ, thông tin và sự sáng tạo đổi mới. Trong xu hướng phát triển của kinh tế xã hội, sự sáng tạo và đổi mới luôn đóng vai trò quan trọng. Những nhà phát minh lớn, như: Leonardo da Vinci, I.Newton, C.Darwin, A.Einstein, T.Edison, H.Ford, Steve Jobs... đã tạo ra những sự sáng tạo làm thay đổi thế giới.
Có thể nhìn thấy sự dịch chuyển sức mạnh này thông qua hình ảnh của nước Mỹ, thay vì Boeing, GE, IBM, General Motor, Coca Cola... trước đó, thì nay hình ảnh nước Mỹ là Apple, Google, Microsoft, Facebook, Disney... Sức mạnh của nước Mỹ đã dịch chuyển từ nền kinh tế sản xuất công nghiệp sang nền kinh tế dịch vụ và sáng tạo đổi mới dựa trên nền tảng tri thức và Internet.
Việt Nam cũng đang phải lựa chọn cho mình một hướng đi và một vị trí xứng đáng trong nền kinh tế sáng tạo toàn cầu. Người Việt Nam rất thông minh và sáng tạo, những tố chất được thể hiện rất rõ trong lịch sử dân tộc, trong chiến tranh và trong thời gian hoà bình xây dựng đất nước, trong kinh doanh, trong học tập nghiên cứu khoa học với những thành tích đáng tự hào về toán học và cờ vua gần đây. Những ngành dịch vụ sáng tạo có thế mạnh của Việt Nam có thể kể đến: thiết kế, nghệ thuật, giáo dục, du lịch, biểu diễn, thời trang, mỹ thuật, thủ công, mỹ nghệ, văn hoá, ẩm thực...
Khoa học sáng tạo là gì?
Khoa học sáng tạo được nghiên cứu một cách có hệ thống và thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học do nhu cầu thực tế. Những vấn đề được quan tâm gồm nguyên lý sáng tạo, kỹ thuật sáng tạo, tâm lý học sáng tạo.
Cùng với sự phát triển của khoa học sáng tạo, việc áp dụng CNTT và máy tính đã giúp cho khoa học sáng tạo những bước phát triển mạnh mẽ. Sáng tạo học (Creatology) đã trở thành một ngành khoa học chuyên sâu có phạm vi nghiên cứu rộng lớn. Quản lý và giải quyết những vấn đề sáng tạo một cách khoa học là một vấn đề khó và phức tạp vì luôn luôn có yếu tố con người trong các hoạt động sáng tạo.
Nhà nghiên cứu X.L Rubinstein cho rằng "sự sáng tạo là hoạt động của con người tạo ra những chất liệu mới có ý nghĩa xã hội và những chất liệu mới ấy có thể là giá trị vật chất hay tinh thần". Theo nhà tâm lý học người Mỹ Willson thì sáng tạo là "quá trình mà kết quả là tạo ra những kết hợp mới cần thiết từ các ý tưởng dạng năng lượng, các đơn vị thông tin, các khách thể hay tập hợp của hai ba yếu tố được nêu ra". Nhà khoa học Tiệp Khắc J.H Lavsa cho rằng "sáng tạo là sự lựa chọn và sử dụng những phương tiện mới cách giải quyết mới". Sáng tạo bao gồm những khái niệm như: tư duy sáng tạo, năng lực sáng tạo và các hoạt động sáng tạo.
Thế giới đang đứng trước một sự thay đổi lớn lao về cách thức tạo ra của cải và sức mạnh.
Tư duy sáng tạo là khả năng giải quyết vấn đề bằng cách tạo ra một cái mới bằng cách thức mới và đạt được kết quả một cách hiệu quả. Tư duy sáng tạo gần như là tài nguyên cơ bản của con người. Tư duy sáng tạo gắn liền với việc đưa ra cái mới, sáng chế mới, ý tưởng mới, phương án giải quyết mới. Tư duy sáng tạo thuộc về năng lực ra quyết định, kết hợp độc đáo, liên tưởng hay phát minh ra ý tưởng mới.
Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những cái mới hoặc giải quyết vấn đề một cách mới mẻ. Đặc trưng của năng lực sáng tạo đó là khả năng giải quyết vấn đề một cách sáng tạo, dựa trên những phẩm chất cá nhân như trí tuệ (IQ), cảm nhận (EQ), trí nhớ, động lực và ý chí cho phép giải quyết vấn đề một cách linh hoạt, độc đáo và hiệu quả.
Hoạt động sáng tạo là một hoạt động đặc biệt bao gồm nhiều thành tố khác nhau để hướng đến kết quả cuối cùng là tạo ra cái mới. Hoạt động sáng tạo đòi hỏi phải có nỗ lực, phải có động cơ sáng tạo và dựa trên năng lực sáng tạo. Hoạt động sáng tạo là một tổng thể của sáng tạo và tái tạo. Sáng tạo hướng đến những sản phẩm mang giá trị mới mẻ, trong khi tái tạo là bước đệm dưỡng sức cho hoạt động sáng tạo.
Thông minh không đồng nhất với sáng tạo
Thông minh và sáng tạo là không đồng nhất với nhau vì sáng tạo có sự ảnh hưởng mạnh hơn của các yếu tố như ý chí, xúc cảm, động cơ. Sự sáng tạo và thông minh là khác nhau ở mỗi cá nhân. Thông minh là một phần quan trọng của trí tuệ cho phép con người nhận thức thế giới một cách sâu sắc, đầy đủ và toàn diện. Sáng tạo là một thành phần khác của trí tuệ, tạo những phát minh, sáng chế, cải tiến, sáng tác, những cái mới, có thể là những sản phẩm thuộc lĩnh vực khoa học xã hội - nghệ thuật.
Sản phẩm của trí thông minh là phát minh có thể tồn tại rất lâu dài, thậm chí vĩnh viễn, nhưng sáng chế là sản phẩm của sáng tạo thì rất nhanh được cải tiến để đi đến sáng chế mới.
Mấu chốt của hoạt động sáng tạo là ý tưởng. Ý tưởng sáng tạo dù là giản đơn hay phức tạp thì chính nó là mấu chốt của hoạt động sáng tạo vì nó là cơ sở và là đích đến của sự sáng tạo. Einstein cho rằng, ý tưởng, trực giác sáng tạo, khả năng đặt vấn đề hay câu hỏi đúng đắn (liên quan EQ) quan trọng hơn việc giải quyết vấn đề thường bao gồm các công việc liên quan đến toán học hay kinh nghiệm (liên quan IQ).
Năng lực sáng tạo được đo lường thông qua các trắc nghiệm. Quá trình này được diễn ra bằng cách đo năng lực sáng tạo khi cá nhân được kiểm tra thử thách thông qua giải quyết các nhiệm vụ đã được chuẩn hoá. Các nhiệm vụ này được thiết kế sao cho đánh giá đúng những tâm điểm của trí tuệ sáng tạo, giúp cho cá nhân bộc lộ năng lực sáng tạo của mình. Các phép thử hành vi trong trắc nghiệm sáng tạo phải chuyển thành các kích thích hành động sáng tạo của cá nhân đo lường.
Phương pháp khoa học quản lý sáng tạo
Các phương pháp nghiên cứu sáng tạo, như Phương pháp đối tượng tập trung (Method of Focal Objects) của F.Zwicky, Tư duy theo chiều ngang (Lateral thinking) của E.D.Bono, phương pháp Động não (Brainstorming) của A.Osborn, phương pháp Đối tượng tiêu chuẩn do F.Kunze nghiên cứu và phương pháp Tổng hợp (Synectic) do W.Gorden đề xuất vào năm 1960.
Phương pháp Sáu chiếc mũ sáng tạo của Edward de Bono: giúp cho chủ thể sáng tạo có được nhiều cái nhìn về một đối tượng mà những cái nhìn này sẽ khác biệt so với các cách nhìn nhận thông thường. Mỗi một chiếc mũ mang một màu sắc tượng trưng cho một dạng thức của suy nghĩ:
(1). Mũ trắng: trung tính, tập trung trên thông tin rút ra được , các dữ liệu căn cứ và những thứ cần thiết, làm sao để nhận được chúng.
(2). Mũ đỏ: nóng, tình cảm, cảm giác, cảm nhận, trực quan, những ý kiến khôg chứng minh hay giải thích lý lẽ.
(3). Mũ đen: phê phán, bình luận, tại sao sự kiện là sai, tất cả những ý kiến cảm xúc tiêu cực bi quan.
(4). Mũ vàng: tích cực, lạc quan, quan điểm tích cực, lợi ích, những điều tốt đẹp.
(5). Mũ lục: sáng tạo, đưa ra những khả năng có thể xảy ra và các giả thuyết, ý tưởng mới.
(6). Mũ xanh dương: là điều khiển, chi phối quá trình, các bước tổ chức, lãnh đạo, suy xét và các kết luận.
Quy trình sáng tạo DOIT (Define problem, Open mind and apply creative techniques, Identify the best solution, Transform): là phương pháp sáng tạo bằng cách hoạt động nhận thức tối đa vấn đề theo hướng cởi mở các ý tưởng hiện tại để hướng đến giải pháp tốt nhất dựa trên việc đánh giá và so sánh các giải pháp.
Các ý tưởng được đưa ra xem là nguồn dữ liệu cần thiết và quan trọng cho sáng tạo. Các thao tác sáng tạo đòi hỏi người sáng tạo phải theo sát, kiểm soát để có kết quả sáng tạo tốt nhất. Các bước bao gồm: (i) Xác định vấn đề (ii) Cởi mở ý tưởng và sáng tạo (iii) Xác định lời giải hay nhất (iv) Chuyển bước và thực hiện lời giải
Sơ đồ ý tưởng (Mind Map) của Tony Buzan: rất dễ dùng và được áp dụng rộng rãi trong thực tế. Sử dụng hình ảnh của sơ đồ để xâu chuỗi các thông tin theo một kết cấu nhất định nhằm nhìn nhận vấn đề hay giải quyết vấn đề theo hướng sáng tạo, gọn ghẽ, khoa học.
Được sử dụng như một phương pháp ghi nhớ chi tiết để phân tích đối tượng, tổng hợp các dữ liệu của vấn đề thành một dạng của lược đồ phân nhánh. Trên cơ sở đó, các ý tưởng sáng tạo cùng được nảy sinh dựa trên việc phát triển khi liên kết các các dữ liệu, dữ kiện. Phương pháp này hỗ trợ cho sự sáng tạo khi thực hiện động não (Brainstorming), giúp cho ý tưởng được rõ ràng khúc chiết, dễ quản lý và kiểm soát ý tưởng.
Lý thuyết sáng tạo TRIZ (Teoriya Resheniya Izobreatatelskikh Zadatch): do nhà khoa học sáng tạo Genrich Sanfovich Altshuller (Liên Xô) và các cộng sự tạo ra. Đây là lý thuyết lớn với các công cụ hoàn chỉnh nhất trong khoa học sáng tạo.
TRIZ dựa vào kết quả của một cuộc khảo sát và phân tích sâu sắc những quy luật sáng tạo cơ bản ẩn chứa bên trong những sáng chế. Lý thuyết bao gồm 9 quy luật phát trển hệ thống kỹ thuật, 40 nguyên tắc sáng tạo cơ bản để giải quyết các bài toán kỹ thuật, 76 chuẩn để giải các bài toán sáng chế. Có thể áp dụng để tiếp tục tổ hợp hoá các thành phần này theo các cách khác nhau để tạo nên những kết quả đa dạng phong phú.
Nguyên lý sáng tạo TRIZ được áp dụng trong nhiều ngành công nghiệp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. TRIZ được áp dụng để tạo ra những tiến bộ trong ngành phần mềm, công nghệ hoá học, kiến trúc, quảng bá giáo dục. Các tập đoàn lớn như Boeing, Samsung, Johnson&Johnson... đang áp dụng TRIZ trong hoạt động quản lý sáng tạo của mình.
Hệ thống quản lý sáng tạo của Thomas Edison:
Thomas Alva Edison, nhà phát minh hàng đầu với 1093 phát minh sáng chế hữu ích như: bóng đèn điện, máy hát, tàu điện... là nhà tiên phong trong lĩnh vực quản lý sáng tạo một cách khoa học. Với biệt danh "Nhà phù thuỷ ở Menlo Park", Edison nổi tiếng với khả năng tự học hỏi và năng lực sáng tạo mạnh mẽ. Peter Drucker, bậc thầy về quản lý đã gọi Thomas Edison là "hình mẫu lý tưởng cho mọi doanh nhân hoạt động trong lĩnh vực sáng tạo và công nghệ". Trước Edison, việc phát minh sáng tạo là các hoạt động ngẫu nhiên và đơn lẻ. Hệ thống quản lý sáng tạo của Edison bao gồm phương pháp quản lý sáng tạo, nguyên tắc sáng tạo và những phẩm chất năng lực để sáng tạo hiệu quả.
Phương pháp quản lý sáng tạo của Thomas Edison bao gồm các nguyên lý:
(i). Tư duy hướng tới giải pháp: lấy giải pháp làm trọng tâm là cách giúp Edison luôn có rất nhiều công cụ và phương pháp để giải quyết vấn đề.
(ii). Suy nghĩ đa chiều: tư duy nhiều vấn đề cùng một lúc và xem xét vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau để có sự đa dạng trong tư duy.
(iii). Hoạt động hết mình: hoạt động hết mình với niềm đam mê và sáng tạo tối đa với nguồn năng lượng và sức khoẻ dồi dào cho phép Edison có rất nhiều phát minh sáng chế.
(iv). Sáng tạo siêu giá trị: sáng tạo hữu ích phải đến từ nhu cầu thị trường. Edison luôn phát minh và sáng tạo ra những sản phẩm thiết yếu cho cuộc sống như điện thoại, máy chiếu phim, máy hát đĩa...
Nguyên tắc sáng tạo của Edison được tóm tắt thông qua từ SMART:
(S)pecific: cần xác định những việc cần làm một cách chi tiết cụ thể.
(M)easurable: đo lường, đánh giá quá trình thực hiện như thế nào? Làm sao biết đã hoàn thành mục tiêu
(A)ccountable: hãy chịu trách nhiệm và cam kết thực hiện đầy đủ trách nhiệm để hoàn thành mục tiêu. Đảm bảo rõ ràng trách nhiệm của từng người trong nhóm.
(R)elevant: đảm bảo các mục tiêu cụ thể là phù hợp với với mục đích và giá trị ban đầu.
(T)imeline: thời hạn phải hoàn thành cho từng mục tiêu, công việc sáng tạo cần hoàn thành trong thời hạn cho phép, nếu không sẽ không còn giá trị.
Những phẩm chất và năng lực EDISON cần thiết cho sáng tạo:
(E)motional: theo kinh nghiệm của Edison, trí tuệ cảm xúc đóng vai trò quan trọng trong việc tìm lời giải sáng tạo và hoàn thành mục tiêu. Đam mê gắn với sáng tạo cho phép hoàn thành công việc tốt hơn.
(D)ecisive: sự quyết đoán trong công việc, mạnh dạn đưa ra quyết định, chấp nhập rủi ro và thử thách trong công việc và sáng tạo.
(I)ntergrated: kết hợp một cách rõ ràng thận trọng mục tiêu hiện nay có phù hợp với các định hướng khác hay không và phải đặt trên cơ sở của mục đích chung nhất. Giữ phương châm luôn luôn gắn mục tiêu với những mục đích cao cả hơn ngoài lợi ích cá nhân.
(S)ensory: sử dụng giác quan để cảm nhận và mường tượng ra quá trình thực hiện mục tiêu.
(O)ptimistic: lạc quan và thực hiện mục tiêu là một điều tất yếu.
(N)ow: xác định mục tiêu hiện tại và thực hiện ngay.
Cuối cùng, theo Edison "thành công bao gồm 99% lao động và 1% sáng tạo". Để hoàn thiện sáng chế tạo ra pin kiềm, Edison đã tổ chức thực hiện khoảng 50.000 thí nghiệm. Trong quá trình lao động và sáng tạo, Edison đã tích luỹ được một kho kinh nghiệm và kiến thức khổng lồ. Cùng với những sách vở tư liệu được sưu tầm, kho tri thức sâu rộng này đã giúp Edison tiến hành thành công các hoạt động sáng tạo đổi mới.
Giáo dục khả năng sáng tạo
Dựa trên cơ sở nhận thức mỗi người đều có tiềm năng sáng tạo nhất định, các hoạt động sư phạm giáo dục sáng tạo nhằm tạo nên một cách có chủ ý khả năng sáng tạo hay các thành phần của năng lực sáng tạo bằng những phương pháp và những điều kiện sư phạm phù hợp. Giáo dục có vai trò đặc biệt để nâng cao và phát triển khả năng sáng tạo của con người. Giáo dục sáng tạo có hai hướng chính:
(i)- Hướng dẫn có chương trình, kế hoạch có nội dung nhằm phát triển có chủ định khả năng sáng tạo. Theo hướng này thì có hai kiểu chương trình phát triển sáng tạo được xây dựng là phát triển sáng tạo nói chung và phát triển những thành phần cụ thể của sáng tạo.
(ii)- Giáo dục loại trừ những cản trở cho sự hoạt động sáng tạo. Đây là hướng được áp dụng nhiều trong thực tế thông qua các lớp huấn luyện ngắn hạn theo chuyên đề nhằm nhận ra những yếu tố cản trở sự sáng tạo như: sự sợ hãi, tính ỳ tâm lý, các biện pháp khắc phục để thúc đẩy sự sáng tạo.
Giáo dục có vai trò rất quan trọng để nuôi dưỡng phát triển tư duy sáng tạo. Giáo dục cái mới hay nhồi nhét kiến thức sẽ không bao giờ đủ, thậm chí còn làm tắt đi khả năng sáng tạo. Giáo dục cách sáng tạo để đạt đến cái mới tìm ra cái mới là yêu cầu tối cần thiết, chính là trang bị công cụ tối ưu cho con người khả năng sáng tạo.
Bảo vệ tài sản trí tuệ và giá trị sáng tạo:
Trong các kết quả hoạt động sáng tạo của con người, những sáng chế (License) sẽ được trải qua các bước thẩm định như sau:
(1). Xác định tác giả sáng chế, cải tiến
(2). Xác định các giải pháp kỹ thuật so với chuẩn sáng chế
(3). Cấp giấy chứng nhận tác giả hoặc công nhận sáng chế (Patent)
(4). Xác định quyền chuyển nhượng hay sử dụng
(5). Bảo vệ phát minh sáng chế theo quy mô
Các tổ chức bảo vệ quyền lợi tác giả và phát minh sáng chế gồm NOIP (Cục sở hữu trí tuệ - Việt Nam), WIPO (Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới), UPSTO (Mỹ), EPO (Châu Âu) và Công ước quốc tế Berne. Thông qua các tổ chức bảo vệ phát minh và bản quyền, sự sáng tạo mới sẽ được đánh giá và trả công xứng đáng, đem lại lợi ích kinh tế cho cá nhân và tổ chức thực hiện sáng tạo đổi mới. Từ đó, có động lực thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới và sáng tạo trên quy mô toàn cầu.
Sáng tạo trong nền kinh tế tri thức toàn cầu hoá
Theo Edison, để sáng tạo cần phải có một trí tưởng tượng phong phú và nền tảng kiến thức sâu rộng. Ngày nay, Internet cung cấp một môi trường hoàn hảo cho sự sáng tạo phát triển. Thông qua Internet, chúng ta có thể học hỏi một cách có hệ thống các kiến thức cần thiết, giao lưu với các cộng đồng sáng tạo trên những diễn đàn chuyên ngành hay các cộng đồng chuyên môn CoP (Community of Practice). Internet còn là nguồn cung cấp thông tin vô tận và mới mẻ về tất cả các vấn đề trong cuộc sống.
Thông qua Internet, các ý tưởng và sáng tạo có thể được kiểm tra, gọt dũa để trở nên hoàn thiện và hữu ích. Thông qua giao dịch eCommerce, ý tưởng và sáng tạo mới được bán và cung cấp cho những khách hàng toàn cầu một cách thuận tiện và nhanh chóng. Ví dụ cụ thể là những sản phẩm, thông tin, dịch vụ, phần mềm được sáng tạo ra ở một nơi và được phân phối thông qua Internet đến tay người dùng trên khắp thế giới.
Trong cuộc vận động phát triển và toàn cầu hoá hiện nay, quốc gia nào có năng lực quản lý và sáng tạo đổi mới tốt hơn sẽ tạo ra nhiều giá trị mới và thu lại được nhiều lợi ích hơn. Việt Nam với thế mạnh nhân lực và năng lực sáng tạo, sự đầu tư mạnh mẽ cho CNTT và truyền thông đã có những nền tảng cơ sở rất tốt để xây dựng nền kinh tế sáng tạo, tạo ra giá trị cao từ những sản phẩm sáng tạo đổi mới.
Thứ Hai, 14 tháng 2, 2011
Một thoáng Hà Nội 2
Một vài cảm nhận của Gs Nguyễn Văn Tuấn(nguyenvantuan.net) về Hà Nội, bên dưới có đoạn viết:" Đến Thái Bình, xe vào một thị tứ, mấy em bé đen đúa chạy theo xe, vì hình như chúng chưa bao giờ (hay ít) thấy xe hơi trong đời. Có vài em thậm chí còn nhảy lên mui xe làm tài xế méo mặt. Lại có vài em lăn xăn ngửi xăng! Tôi hết sức ngạc nhiên. Không ngờ miền Bắc nghèo khó đến như thế!" Những đứa trẻ ấy không chừng có cả mình nữa .:D, sau nhiều năm nhiều thứ khác trước đây ,có những thay đổi về không gian xã hội, nếu xe anh Tuấn có dịp về Thái Bình, có lẽ mình lịch sự hơn xin đi nhờ xe, không để tài xế anh hoảng sợ nữa.:D.
Chúc anh sức khỏe và gặt hái nhiều những thành tựu khoa học.
Đây là entry cuối cùng trong loạt bài ghi chép cuối năm. Chuyến về quê vừa qua, tôi có dịp ở Hà Nội được hơn 1 tuần. Đi và về Hà Nội nhiều lần. Nhưng không bao giờ dám nhận là mình biết Hà Nội. Mỗi lần ghé qua là mỗi lần học hỏi. Do đó, chỉ dám nói là một thoáng Hà Nội mà thôi ...
Không biết có ngoa ngôn chăng nếu nói rằng một trong những thành quả lớn nhất trong lịch sử cận đại là đất nước được thống nhất. Sau 25 năm chia cách, cuối cùng thì Việt Nam cũng thống nhất. Không còn VNCH và VNDCCH nữa; chỉ đơn giản là Việt Nam. Sau 25 năm đánh nhau chí chết và ngăn cách bởi hàng rào chủ nghĩa (ngoại lai), những người Việt hai miền lại gần nhau hơn, biết nhau hơn, và thân nhau hơn. Dù còn vài bất đồng ý kiến, nhưng tôi vẫn nghĩ cái công thống nhất đất nước của các vị cách mạng thì chắc nhiều người đồng ý.
Tôi cũng nằm trong cơn lóc xoáy của lịch sử mà có cơ duyên biết đến Hà Nội từ những năm sau 1975. Tôi đến Hà Nội lần đầu vào năm 1977 hay 1978 (không còn nhớ chính xác nữa). Thuở đó tôi cùng với 3 đồng nghiệp khác đi công tác (thật ra là đi dự lớp tập huấn chuyên môn) ở Hà Nội. Chúng tôi đi bằng chiếc xe Ford Falcon cũ kĩ do “Mĩ Ngụy” để lại, nhưng dưới bàn tay tuyệt vời của người thợ Việt Nam, chiếc xe cũng chở chúng tôi từ Nam ra Bắc. Chuyến đi ngang qua cầu Hiền Lương, ghé qua Thanh Hóa, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, để các bạn ghé thăm nhà, rồi sau cùng là Hà Nội. Ấn tượng còn đọng trong tôi là thời đó, miền Bắc còn nghèo lắm. Tôi còn nhớ bưu điện Vinh (?) chỉ là một mái nhà lá. Thành phố buồn thiu, trống trơn, chẳng khác gì Bắc Hàn ngày nay. Đến nhà anh bạn ở Thanh Hóa. Đó là một căn nhà nhỏ, chật hẹp, trong nhà chẳng có gì đáng kể cả (theo cái nhìn của tôi lúc đó). Vì thấy tôi là người Nam ra, nên gia đình anh bạn quyết định thiết đãi tôi. Nhưng khổ nỗi nhà nghèo quá, gạo thì không đủ, thậm chí cái nồi nấu cơm cũng chẳng “chỉnh chu” chút nào cả. (Sau này tôi biết được rằng người nhà phải đi mượn cái nồi nấu cơm ở hàng xóm về nấu cho chúng tôi ăn). Bây giờ nhớ lại tôi vẫn còn xúc động mạnh. Đến Thái Bình, xe vào một thị tứ, mấy em bé đen đúa chạy theo xe, vì hình như chúng chưa bao giờ (hay ít) thấy xe hơi trong đời. Có vài em thậm chí còn nhảy lên mui xe làm tài xế méo mặt. Lại có vài em lăn xăn ngửi xăng! Tôi hết sức ngạc nhiên. Không ngờ miền Bắc nghèo khó đến như thế!
Đường phố Hà Nội thời bao cấp
Nhưng cường độ ngạc nhiên của tôi tăng đến điểm đỉnh khi đến Hà Nội. Trước khi đi, tôi háo hức lắm, vì nghĩ mình sẽ ghé thăm một nơi gọi là ngàn năm văn hiến. Tôi sẽ ghé qua Chùa Cầu Đông để xem ngày xưa chàng Tú Uyên và nàng Giáng Kiều gặp nhau ở đâu. Trong tâm tưởng của tôi thời đó, qua Thạch Lam, Hà Nội là nơi thanh lịch, là vùng đất văn hiến, là những tà áo dài thước tha để thi sĩ Quang Dũng phải Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm (và nghe nói sau này phải khốn đốn vì mấy câu thơ kiểu này!) Nói chung là ước vọng và ý nguyện thì nhiều lắm, vì các nhà văn, thi sĩ, nhạc sĩ đã gieo cho tôi cái dấn ấn tưởng tượng tuyệt vời về Hà Nội, đã đưa tôi phiêu bồng một nơi chốn huyễn tưởng. Kì vọng bao nhiêu thì thất vọng bấy nhiêu. Lần đầu “đối diện” Hà Nội tôi thất vọng hoàn toàn. Đó là một thành phố (hay thị trấn?) thiếu sinh khí. Đó là một Hà Nội cổ kính, loang lỗ, nhếch nhác, và ảm đạm.
Phố xá Hà Nội thời bao cấp, cảnh xếp hàng mua đồ phân phối
Hoàn toàn khác với Sài Gòn. Sài Gòn nhộn nhịp và vui tươi bao nhiêu, thì Hà Nội im lặng và ảm đạm bấy nhiêu. Đường phố Hà Nội dạo đó rất ít xe ôtô, mà có thì toàn là xe khối XHCN rất xấu xí, cục mịch. Xe gắn máy cũng rất ít, và thay vào đó là xe đạp nhiều. Người đi đường có vẻ lầm lủi, không vui. Hiếm thấy những khuôn mặt rạng rỡ. Chẳng thấy “dáng kiều thơm” nào cả; tất cả phụ nữ hình như chỉ có một kiểu mặc duy nhất: quần đen lên mắc cá, áo sơ-mi trắng dài tay, tóc dài, trông rất Tàu và ... rất buồn cười. Nam thì quần fatigue, đội nón cối, dù họ chẳng phải là lính tráng gì cả. Hình như người Bắc thích nón cối. Nói tóm lại, chẳng có cái gì gây ấn tượng đẹp cho tôi cả, ngoại trừ hồ Hoàn Kiếm làm tôi thấy có cảm tình với Hà Nội một chút. Suốt hai tuần ở Hà Nội, tôi chẳng đi đâu, chán ơi là chán, chỉ chờ ngày về Sài Gòn. Lúc đó tôi mới thấm và hiểu cho mấy bác đi tập kết nhất quyết đòi về Nam. Ấn tượng của tôi về Hà Nội thời đó phải nói là rất negative, và tôi bắt đầu nghi ngờ những gì mình đọc trong Tự lực văn đoàn, hay nghe những bài nhạc của các vị nhạc sĩ, tôi cảm thấy như là họ -- nói theo tiếng Anh là – đã take me for a ride (hay nói lịch sự là lường gạt).
Mốt nón cối
Bẵng đi gần 25 năm sau, tôi mới có dịp quay lại Hà Nội. Thành phố bấy giờ khang trang hơn, có nhiều xe auto và xe gắn máy hơn. Đường phố có vẻ sạch sẽ hơn, và con người cũng có vẻ tươi tắn hơn. Sau đó, tôi có dịp ghé Hà Nội nhiều lần, và lần nào cũng thấy cái mới. Nhưng lần nào cũng chỉ ở đó 2 hay 3 ngày, không có dịp đi đây đó để trải nghiệm. Thuở đó tôi có ghi lại cảm nhận của mình qua bài bút kí Một thoáng Hà Nội. Cuối năm ngoái (2010) tôi có dịp ra Hà Nội và ở đó hơn 1 tuần, tuy chưa đủ để hiểu về thành phố này, nhưng cũng đủ có lí do để ghi lại vài cảm nhận cá nhân cho entry Một thoáng Hà Nội 2 này.
Một góc của Hà Nội bây giờ
Hà Nội dễ thương
Nói ra câu trên chắc có nhiều người cười và cho rằng tôi nói … thừa. Hà Nội của Thạch Lam 36 phố phường dĩ nhiên là dễ thương rồi, ai lại nói khác đi. Nhưng quả thật, đi một vòng quận Hoàn Kiếm và ra ngoài một chút tôi thấy Hà Nội có duyên và dễ thương. Hồi năm 2008 tôi ở Intercontinental (hình như khu đó gọi là Nghi Tàm), buồn, chẳng đi đâu được cả (ngoài mấy quán thịt chó). Lần này, tôi ở Melia, tức là trung tâm thành phố, nên có dịp cuốc bộ vào mỗi sáng và chiều. Hà Nội vào tháng 12 người ta mặc áo lạnh, nhưng tôi thì áo ngắn tay vì đối với tôi đó là thời tiết mát, dễ chịu. Phụ nữ Hà Nội duyên dáng, mảnh khảnh, trắng trẻo (chắc thiếu vitamin D J), ăn nói nhỏ nhẹ, và ân cần giúp khách. Tôi gặp vài trường hợp bị đàn ông Hà Nội “chém” tiền taxi và ăn uống, nhưng bù vào đó là toàn gặp những người nữ Hà Nội rất lịch thiệp. Nhìn mấy cô Hà thành mặc áo lạnh đi xe vespa hay xe đạp trên những đường phố đầy bóng cây thì quả là quá dễ thương. Dạo một vòng Hồ Hoàn Kiếm thấy những cặp tình nhân tay trong tay ngồi ngắm nước hồ trầm tư cũng có cái đẹp đấy.
Phụ nữ Hà Nội
Một người bạn Úc của tôi cũng nói Hà Nội “surprisingly nice”. Anh ấy là người gốc Melbourne, một giáo sư rất nổi tiếng trên thế giới và đình đám trong bộ môn loãng xương, và cũng chính là người duyệt luận án của tôi thời xa xưa. Anh ấy đi Hà Nội nói chuyện cho một công ti dược và ở đó chỉ 3 ngày, nhưng khi về Úc, anh khen Hà Nội nức nở, đến nổi tôi nghĩ “hay là tay này … xạo”. Anh khen món ăn Hà Nội ngon, đường phố mát mẻ, và câu kết là surprisingly nice – dễ thương một cách ngạc nhiên. Tôi đoán trong tâm tưởng của anh trước khi đến Hà Nội thì đó là một nơi lạc hậu, chiến tranh, bom đạn tàn phá nát bét. Nhưng khi đối diện thực tế thì hoàn toàn vượt xa những gì anh nghĩ trong tâm tưởng nên khen quá cỡ. Có một vụ việc rất cá nhân làm anh ta mến Hà Nội. Số là anh ta đi may 2 cái áo chemise ở khu phố cổ. Nhưng vì ra sân bay gấp quá nên anh ta … quên lấy áo. Đến khi về Úc, anh ta điện cho tôi hỏi có cách nào lấy 2 cái áo mà anh ấy rất thích không. Tôi than trời, làm sao tao có thể giúp mày, khi mày chẳng biết tên cái nhà may là gì, ở đâu, số điện thoại … Nói thế thôi, nhưng qua liên lạc với khách sạn, và mô tả tiệm may, sau cùng khách sạn cũng tìm ra được 2 cái áo và gửi về Úc cho anh. Anh ta thán phục vô cùng. Anh ta khen người thợ may đó là ”Number 1 in the World” (số 1 trên thế giới), vì chỉ có người thợ may đó may cái áo anh ta ưng ý. Kiểu nào anh ta vẽ ra anh thợ may đều hoàn tất theo ý muốn của thân chủ. Trong chuyến đi vừa qua, anh ta còn nhờ tôi may cho anh ta 5 cái áo chemise do chính anh ta thiết kế ngay tại nhà may đó!
Hà Nội là thủ đô của văn học, nên ra đường rất dễ gặp văn sĩ. Một hôm, tôi cuốc bọ đi quanh bờ hồ, lang thang sang khu Tràng Tiền chuyên bán sách. Đang chọn sách thì tôi chú ý đến anh chủ tiệm sách đang đàm đạo chuyện văn chương với một anh Việt kiều. Hóa ra, anh Việt kiều là một nhà thơ ở Melbourne, mới về VN và ra Hà Nội lần đầu. Cũng như tôi, anh nhà thơ đi tìm sách, và chẳng hiểu sao ngồi lại đàm đạo văn chương với ông chủ tiệm sách bên li bia hơi. Thấy tôi tìm sách của Bùi Ngọc Tấn, hai anh cũng chú ý, và thế là chúng tôi quen nhau. Tôi cũng ngồi xuống bên vỉa hè, nhâm nhi cùng các anh ấy vài li bia hơi và nói chuyện thời sự. Sau này, tôi còn ghé đó thêm một lần để tìm sách và nói chuyện văn nghệ văn gừng với anh chủ tiệm sách. Bây giờ ngồi nghĩ lại tôi thấy người Hà Nội cũng thân thiện lắm chứ. Đâu có thấy họ kì thị Bắc Nam gì đâu (hình như cái khoản này thì dân Nam kì thị dân Bắc hơn). Thật tình cờ khi anh chủ tiệm sách chỉ tay lên gác và nói cụ Nguyễn Văn Vĩnh từng ở và làm việc trên cái gác ấy. Có thể nói không ngoa rằng mỗi tất đất ở Hà Nội đúng là một điểm lịch sử.
Khu Tràng Tiền chuyên bán sách
Hà Nội xoa hoa
Một tuần ở Melia tôi chứng kiến và kinh ngạc sự xa hoa của dân Hà Nội. Đó là nơi người ta đón tiếp các VIP, kể cả nguyên thủ quốc gia. Sáng nào đi ăn sáng tôi cũng gặp các quan lớn nước ngoài, có những người mà tôi đoán chắc là sĩ quan Mĩ đeo lon tá tướng đang bàn chuyện gì đó có vẻ vui lắm. Cũng có khi ngồi gần bàn của vài giáo sư Mĩ đang bàn về lớp học ở Đại học Quốc gia, mà tôi loáng thoáng nghe là họ khen sinh viên Việt Nam giỏi, nhưng họ chê thầy cô lười biếng! Cứ vài ngày khách sạn đón VIP, và các quan chức Việt Nam lăn xăn chuẩn bị thảm để đón khách. Nhìn thấy cách họ làm tôi vừa buồn cười, vừa ngạc nhiên. Buồn cười vì cách họ làm cứ như là việc gì quan trọng trong đời lắm vậy. Ngạc nhiên là vì ở Úc tôi thấy người ta đón Thủ tướng cũng đơn giản lắm, chẳng có thảm đỏ, cũng chẳng có ai đứng thành hàng để bắt tay hay chào đón cả. Kể ra thì kiểu hiếu khách của Việt Nam cũng khác người.
Melia cũng là nơi các đám cưới sang trọng được tổ chức. Chỉ một thời gian ngắn mà tôi có dịp chứng kiến 4 đám cưới tại đây. Nam thanh nữ tú xuất hiện đầy ở đại sảnh khách sạn. Cái gì cũng có vẻ đắt tiền trong những đám cưới này. Quần áo, vật trang sức, kể cả nước hoa cũng đều thuộc loại thượng đẳng. Tôi thấy một khách mời đám cưới đi cùng bạn trai cô ta vào tiệm bán điện thoại trong khách sạn, và họ thản nhiên tiêu ra 8000 USD cho một cái điện thoại hiệu Vertu (hay gì đó)! Có một đám cưới mà khách mời đi bằng 3 chiếc xe hơi hiệu Lamborghini và Ferrari!
Tuy nhiên, cái xa hoa của những người khách vẫn không dấu được cái chất quê ở họ. Dù với những bộ quần áo, vật trang sức và xe hơi đắt tiền, nhưng cốt cách của họ vẫn là người quê. Từ những thái độ kẻ cả, cách ăn nói hống hách, cái nhìn khinh bỉ người thấp hèn, đến dáng đi cho thấy họ xuất phát từ một cái phông nền văn hóa và đạo đức thấp. Tất cả những cái đắt tiền được trang bị phía ngoài hình như chỉ để phô trương, để học làm trưởng giả, chứ không đủ che kín được bản chất nhà quê. Tôi từng chứng kiến một chị mặc đồ đầm rất sang trọng với cái ví Louis Vuitton mà ... ngồi chồm hổm để buộc đôi giày đang bị sứt! Tôi cũng từng thấy một anh chàng lái xe Ferrari mà nói với người phục vụ khách sạn bằng ngôn ngữ mày tao y như phong cách của kẻ giang hồ.
Khách sạn sang trọng cũng là nơi người ta tung tiền mua rượu đắt tiền. Mấy hôm ở Melia tôi làm quen với người quản lí nhà hàng, và nghe người ta tiêu tiền mà kinh. Anh kể rằng tuần nào anh cũng bán được những chai rượu giá tối thiểu 4000 USD. Một hôm tôi đi ăn tối với các anh trong Viện dinh dưỡng ở một khách sạn 4 sao và anh quản lí ở đó cũng nói rằng chuyện các đại gia hàng chục ngàn USD cho một chai rượu là chuyện bình thường.
Nói như thế tôi không có ý chê trách gì. Mỗi người có lựa chọn riêng của mình trong cách tiêu tiền, và những người có khả năng để phô trương thì cũng chẳng có gì phải nói. Chỉ hi vọng rằng đó không phải là những đồng tiền tham ô hối lộ hay ăn cắp của dân. Một trong những mục tiêu của cách mạng là san bằng bất công và xóa bỏ giai cấp, nhưng trớ trêu thay, sau vài chục năm cách mạng thành công thì bất công chẳng những không giảm mà còn tăng. Trong thực tế, chính những người làm cách mạng cho ra đời những qui chế bất công và sản sinh ra bất bình đẳng. Còn nhớ thời bao cấp, trong khi người dân thường chỉ có tiêu chuẩn 150 g thịt, thì cán bộ cao cấp được 6 kg, tức 40 lần tiêu chuẩn người dân! Chưa thấy qui định nào vô lí và dã man như thế! Đó là chưa kể những qui định kiểu quan chức cỡ này thì được điều trị nơi này, còn người dân thì xếp hàng chờ đến chết. Bất công kéo dài cho đến ngày chết! Phải bao nhiêu tuổi Đảng, công thần cấp cao thì mới được chôn cất ở Mai Dịch. Đúng là nói một đường làm một nẻo. Vậy thì có lẽ chúng ta không ngạc nhiên khi thấy bất công ở VN sau thời cách mạng ngày càng tăng. Đành rằng xã hội thì có bất công và bất bình đẳng (chỉ có ai điên mới cho rằng xã hội không có bất công), nhưng sự bất bình đẳng ở Việt Nam quá lớn làm cho chúng ta phải chạnh lòng. Một li cà phê trong khách sạn 5 sao là 87,000 đồng, so với một li cà phê vỉa hè là 5,000 hay 10,000 đồng. Nếu là một đất nước có thu nhập trung bình vài chục ngàn USD thì tôi chẳng có gì phải suy nghĩ, nhưng đây là một trong những nước nghèo nhất thế giới, nơi mà đại đa số người dân sống bằng thu nhập 50 ngàn đồng một ngày. Khoảng cách giữa người có và người không có quá lớn. Có lẽ tôi hơi lẩn thẩn suy nghĩ mấy chuyện này, những chuyện mà nhiều người ngày nay xem là chuyện nhỏ.
Và những người bạn
Mỗi lần ra Hà Nội tôi đều có dịp gặp bạn bè. Bạn bè có khi chưa biết mặt (vì chỉ trao đổi qua email), nhưng cũng có bạn bè đã quen nhau từ trước. Tôi quen 2 anh bạn tôi quen từ năm 2008. Anh Th là dân học ở Nga về có vợ là bác sĩ, nay đã nghỉ hưu; còn anh M cũng là người đi học ờ ngoài về và cũng đã nghỉ hưu. Hai anh là nhiệt kế thời sự mà tôi chỉ biết ngồi nghe và suy nghĩ. Lần trước anh dẫn tôi đi vòng Hà Nội và chỉ căn nhà của Nhà văn Vũ Thư Hiên, nay là một quán cà phê; lần này anh dẫn tôi đi uống cà phê và nhậu bia hơi. Ngồi hàng quán mà bàn chuyện nhân tình thế thái kể ra cũng rất thú vị. Lần nào hai anh cũng làm tôi rất ngạc nhiên về những quan điểm ”cấp tiến” của hai anh. Có thể nói rằng hai anh suy nghĩ hoàn toàn "ngoài cái hộp" mà giới tuyên truyền đã và đang ra rã nói. Tôi chợt nghĩ nếu như mọi người ngoài Bắc đều suy nghĩ như hai anh thì chắc Nam Bắc đã không có một cuộc chiến tương tàn đến 25 năm.
Lần này, hai anh làm tôi ngạc nhiên về những mối quan hệ chằng chịt trong giới cầm quyền, và hai anh kết luận rằng việc cha truyền con nối đã và đang xảy ra ở nước ta có khác gì bên Bắc Hàn hay thời phong kiến đâu! Hai anh giỏi sử, và đưa ra nhiều bình luận ... ngược đời. Anh M đưa ra nhiều dữ liệu (tôi không chắc mấy, vì không thuộc sử) để chứng minh rằng vua Lý Thái Tổ là một người tàn ác, chứ chẳng phải thánh thiện gì. Còn các vua đời Nhà Trần (ngoại trừ Trần Nhân Tông) cũng ác ôn không kém. Từ đó, anh cho rằng việc các chính quyền hiện đại dùng bạo lực và đàn áp để cai trị dân ở nước ta là có ... truyền thống. Hệ quả của kết luận là phải nhìn lại và kiến trúc lại con người Việt Nam sao cho họ sống tử tế với nhau hơn.
Anh M nói đùa rằng người ta muốn dời đô ra Ba Vì vì Hà Nội có nhiều âm khí quá. Anh M chứng minh rằng ngay dưới tại Tháp Rùa ở Hồ Gươm là mộ của bà mẹ của một đại gia Hà Nội thời Pháp. Anh lưu ý tôi rằng Tháp Rùa được xây theo kiến trúc nửa Tây phương (phần dưới) và nửa Đông phương (phần trên). Anh còn chứng minh thêm rằng lăng cụ Hồ cũng là âm khí. Rồi anh vui vẻ kết luận rằng cần phải dời đô ra khỏi Hà Nội để giảm âm khí! Câu chuyện thật vui, đúng là chuyện trên bàn nhậu, nhưng cũng đủ làm cho tôi suy nghĩ về những gì mình chưa biết về Tháp Rùa (còn chuyện lăng thì tôi ... không bàn).
Tháp Rùa: phía dưới là mộ của một người giàu có ngày xưa ở Hà Nội
Lần ra Hà Nội kì này tôi gặp được vài anh bạn rất thú vị. Chúng tôi gồm một nhóm người quan tâm đến việc nâng cao sự hiện diện của VN trên trường khoa học quốc tế, và thường trao đổi nhau qua email chứ ít gặp nhau ở ngoài đời. Nghe tôi đến Hà Nội các bạn ấy tổ chức một buổi ăn tối để gặp nhau và hàn huyên. Qua đó mà tôi biết mặt mũi của những bạn mình từng bàn việc chung. Trong số các bạn đó, có anh PĐC, một người đã lên tiếng rất nhiều lần về việc cải cách trong quản lí khoa học, và lấy tiêu chuẩn công bố quốc tế làm thước đo đánh giá nhà khoa học. Những bài anh viết rất trực tiếp, và có thể nói là không nhân nhượng. Tôi hỏi anh rằng với những bài như thế anh có gặp khó khăn gì không, thì anh cười nói có thì có chứ, nhưng anh chẳng có gì phải ân hận về quan điểm của mình. Tôi còn gặp một đồng nghiệp của anh PĐC là anh ĐHC. Anh ĐHC là dân Trung kì, nhưng đã định cư ngoài Hà Nội lâu và tự xem mình là dân Hà Nội. Chúng tôi đã có một cuộc trao đổi thú vị cùng một người quan chức cao cấp của Bộ KHCN hôm đó.
Một trong những người bạn tôi lúc nào cũng ghé thăm và hỏi chuyện là anh VT đang công tác tại một tờ báo của Bộ KHCN. Anh VT và tôi quen biết nhau cũng trên 10 năm, ấy thế mà lần nào gặp anh tôi chẳng thấy anh già đi chút nào cả! Tuy là người gốc Huế, nhưng anh nói giọng Hà Nội sang sảng. Là sĩ quan cấp tá trong thời chiến xa xưa, và từng bỏ quân hàm vì lẽ phải, nên anh xem nhiều quan chức cao cấp hiện nay chỉ là ... đàn em. Cũng đúng thôi. Anh cũng thuộc vào týp người sĩ phu Bắc Hà, cũng ao ước cải cách khoa học và giáo dục, cũng đau đáu về tương lai đất nước, cũng nổi giận về vấn nạn mua quan bán tước hiện nay. Anh có một nhận xét rất hay là bấy lâu nay, chúng ta nói nhiều về vấn nạn tiến sĩ (tiến sĩ tràn lan) mà không ai đề cập đến vấn nạn quân hàm. Anh cho rằng ngày nay quân đội và công an có quá nhiều người mang hàm tướng và tá. Anh chỉ ra bằng câu hỏi rằng có thời đại nào ở Việt Nam mà trung tá đi phạt vi phạm giao thông không? Rồi anh liên tưởng đến chuyện phong tướng bừa bãi dưới thời Quang Trung và xem đó như là một tín hiệu không lành mạnh.
Chuyện vấn nạn tiến sĩ làm tôi nhớ đến một kinh nghiệm vui vui. Hôm đó tôi đi nói chuyện trong một hội nghị chuyên đề ở một khách sạn sang trọng tại Hà Nội. Xong hội nghị, tôi ra ngoài đón taxi về khách sạn, mới lên xe anh tài xế taxi vẻ mặt không mấy thân thiện buông câu hỏi "Thế anh cũng là tiến sĩ à?" Thấy nét mặt hằm hằm của anh và câu hỏi vui vui, nên tôi đưa 2 tay lên nói "Ô, không phải, tôi chỉ đi dự hội thảo chứ có phải tiến sĩ tiến siếc gì đâu". Anh ta thay đổi thái độ và cười, rồi nói rằng nãy giờ anh toàn đưa đón mấy người trong hội nghị và tay nào cũng là tiến sĩ, thanh toán tiền rắc rối quá, nên anh ... có ác cảm với tiến sĩ. :-) Trên đường về khách sạn, anh không tiếc lời nguyền rủa cái hệ thống đào tạo ra những tiến sĩ dỏm, tiến sĩ giấy. Anh nói rằng mỗi lần nghe đài, đọc báo, hay xem tivi mà thấy tiến sĩ là anh tắt. Câu chuyện này tôi kể cho nhiều người nghe, và ai cũng ôm bụng cười. Đúng là nước ta có vấn nạn tiến sĩ.
***
Đó là những ấn tượng và cảm nhận của tôi về Hà Nội trong một chuyến đi ngắn. Thật ra, có nhiều điều tôi cũng muốn viết ra, nhưng nghĩ đi nghĩ lại thì thôi J, vì ngại đụng chạm ở đây. Hà Nội được mệnh danh là mảnh đất nghìn năm văn hiến, là trái tim của Việt Nam. Nhưng tôi không chắc điều đó. Những huyễn tưởng của tôi về Hà Nội không còn nữa. Tôi đã ”thực tế” hơn nhiều. Không còn mơ mộng ”tóc thề thả gió lê thê” nữa, và cũng đã tĩnh giấc mộng dáng kiều thơm từ lâu rồi.
Hà Nội ngày nay không phải là Hà Nội thời cuối thập niên 1970s. Xe cộ càng ngày càng nhiều, và nạn kẹt xe là chuyện thường ngày. Tuy nhiên, tình trạng kẹt xe ở Hà Nội vẫn chưa nghiêm trọng bằng ở Sài Gòn. Đường phố Hà Nội nói chung vẫn ít xe hơn so với Sài Gòn. Cũng như Sài Gòn, giới chức Hà Nội vẫn chưa tìm ra biện pháp để giải quyết nạn kẹt xe. Trong khi họ chưa (hay không) tìm giải pháp khả thi, thì người dân lãnh đủ. Tình trạng kẹt xe không chỉ làm mất thì giờ, mà còn làm hao tổn tâm trí của người dân. Sống trong môi trường chật chội và nguy cơ tai nạn rình rập như thế, không ngạc nhiên khi biết số người có triệu chứng tâm thần ở Hà Nội lên đến 50%! Nói cho công bằng, trong cái không gian hỗn độn trên đường phố, vẫn còn có những trật tự trong người Hà Nội. Dù có những người Hà Nội mới sẵn sàng chặt chém du khách, vẫn còn nhiều người Hà Nội tử tế. Bên cạnh cái thế giới của những trưởng giả học làm sang một cách lố lăng, vẫn còn nhiều người Tràng An tinh tế và có văn hóa.
Thành thật cám ơn các bạn đã chịu khó theo dõi loạt bài ghi chép cuối năm. Tôi xem đó như là vài chứng từ của một thời để mai sau đọc lại thấy mình đã đi đến đâu và so sánh. Hi vọng rằng những tản mạn, kí sự trong loạt bài đã cho các bạn vài cái nhìn của cá nhân tôi, và có lẽ quan trọng hơn là mua vui cũng được một vài trống canh.
Chúc anh sức khỏe và gặt hái nhiều những thành tựu khoa học.
Đây là entry cuối cùng trong loạt bài ghi chép cuối năm. Chuyến về quê vừa qua, tôi có dịp ở Hà Nội được hơn 1 tuần. Đi và về Hà Nội nhiều lần. Nhưng không bao giờ dám nhận là mình biết Hà Nội. Mỗi lần ghé qua là mỗi lần học hỏi. Do đó, chỉ dám nói là một thoáng Hà Nội mà thôi ...
Không biết có ngoa ngôn chăng nếu nói rằng một trong những thành quả lớn nhất trong lịch sử cận đại là đất nước được thống nhất. Sau 25 năm chia cách, cuối cùng thì Việt Nam cũng thống nhất. Không còn VNCH và VNDCCH nữa; chỉ đơn giản là Việt Nam. Sau 25 năm đánh nhau chí chết và ngăn cách bởi hàng rào chủ nghĩa (ngoại lai), những người Việt hai miền lại gần nhau hơn, biết nhau hơn, và thân nhau hơn. Dù còn vài bất đồng ý kiến, nhưng tôi vẫn nghĩ cái công thống nhất đất nước của các vị cách mạng thì chắc nhiều người đồng ý.
Tôi cũng nằm trong cơn lóc xoáy của lịch sử mà có cơ duyên biết đến Hà Nội từ những năm sau 1975. Tôi đến Hà Nội lần đầu vào năm 1977 hay 1978 (không còn nhớ chính xác nữa). Thuở đó tôi cùng với 3 đồng nghiệp khác đi công tác (thật ra là đi dự lớp tập huấn chuyên môn) ở Hà Nội. Chúng tôi đi bằng chiếc xe Ford Falcon cũ kĩ do “Mĩ Ngụy” để lại, nhưng dưới bàn tay tuyệt vời của người thợ Việt Nam, chiếc xe cũng chở chúng tôi từ Nam ra Bắc. Chuyến đi ngang qua cầu Hiền Lương, ghé qua Thanh Hóa, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, để các bạn ghé thăm nhà, rồi sau cùng là Hà Nội. Ấn tượng còn đọng trong tôi là thời đó, miền Bắc còn nghèo lắm. Tôi còn nhớ bưu điện Vinh (?) chỉ là một mái nhà lá. Thành phố buồn thiu, trống trơn, chẳng khác gì Bắc Hàn ngày nay. Đến nhà anh bạn ở Thanh Hóa. Đó là một căn nhà nhỏ, chật hẹp, trong nhà chẳng có gì đáng kể cả (theo cái nhìn của tôi lúc đó). Vì thấy tôi là người Nam ra, nên gia đình anh bạn quyết định thiết đãi tôi. Nhưng khổ nỗi nhà nghèo quá, gạo thì không đủ, thậm chí cái nồi nấu cơm cũng chẳng “chỉnh chu” chút nào cả. (Sau này tôi biết được rằng người nhà phải đi mượn cái nồi nấu cơm ở hàng xóm về nấu cho chúng tôi ăn). Bây giờ nhớ lại tôi vẫn còn xúc động mạnh. Đến Thái Bình, xe vào một thị tứ, mấy em bé đen đúa chạy theo xe, vì hình như chúng chưa bao giờ (hay ít) thấy xe hơi trong đời. Có vài em thậm chí còn nhảy lên mui xe làm tài xế méo mặt. Lại có vài em lăn xăn ngửi xăng! Tôi hết sức ngạc nhiên. Không ngờ miền Bắc nghèo khó đến như thế!
Đường phố Hà Nội thời bao cấp
Nhưng cường độ ngạc nhiên của tôi tăng đến điểm đỉnh khi đến Hà Nội. Trước khi đi, tôi háo hức lắm, vì nghĩ mình sẽ ghé thăm một nơi gọi là ngàn năm văn hiến. Tôi sẽ ghé qua Chùa Cầu Đông để xem ngày xưa chàng Tú Uyên và nàng Giáng Kiều gặp nhau ở đâu. Trong tâm tưởng của tôi thời đó, qua Thạch Lam, Hà Nội là nơi thanh lịch, là vùng đất văn hiến, là những tà áo dài thước tha để thi sĩ Quang Dũng phải Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm (và nghe nói sau này phải khốn đốn vì mấy câu thơ kiểu này!) Nói chung là ước vọng và ý nguyện thì nhiều lắm, vì các nhà văn, thi sĩ, nhạc sĩ đã gieo cho tôi cái dấn ấn tưởng tượng tuyệt vời về Hà Nội, đã đưa tôi phiêu bồng một nơi chốn huyễn tưởng. Kì vọng bao nhiêu thì thất vọng bấy nhiêu. Lần đầu “đối diện” Hà Nội tôi thất vọng hoàn toàn. Đó là một thành phố (hay thị trấn?) thiếu sinh khí. Đó là một Hà Nội cổ kính, loang lỗ, nhếch nhác, và ảm đạm.
Phố xá Hà Nội thời bao cấp, cảnh xếp hàng mua đồ phân phối
Hoàn toàn khác với Sài Gòn. Sài Gòn nhộn nhịp và vui tươi bao nhiêu, thì Hà Nội im lặng và ảm đạm bấy nhiêu. Đường phố Hà Nội dạo đó rất ít xe ôtô, mà có thì toàn là xe khối XHCN rất xấu xí, cục mịch. Xe gắn máy cũng rất ít, và thay vào đó là xe đạp nhiều. Người đi đường có vẻ lầm lủi, không vui. Hiếm thấy những khuôn mặt rạng rỡ. Chẳng thấy “dáng kiều thơm” nào cả; tất cả phụ nữ hình như chỉ có một kiểu mặc duy nhất: quần đen lên mắc cá, áo sơ-mi trắng dài tay, tóc dài, trông rất Tàu và ... rất buồn cười. Nam thì quần fatigue, đội nón cối, dù họ chẳng phải là lính tráng gì cả. Hình như người Bắc thích nón cối. Nói tóm lại, chẳng có cái gì gây ấn tượng đẹp cho tôi cả, ngoại trừ hồ Hoàn Kiếm làm tôi thấy có cảm tình với Hà Nội một chút. Suốt hai tuần ở Hà Nội, tôi chẳng đi đâu, chán ơi là chán, chỉ chờ ngày về Sài Gòn. Lúc đó tôi mới thấm và hiểu cho mấy bác đi tập kết nhất quyết đòi về Nam. Ấn tượng của tôi về Hà Nội thời đó phải nói là rất negative, và tôi bắt đầu nghi ngờ những gì mình đọc trong Tự lực văn đoàn, hay nghe những bài nhạc của các vị nhạc sĩ, tôi cảm thấy như là họ -- nói theo tiếng Anh là – đã take me for a ride (hay nói lịch sự là lường gạt).
Mốt nón cối
Bẵng đi gần 25 năm sau, tôi mới có dịp quay lại Hà Nội. Thành phố bấy giờ khang trang hơn, có nhiều xe auto và xe gắn máy hơn. Đường phố có vẻ sạch sẽ hơn, và con người cũng có vẻ tươi tắn hơn. Sau đó, tôi có dịp ghé Hà Nội nhiều lần, và lần nào cũng thấy cái mới. Nhưng lần nào cũng chỉ ở đó 2 hay 3 ngày, không có dịp đi đây đó để trải nghiệm. Thuở đó tôi có ghi lại cảm nhận của mình qua bài bút kí Một thoáng Hà Nội. Cuối năm ngoái (2010) tôi có dịp ra Hà Nội và ở đó hơn 1 tuần, tuy chưa đủ để hiểu về thành phố này, nhưng cũng đủ có lí do để ghi lại vài cảm nhận cá nhân cho entry Một thoáng Hà Nội 2 này.
Một góc của Hà Nội bây giờ
Hà Nội dễ thương
Nói ra câu trên chắc có nhiều người cười và cho rằng tôi nói … thừa. Hà Nội của Thạch Lam 36 phố phường dĩ nhiên là dễ thương rồi, ai lại nói khác đi. Nhưng quả thật, đi một vòng quận Hoàn Kiếm và ra ngoài một chút tôi thấy Hà Nội có duyên và dễ thương. Hồi năm 2008 tôi ở Intercontinental (hình như khu đó gọi là Nghi Tàm), buồn, chẳng đi đâu được cả (ngoài mấy quán thịt chó). Lần này, tôi ở Melia, tức là trung tâm thành phố, nên có dịp cuốc bộ vào mỗi sáng và chiều. Hà Nội vào tháng 12 người ta mặc áo lạnh, nhưng tôi thì áo ngắn tay vì đối với tôi đó là thời tiết mát, dễ chịu. Phụ nữ Hà Nội duyên dáng, mảnh khảnh, trắng trẻo (chắc thiếu vitamin D J), ăn nói nhỏ nhẹ, và ân cần giúp khách. Tôi gặp vài trường hợp bị đàn ông Hà Nội “chém” tiền taxi và ăn uống, nhưng bù vào đó là toàn gặp những người nữ Hà Nội rất lịch thiệp. Nhìn mấy cô Hà thành mặc áo lạnh đi xe vespa hay xe đạp trên những đường phố đầy bóng cây thì quả là quá dễ thương. Dạo một vòng Hồ Hoàn Kiếm thấy những cặp tình nhân tay trong tay ngồi ngắm nước hồ trầm tư cũng có cái đẹp đấy.
Phụ nữ Hà Nội
Một người bạn Úc của tôi cũng nói Hà Nội “surprisingly nice”. Anh ấy là người gốc Melbourne, một giáo sư rất nổi tiếng trên thế giới và đình đám trong bộ môn loãng xương, và cũng chính là người duyệt luận án của tôi thời xa xưa. Anh ấy đi Hà Nội nói chuyện cho một công ti dược và ở đó chỉ 3 ngày, nhưng khi về Úc, anh khen Hà Nội nức nở, đến nổi tôi nghĩ “hay là tay này … xạo”. Anh khen món ăn Hà Nội ngon, đường phố mát mẻ, và câu kết là surprisingly nice – dễ thương một cách ngạc nhiên. Tôi đoán trong tâm tưởng của anh trước khi đến Hà Nội thì đó là một nơi lạc hậu, chiến tranh, bom đạn tàn phá nát bét. Nhưng khi đối diện thực tế thì hoàn toàn vượt xa những gì anh nghĩ trong tâm tưởng nên khen quá cỡ. Có một vụ việc rất cá nhân làm anh ta mến Hà Nội. Số là anh ta đi may 2 cái áo chemise ở khu phố cổ. Nhưng vì ra sân bay gấp quá nên anh ta … quên lấy áo. Đến khi về Úc, anh ta điện cho tôi hỏi có cách nào lấy 2 cái áo mà anh ấy rất thích không. Tôi than trời, làm sao tao có thể giúp mày, khi mày chẳng biết tên cái nhà may là gì, ở đâu, số điện thoại … Nói thế thôi, nhưng qua liên lạc với khách sạn, và mô tả tiệm may, sau cùng khách sạn cũng tìm ra được 2 cái áo và gửi về Úc cho anh. Anh ta thán phục vô cùng. Anh ta khen người thợ may đó là ”Number 1 in the World” (số 1 trên thế giới), vì chỉ có người thợ may đó may cái áo anh ta ưng ý. Kiểu nào anh ta vẽ ra anh thợ may đều hoàn tất theo ý muốn của thân chủ. Trong chuyến đi vừa qua, anh ta còn nhờ tôi may cho anh ta 5 cái áo chemise do chính anh ta thiết kế ngay tại nhà may đó!
Hà Nội là thủ đô của văn học, nên ra đường rất dễ gặp văn sĩ. Một hôm, tôi cuốc bọ đi quanh bờ hồ, lang thang sang khu Tràng Tiền chuyên bán sách. Đang chọn sách thì tôi chú ý đến anh chủ tiệm sách đang đàm đạo chuyện văn chương với một anh Việt kiều. Hóa ra, anh Việt kiều là một nhà thơ ở Melbourne, mới về VN và ra Hà Nội lần đầu. Cũng như tôi, anh nhà thơ đi tìm sách, và chẳng hiểu sao ngồi lại đàm đạo văn chương với ông chủ tiệm sách bên li bia hơi. Thấy tôi tìm sách của Bùi Ngọc Tấn, hai anh cũng chú ý, và thế là chúng tôi quen nhau. Tôi cũng ngồi xuống bên vỉa hè, nhâm nhi cùng các anh ấy vài li bia hơi và nói chuyện thời sự. Sau này, tôi còn ghé đó thêm một lần để tìm sách và nói chuyện văn nghệ văn gừng với anh chủ tiệm sách. Bây giờ ngồi nghĩ lại tôi thấy người Hà Nội cũng thân thiện lắm chứ. Đâu có thấy họ kì thị Bắc Nam gì đâu (hình như cái khoản này thì dân Nam kì thị dân Bắc hơn). Thật tình cờ khi anh chủ tiệm sách chỉ tay lên gác và nói cụ Nguyễn Văn Vĩnh từng ở và làm việc trên cái gác ấy. Có thể nói không ngoa rằng mỗi tất đất ở Hà Nội đúng là một điểm lịch sử.
Khu Tràng Tiền chuyên bán sách
Hà Nội xoa hoa
Một tuần ở Melia tôi chứng kiến và kinh ngạc sự xa hoa của dân Hà Nội. Đó là nơi người ta đón tiếp các VIP, kể cả nguyên thủ quốc gia. Sáng nào đi ăn sáng tôi cũng gặp các quan lớn nước ngoài, có những người mà tôi đoán chắc là sĩ quan Mĩ đeo lon tá tướng đang bàn chuyện gì đó có vẻ vui lắm. Cũng có khi ngồi gần bàn của vài giáo sư Mĩ đang bàn về lớp học ở Đại học Quốc gia, mà tôi loáng thoáng nghe là họ khen sinh viên Việt Nam giỏi, nhưng họ chê thầy cô lười biếng! Cứ vài ngày khách sạn đón VIP, và các quan chức Việt Nam lăn xăn chuẩn bị thảm để đón khách. Nhìn thấy cách họ làm tôi vừa buồn cười, vừa ngạc nhiên. Buồn cười vì cách họ làm cứ như là việc gì quan trọng trong đời lắm vậy. Ngạc nhiên là vì ở Úc tôi thấy người ta đón Thủ tướng cũng đơn giản lắm, chẳng có thảm đỏ, cũng chẳng có ai đứng thành hàng để bắt tay hay chào đón cả. Kể ra thì kiểu hiếu khách của Việt Nam cũng khác người.
Melia cũng là nơi các đám cưới sang trọng được tổ chức. Chỉ một thời gian ngắn mà tôi có dịp chứng kiến 4 đám cưới tại đây. Nam thanh nữ tú xuất hiện đầy ở đại sảnh khách sạn. Cái gì cũng có vẻ đắt tiền trong những đám cưới này. Quần áo, vật trang sức, kể cả nước hoa cũng đều thuộc loại thượng đẳng. Tôi thấy một khách mời đám cưới đi cùng bạn trai cô ta vào tiệm bán điện thoại trong khách sạn, và họ thản nhiên tiêu ra 8000 USD cho một cái điện thoại hiệu Vertu (hay gì đó)! Có một đám cưới mà khách mời đi bằng 3 chiếc xe hơi hiệu Lamborghini và Ferrari!
Tuy nhiên, cái xa hoa của những người khách vẫn không dấu được cái chất quê ở họ. Dù với những bộ quần áo, vật trang sức và xe hơi đắt tiền, nhưng cốt cách của họ vẫn là người quê. Từ những thái độ kẻ cả, cách ăn nói hống hách, cái nhìn khinh bỉ người thấp hèn, đến dáng đi cho thấy họ xuất phát từ một cái phông nền văn hóa và đạo đức thấp. Tất cả những cái đắt tiền được trang bị phía ngoài hình như chỉ để phô trương, để học làm trưởng giả, chứ không đủ che kín được bản chất nhà quê. Tôi từng chứng kiến một chị mặc đồ đầm rất sang trọng với cái ví Louis Vuitton mà ... ngồi chồm hổm để buộc đôi giày đang bị sứt! Tôi cũng từng thấy một anh chàng lái xe Ferrari mà nói với người phục vụ khách sạn bằng ngôn ngữ mày tao y như phong cách của kẻ giang hồ.
Khách sạn sang trọng cũng là nơi người ta tung tiền mua rượu đắt tiền. Mấy hôm ở Melia tôi làm quen với người quản lí nhà hàng, và nghe người ta tiêu tiền mà kinh. Anh kể rằng tuần nào anh cũng bán được những chai rượu giá tối thiểu 4000 USD. Một hôm tôi đi ăn tối với các anh trong Viện dinh dưỡng ở một khách sạn 4 sao và anh quản lí ở đó cũng nói rằng chuyện các đại gia hàng chục ngàn USD cho một chai rượu là chuyện bình thường.
Nói như thế tôi không có ý chê trách gì. Mỗi người có lựa chọn riêng của mình trong cách tiêu tiền, và những người có khả năng để phô trương thì cũng chẳng có gì phải nói. Chỉ hi vọng rằng đó không phải là những đồng tiền tham ô hối lộ hay ăn cắp của dân. Một trong những mục tiêu của cách mạng là san bằng bất công và xóa bỏ giai cấp, nhưng trớ trêu thay, sau vài chục năm cách mạng thành công thì bất công chẳng những không giảm mà còn tăng. Trong thực tế, chính những người làm cách mạng cho ra đời những qui chế bất công và sản sinh ra bất bình đẳng. Còn nhớ thời bao cấp, trong khi người dân thường chỉ có tiêu chuẩn 150 g thịt, thì cán bộ cao cấp được 6 kg, tức 40 lần tiêu chuẩn người dân! Chưa thấy qui định nào vô lí và dã man như thế! Đó là chưa kể những qui định kiểu quan chức cỡ này thì được điều trị nơi này, còn người dân thì xếp hàng chờ đến chết. Bất công kéo dài cho đến ngày chết! Phải bao nhiêu tuổi Đảng, công thần cấp cao thì mới được chôn cất ở Mai Dịch. Đúng là nói một đường làm một nẻo. Vậy thì có lẽ chúng ta không ngạc nhiên khi thấy bất công ở VN sau thời cách mạng ngày càng tăng. Đành rằng xã hội thì có bất công và bất bình đẳng (chỉ có ai điên mới cho rằng xã hội không có bất công), nhưng sự bất bình đẳng ở Việt Nam quá lớn làm cho chúng ta phải chạnh lòng. Một li cà phê trong khách sạn 5 sao là 87,000 đồng, so với một li cà phê vỉa hè là 5,000 hay 10,000 đồng. Nếu là một đất nước có thu nhập trung bình vài chục ngàn USD thì tôi chẳng có gì phải suy nghĩ, nhưng đây là một trong những nước nghèo nhất thế giới, nơi mà đại đa số người dân sống bằng thu nhập 50 ngàn đồng một ngày. Khoảng cách giữa người có và người không có quá lớn. Có lẽ tôi hơi lẩn thẩn suy nghĩ mấy chuyện này, những chuyện mà nhiều người ngày nay xem là chuyện nhỏ.
Và những người bạn
Mỗi lần ra Hà Nội tôi đều có dịp gặp bạn bè. Bạn bè có khi chưa biết mặt (vì chỉ trao đổi qua email), nhưng cũng có bạn bè đã quen nhau từ trước. Tôi quen 2 anh bạn tôi quen từ năm 2008. Anh Th là dân học ở Nga về có vợ là bác sĩ, nay đã nghỉ hưu; còn anh M cũng là người đi học ờ ngoài về và cũng đã nghỉ hưu. Hai anh là nhiệt kế thời sự mà tôi chỉ biết ngồi nghe và suy nghĩ. Lần trước anh dẫn tôi đi vòng Hà Nội và chỉ căn nhà của Nhà văn Vũ Thư Hiên, nay là một quán cà phê; lần này anh dẫn tôi đi uống cà phê và nhậu bia hơi. Ngồi hàng quán mà bàn chuyện nhân tình thế thái kể ra cũng rất thú vị. Lần nào hai anh cũng làm tôi rất ngạc nhiên về những quan điểm ”cấp tiến” của hai anh. Có thể nói rằng hai anh suy nghĩ hoàn toàn "ngoài cái hộp" mà giới tuyên truyền đã và đang ra rã nói. Tôi chợt nghĩ nếu như mọi người ngoài Bắc đều suy nghĩ như hai anh thì chắc Nam Bắc đã không có một cuộc chiến tương tàn đến 25 năm.
Lần này, hai anh làm tôi ngạc nhiên về những mối quan hệ chằng chịt trong giới cầm quyền, và hai anh kết luận rằng việc cha truyền con nối đã và đang xảy ra ở nước ta có khác gì bên Bắc Hàn hay thời phong kiến đâu! Hai anh giỏi sử, và đưa ra nhiều bình luận ... ngược đời. Anh M đưa ra nhiều dữ liệu (tôi không chắc mấy, vì không thuộc sử) để chứng minh rằng vua Lý Thái Tổ là một người tàn ác, chứ chẳng phải thánh thiện gì. Còn các vua đời Nhà Trần (ngoại trừ Trần Nhân Tông) cũng ác ôn không kém. Từ đó, anh cho rằng việc các chính quyền hiện đại dùng bạo lực và đàn áp để cai trị dân ở nước ta là có ... truyền thống. Hệ quả của kết luận là phải nhìn lại và kiến trúc lại con người Việt Nam sao cho họ sống tử tế với nhau hơn.
Anh M nói đùa rằng người ta muốn dời đô ra Ba Vì vì Hà Nội có nhiều âm khí quá. Anh M chứng minh rằng ngay dưới tại Tháp Rùa ở Hồ Gươm là mộ của bà mẹ của một đại gia Hà Nội thời Pháp. Anh lưu ý tôi rằng Tháp Rùa được xây theo kiến trúc nửa Tây phương (phần dưới) và nửa Đông phương (phần trên). Anh còn chứng minh thêm rằng lăng cụ Hồ cũng là âm khí. Rồi anh vui vẻ kết luận rằng cần phải dời đô ra khỏi Hà Nội để giảm âm khí! Câu chuyện thật vui, đúng là chuyện trên bàn nhậu, nhưng cũng đủ làm cho tôi suy nghĩ về những gì mình chưa biết về Tháp Rùa (còn chuyện lăng thì tôi ... không bàn).
Tháp Rùa: phía dưới là mộ của một người giàu có ngày xưa ở Hà Nội
Lần ra Hà Nội kì này tôi gặp được vài anh bạn rất thú vị. Chúng tôi gồm một nhóm người quan tâm đến việc nâng cao sự hiện diện của VN trên trường khoa học quốc tế, và thường trao đổi nhau qua email chứ ít gặp nhau ở ngoài đời. Nghe tôi đến Hà Nội các bạn ấy tổ chức một buổi ăn tối để gặp nhau và hàn huyên. Qua đó mà tôi biết mặt mũi của những bạn mình từng bàn việc chung. Trong số các bạn đó, có anh PĐC, một người đã lên tiếng rất nhiều lần về việc cải cách trong quản lí khoa học, và lấy tiêu chuẩn công bố quốc tế làm thước đo đánh giá nhà khoa học. Những bài anh viết rất trực tiếp, và có thể nói là không nhân nhượng. Tôi hỏi anh rằng với những bài như thế anh có gặp khó khăn gì không, thì anh cười nói có thì có chứ, nhưng anh chẳng có gì phải ân hận về quan điểm của mình. Tôi còn gặp một đồng nghiệp của anh PĐC là anh ĐHC. Anh ĐHC là dân Trung kì, nhưng đã định cư ngoài Hà Nội lâu và tự xem mình là dân Hà Nội. Chúng tôi đã có một cuộc trao đổi thú vị cùng một người quan chức cao cấp của Bộ KHCN hôm đó.
Một trong những người bạn tôi lúc nào cũng ghé thăm và hỏi chuyện là anh VT đang công tác tại một tờ báo của Bộ KHCN. Anh VT và tôi quen biết nhau cũng trên 10 năm, ấy thế mà lần nào gặp anh tôi chẳng thấy anh già đi chút nào cả! Tuy là người gốc Huế, nhưng anh nói giọng Hà Nội sang sảng. Là sĩ quan cấp tá trong thời chiến xa xưa, và từng bỏ quân hàm vì lẽ phải, nên anh xem nhiều quan chức cao cấp hiện nay chỉ là ... đàn em. Cũng đúng thôi. Anh cũng thuộc vào týp người sĩ phu Bắc Hà, cũng ao ước cải cách khoa học và giáo dục, cũng đau đáu về tương lai đất nước, cũng nổi giận về vấn nạn mua quan bán tước hiện nay. Anh có một nhận xét rất hay là bấy lâu nay, chúng ta nói nhiều về vấn nạn tiến sĩ (tiến sĩ tràn lan) mà không ai đề cập đến vấn nạn quân hàm. Anh cho rằng ngày nay quân đội và công an có quá nhiều người mang hàm tướng và tá. Anh chỉ ra bằng câu hỏi rằng có thời đại nào ở Việt Nam mà trung tá đi phạt vi phạm giao thông không? Rồi anh liên tưởng đến chuyện phong tướng bừa bãi dưới thời Quang Trung và xem đó như là một tín hiệu không lành mạnh.
Chuyện vấn nạn tiến sĩ làm tôi nhớ đến một kinh nghiệm vui vui. Hôm đó tôi đi nói chuyện trong một hội nghị chuyên đề ở một khách sạn sang trọng tại Hà Nội. Xong hội nghị, tôi ra ngoài đón taxi về khách sạn, mới lên xe anh tài xế taxi vẻ mặt không mấy thân thiện buông câu hỏi "Thế anh cũng là tiến sĩ à?" Thấy nét mặt hằm hằm của anh và câu hỏi vui vui, nên tôi đưa 2 tay lên nói "Ô, không phải, tôi chỉ đi dự hội thảo chứ có phải tiến sĩ tiến siếc gì đâu". Anh ta thay đổi thái độ và cười, rồi nói rằng nãy giờ anh toàn đưa đón mấy người trong hội nghị và tay nào cũng là tiến sĩ, thanh toán tiền rắc rối quá, nên anh ... có ác cảm với tiến sĩ. :-) Trên đường về khách sạn, anh không tiếc lời nguyền rủa cái hệ thống đào tạo ra những tiến sĩ dỏm, tiến sĩ giấy. Anh nói rằng mỗi lần nghe đài, đọc báo, hay xem tivi mà thấy tiến sĩ là anh tắt. Câu chuyện này tôi kể cho nhiều người nghe, và ai cũng ôm bụng cười. Đúng là nước ta có vấn nạn tiến sĩ.
***
Đó là những ấn tượng và cảm nhận của tôi về Hà Nội trong một chuyến đi ngắn. Thật ra, có nhiều điều tôi cũng muốn viết ra, nhưng nghĩ đi nghĩ lại thì thôi J, vì ngại đụng chạm ở đây. Hà Nội được mệnh danh là mảnh đất nghìn năm văn hiến, là trái tim của Việt Nam. Nhưng tôi không chắc điều đó. Những huyễn tưởng của tôi về Hà Nội không còn nữa. Tôi đã ”thực tế” hơn nhiều. Không còn mơ mộng ”tóc thề thả gió lê thê” nữa, và cũng đã tĩnh giấc mộng dáng kiều thơm từ lâu rồi.
Hà Nội ngày nay không phải là Hà Nội thời cuối thập niên 1970s. Xe cộ càng ngày càng nhiều, và nạn kẹt xe là chuyện thường ngày. Tuy nhiên, tình trạng kẹt xe ở Hà Nội vẫn chưa nghiêm trọng bằng ở Sài Gòn. Đường phố Hà Nội nói chung vẫn ít xe hơn so với Sài Gòn. Cũng như Sài Gòn, giới chức Hà Nội vẫn chưa tìm ra biện pháp để giải quyết nạn kẹt xe. Trong khi họ chưa (hay không) tìm giải pháp khả thi, thì người dân lãnh đủ. Tình trạng kẹt xe không chỉ làm mất thì giờ, mà còn làm hao tổn tâm trí của người dân. Sống trong môi trường chật chội và nguy cơ tai nạn rình rập như thế, không ngạc nhiên khi biết số người có triệu chứng tâm thần ở Hà Nội lên đến 50%! Nói cho công bằng, trong cái không gian hỗn độn trên đường phố, vẫn còn có những trật tự trong người Hà Nội. Dù có những người Hà Nội mới sẵn sàng chặt chém du khách, vẫn còn nhiều người Hà Nội tử tế. Bên cạnh cái thế giới của những trưởng giả học làm sang một cách lố lăng, vẫn còn nhiều người Tràng An tinh tế và có văn hóa.
Thành thật cám ơn các bạn đã chịu khó theo dõi loạt bài ghi chép cuối năm. Tôi xem đó như là vài chứng từ của một thời để mai sau đọc lại thấy mình đã đi đến đâu và so sánh. Hi vọng rằng những tản mạn, kí sự trong loạt bài đã cho các bạn vài cái nhìn của cá nhân tôi, và có lẽ quan trọng hơn là mua vui cũng được một vài trống canh.
Thứ Năm, 10 tháng 2, 2011
Hệ quả bất ngờ của một định lý toán học
Trong khoảng chưa đầy 30 năm đầu của thế kỷ 20, Khoa học đã được chứng kiến ba chấn động lớn : Vào năm 1905 và 1915 Einstein công bố Thuyết tương đối. Năm 1926, những công trình hoàn chỉnh đầu tiên của Cơ học lượng tử ra đời, với một số nguyên lý cơ bản, được coi mở ra một con đường mới, làm biến đổi hình ảnh về Vũ trụ vốn có ở con người, một cuộc biến đổi còn triệt để hơn cả sự biến đổi mà cuộc cách mạng Copernic đã tạo ra. đặc biệt vang dội là Nguyên lý bất định do nhà vật lý người Đức W. Heisenberg trình bày trong năm 1927, cùng dịp với Đại hội Copenhague, đánh dấu sự thành lập chính thức Lý thuyết Lượng tử. Bốn năm sau, năm 1931, Nhà toán học người Áo Kurt Göđel công bố một định lý làm chấn động Thế giới Toán học, được đánh giá là kỳ lạ nhất và cũng là bí hiểm nhất trong Toán học. Định lý có nội dung như sau : Đối với các hệ thống Toán học hình thức hóa với một hệ tiên đề đủ mạnh, thì, một là, hệ thống đó không thể vừa là nhất quán, vừa là đầy đủ. Hai là, tính nhất quán của hệ tiên đề không thể được chứng minh bên trong hệ thống đó.
Khác với hai lý thuyết Vật lý vừa nêu, định lý Toán học mang tên Kurt Gödel (hay còn gọi là định lý Bất toàn) không gây ra một không khí xôn xao sâu rộng như hai thuyết Vật lý cùng thời, và do đó rất ít người biết đến. Vì sao như vậy? Theo lý giải của nhiều học giả thì trước hết là người ta cho rằng, định lý Toán học chỉ có giá trị lý thuyết nhiều hơn. Nhưng có lẽ có một lý do khác mà không ít Nhà toán học không muốn đề cao tầm quan trọng của định lý, bỡi vì nhưng hệ quả Triết học của nó làm tiêu tan niềm xác tín đầy cao ngạo của họ đối với vai trò độc tôn của Toán học nói riêng và của Khoa học nới chung.
Với định lý Bất toàn, thì dù Toán học, xưa nay, vẫn tự hào là một hệ thống lôgic nghiêm ngặt với một nền tảng vững chắc nhất, cũng phải chịu một qui luật “Có thể sai” như các Khoa học khác !
Những biến đổi cách mạng tư duy trong Vật lý học hiện đại xuất phát từ sự thật rằng, không thể hy vọng đứng bên trong Thế giới duy lý mà biết hết mọi thứ. Thế giới Tự nhiên quả thực có nhiều thứ lạ lùng hơn mọi điều mà trí tuệ duy lý của chúng ta có thể nắm bắt được.
Suy rộng định lý Gödel, ta có thể hiểu là : Bất cứ một lý thuyết nào mà con người xây dựng nên, đều chỉ phản ảnh một tình huống nhất định của nhận thức. Từ bên trong một tình huống, không thể hiểu hết mọi chuyện trong tình huống đó, chỉ khi đứng ngoài tình huống đó thì may ra mới đạt tới một bức tranh sâu rộng hơn để có thể nhận ra toàn bộ mối quan hệ tạo nên cấu trúc bên trong của nó.
Trong cuộc sống đời thường, ta thường nghe câu triết lý : “ người trong cuộc không sáng suốt bằng kẻ đứng ngoài cuộc”. Đó là một trải nghiệm xuyên thời gian của Thế thái nhân tình, nhưng lại có nguồn gốc từ bản thể của Tự nhiên như một hệ quả Triết học của định lý bất toàn.
Hoặc nói cách khác, rằng : “Anh nói cho tôi biết người bạn thân thiết nhất của anh là người như thế nào, tôi sẽ nói cho anh biết, anh là người như thế nào”. Điều đó có nghĩa là, ta không bao giờ biết đầy đủ chính ta, nếu không đặt mình từ bên ngoài để nhìn lại mình.
Nếu tham vọng của Nhà toán học vĩ đại Hilbert muốn xây dựng một nền tảng Toán học nhất quán và phi mâu thuẫn, bị Định lý Gödel làm cho sụp đổ, thì trong công cuộc phát triển Kinh tế Xã hội, ở thời điểm hiện tại, nếu chưa xác định một cách nhất quán mô hình của nền kinh tế đất nước, thì việc hoạch định những dự án, dựa trên cơ sở “tư duy duy lý”, với một tầm nhìn hàng nửa thế kỷ, là một sự lựa chọn tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất bền vững.
Những bài học phải trả giá đắt do dự báo sai về tầm nhìn phát triển, mà nhiều Quốc gia đã nếm trải, là một thực tế không thể không ghi nhớ.
Nhiều Nhà khoa học, kể cả các Nhà vật lý, đã nhận rõ là cần vượt ra ngoài biên giới của mọi qui giản về tư duy duy lý để có thể nhận thức đầy đủ hơn về Thế giới, mà Trí tuệ không bao giờ có thể thấu hiểu hòan toàn.
Trong một bài giảng của mình vào năm 1933, Einstein nói : “Nếu anh muốn biết phương pháp mà Nhà vật lý lý thuyết đã dùng, thi tôi cho anh một lời khuyên :Đừng nghe họ nói mà hãy xét những thành tựu của họ , Bỡi vì đối với một Nhà phát minh, kiến trúc của trí tưởng tượng xuất hiện một cách tự nhiên như nó phải thế, chứ không phải là sáng tạo của tư duy”. Cùng mạch suy nghĩ này, trong một bài báo Khoa học Giáo sư Toán học Phan Đình Diệu viết : “Để cho Khoa học cung cấp cho con người nhiều hiểu biết hơn về Thiên nhiên, về Vũ trụ, về cuộc sống. đã đến lúc mà Tư duy cơ giới với Tất định luận, chỉ với những phương pháp phân tích, suy luận duy lý và qui giản… không còn phù hợp nữa, mà cần được bổ sung những quan điểm tư duy mới, sử dụng những công cụ và phương pháp mới, vận dụng thêm những năng lực cảm thụ khác vốn có, trên cơ sở các quan điểm và phương pháp mới đó để cảm nhận và tìm hiểu các đối tượng nhận thức của mình. Mà đối tượng nhận thức của con người thì trước hết phải là những vấn đề của đời sống bình thường, thuộc kích cỡ con người”.
Điều thú vị là định lý Gödel, ngoài động lực thúc đẩy một cuộc cách mạng tư duy về phương pháp luận khoa học, nó còn làm nảy sinh một nghịch lý về khái niệm “Mê tín” mới : Nhiều thế hệ các nhà khoa học mải mê trên con đường đi sâu mãi vào lòng vật chất của Thế giới , bằng tư duy qui giản, cắt vụn hiện thực, rồi xem cái mẩu được cắt ra đó là chính hiện thực, bằng những lời “đại ngôn”, làm không ít các Nhà khoa học và Triết học có lương tri phải lên tiếng, coi đó là sự “kiêu căng thái quá”. Và chính nó đã gây ra một ảo tưởng. rằng ngày nay mọi vấn đề của khoa học đời thường đều đã được giải quyết. Ảo tưởng đó đã trở thành niềm xác tín mang tính thần lực, mà người đời cũng xem nó là một thứ bệnh “Mê tín”. Hóa ra nhận thức cũng có sự đối xứng : “Mê tín Thần thánh” và “Mê tín Khoa học”. Mà mê tín nào thì cũng đã từng gây ra không ít đổ vỡ và bi kịch trần gian,
Trong lúc cuộc cách mạng tư duy cuốn hút trí tuệ thời đại trên con đường tiếp cận chân lý của hiện thực bằng Chiến lược Hệ thống, thì Triết lý Giáo dục lại đi theo một tiến trình ngược lại : Sự chia nhỏ manh mún gọi là “chuyên sâu”, sự phân Ban, lao sâu vào những cuộc thử nghiệm chuyên biệt…, ngay tại cấp học gọi là Phổ thông, với ý tưởng đi tìm đỉnh cao Tri thức. Ở đây, đối tượng của giáo dục là Con người để Làm người, như một tổng thể của hiện thực, đã bị xóa mất.
Edgar Morin Nhà triết học Giáo dục đã đặt Giáo dục trước những vấn đề thách thức trong một Thế giới toàn cầu hóa, mà sự hội nhập của các Quốc gia Dân tộc, là một tất yếu, trong đó, Ông nhắc lại câu nói của Nhà văn Mỹ Eliot, như một tiếng kêu : “Minh triết đâu rồi, chỉ còn lại Tri thức ! Tri thức đâu rồi, chỉ còn lại Thông tin ! “. Hình như nền Giáo dục của chúng ta đang cò ít hơn thế nữa. Nó kiến tạo những Trí thức và Thông tin bị băm vụn, dần trở thành những giáo điều ngấm vào nhận thức của hôm nay. Cuối cùng , cũng không thể không nhớ đến câu nói nổi tiếng của Nhà Giáo dục vĩ đại J. Rousseau : “Việc học tập đích thực của chúng ta là học tập về thân phận của Con người”.
Edgar Morin, đang nói đến việc học tập thân phận Con người trong một Thế giới biến đổi chưa từng có như ngày hôm nay.
Định lý Gödel ra đời, đến nửa thế kỷ sau, người ta mới thấy ý nghĩa to lớn của nó đối với Khoa học và Triết học. Từ sự hạn chế của các hệ lôgic của chính bản thân Toán học, người ta vỡ lẽ ra lý do khiếm khuyết và hạn chế trong các cấu trúc lôgic nhân tạo.
Trong công nghệ tính toán, Computer với tư cách là một hệ lôgic cả phân cứng lẫn phần mềm, nó cũng chấp nhận sống chung với sự “bất toàn” như một phần cơ thể của chính nó : Đó là sự cố Treo máy, sự cố Virus, Chương trình tối ưu, mà bất kỳ ai sử dụng computer đều được nếm trải.
Alan Turing, cha đẻ của máy tính điện tử hiện đại, với mô hình Toán học Máy Turing, từ những năm 1950, ông đã tiên đoán “Sự cố Treo máy" như một bài toán nổi tiếng mãi về sau này. Đồng thời cũng cho biết rằng, không thể khắc phục tuyệt đối bằng việc viết ra một chương trình có khả năng loại bỏ bất kỳ chủng virus nào. Gần đây nhất, G. Chaitin, Nhà Toán học thuộc IBM, đã chứng minh một hạn chế nữa, rằng không thể viết một chương trình tối ưu cho một mục tiêu định trước. Chỉ có thể viết một chương trình tốt hơn một chương trình đã có. Tất cả những hạn chế này đều có cơ sở lôgic là Định lý bất toàn Gödel.
Một vấn đề cũng có sức thu hút trí tuệ trong Thế kỷ hai mươi mốt, đó là “Trí thông minh nhân tạo”, với câu hỏi nóng bỏng nhất : “Trong tương lai, chúng ta có thể chế tạo những Robot thông minh như con người hay không ?”. John Arrow, giáo sư Đại học Sussex (London), đã lấy tư tưởng của Định lý bất toàn viết nên tác phẩm, có tiêu đề Imposibihty (Bất khả), nêu lên luận đề Giới hạn của Khoa học và Khoa học về các Giới hạn, cũng đã lấy Định lý bất toàn Gödel làm cơ sở để trả lời câu hỏi nóng bỏng trên : Bộ não con người, với tư cách là một hệ lôgic, không bao giờ hiểu biết hết chính mình, thì cũng sẽ chẳng bao giờ chế tạo được “Bộ não” thông minh giống mình. Robot được trang bị “Bộ não nhân tạo”, dù thông minh đến đâu, thì cũng chỉ có thể “suy nghĩ” dựa trên một tập hợp hữu hạn các tiên đề (chương trình). Trong khi đó não con người có thể có nhưng phát kiến bất chợt : Những cảm nhận Trực giác xuất thần không dựa theo bất kỳ một hệ thống lý thuyết nào.
“Khoa học về Giới hạn” mà Barrow nêu lên, không hạ thấp vai trò Khoa học, mà chính là để định hướng đi cho Khoa học, phát triển mà không xa rời bản chất của hiện thực. Như Nhà Vật lý Vũ trụ Stephen Hawking đã từng nói : “Khoa học Vật lý có thể hoàn thành sứ mệnh của mình mà không có câu trả lời cho một vài câu hỏi cơ bản nhất của Tự nhiên”, cũng là vì lý do hạn chế đó.
Định lý Bất toàn Gödel là một trong những Định lý vĩ đại nhất được chứng minh trong Thế kỷ XX. Nhà Toán học người Mỹ William Denton tuyên bố: “Định lý Bất toàn Gödel xếp ngang hàng với thuyết Tương đối của Einstein và nguyên lý Bất định của Heisenberg ! “
Khác với hai lý thuyết Vật lý vừa nêu, định lý Toán học mang tên Kurt Gödel (hay còn gọi là định lý Bất toàn) không gây ra một không khí xôn xao sâu rộng như hai thuyết Vật lý cùng thời, và do đó rất ít người biết đến. Vì sao như vậy? Theo lý giải của nhiều học giả thì trước hết là người ta cho rằng, định lý Toán học chỉ có giá trị lý thuyết nhiều hơn. Nhưng có lẽ có một lý do khác mà không ít Nhà toán học không muốn đề cao tầm quan trọng của định lý, bỡi vì nhưng hệ quả Triết học của nó làm tiêu tan niềm xác tín đầy cao ngạo của họ đối với vai trò độc tôn của Toán học nói riêng và của Khoa học nới chung.
Với định lý Bất toàn, thì dù Toán học, xưa nay, vẫn tự hào là một hệ thống lôgic nghiêm ngặt với một nền tảng vững chắc nhất, cũng phải chịu một qui luật “Có thể sai” như các Khoa học khác !
Những biến đổi cách mạng tư duy trong Vật lý học hiện đại xuất phát từ sự thật rằng, không thể hy vọng đứng bên trong Thế giới duy lý mà biết hết mọi thứ. Thế giới Tự nhiên quả thực có nhiều thứ lạ lùng hơn mọi điều mà trí tuệ duy lý của chúng ta có thể nắm bắt được.
Suy rộng định lý Gödel, ta có thể hiểu là : Bất cứ một lý thuyết nào mà con người xây dựng nên, đều chỉ phản ảnh một tình huống nhất định của nhận thức. Từ bên trong một tình huống, không thể hiểu hết mọi chuyện trong tình huống đó, chỉ khi đứng ngoài tình huống đó thì may ra mới đạt tới một bức tranh sâu rộng hơn để có thể nhận ra toàn bộ mối quan hệ tạo nên cấu trúc bên trong của nó.
Trong cuộc sống đời thường, ta thường nghe câu triết lý : “ người trong cuộc không sáng suốt bằng kẻ đứng ngoài cuộc”. Đó là một trải nghiệm xuyên thời gian của Thế thái nhân tình, nhưng lại có nguồn gốc từ bản thể của Tự nhiên như một hệ quả Triết học của định lý bất toàn.
Hoặc nói cách khác, rằng : “Anh nói cho tôi biết người bạn thân thiết nhất của anh là người như thế nào, tôi sẽ nói cho anh biết, anh là người như thế nào”. Điều đó có nghĩa là, ta không bao giờ biết đầy đủ chính ta, nếu không đặt mình từ bên ngoài để nhìn lại mình.
Nếu tham vọng của Nhà toán học vĩ đại Hilbert muốn xây dựng một nền tảng Toán học nhất quán và phi mâu thuẫn, bị Định lý Gödel làm cho sụp đổ, thì trong công cuộc phát triển Kinh tế Xã hội, ở thời điểm hiện tại, nếu chưa xác định một cách nhất quán mô hình của nền kinh tế đất nước, thì việc hoạch định những dự án, dựa trên cơ sở “tư duy duy lý”, với một tầm nhìn hàng nửa thế kỷ, là một sự lựa chọn tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất bền vững.
Những bài học phải trả giá đắt do dự báo sai về tầm nhìn phát triển, mà nhiều Quốc gia đã nếm trải, là một thực tế không thể không ghi nhớ.
Nhiều Nhà khoa học, kể cả các Nhà vật lý, đã nhận rõ là cần vượt ra ngoài biên giới của mọi qui giản về tư duy duy lý để có thể nhận thức đầy đủ hơn về Thế giới, mà Trí tuệ không bao giờ có thể thấu hiểu hòan toàn.
Trong một bài giảng của mình vào năm 1933, Einstein nói : “Nếu anh muốn biết phương pháp mà Nhà vật lý lý thuyết đã dùng, thi tôi cho anh một lời khuyên :Đừng nghe họ nói mà hãy xét những thành tựu của họ , Bỡi vì đối với một Nhà phát minh, kiến trúc của trí tưởng tượng xuất hiện một cách tự nhiên như nó phải thế, chứ không phải là sáng tạo của tư duy”. Cùng mạch suy nghĩ này, trong một bài báo Khoa học Giáo sư Toán học Phan Đình Diệu viết : “Để cho Khoa học cung cấp cho con người nhiều hiểu biết hơn về Thiên nhiên, về Vũ trụ, về cuộc sống. đã đến lúc mà Tư duy cơ giới với Tất định luận, chỉ với những phương pháp phân tích, suy luận duy lý và qui giản… không còn phù hợp nữa, mà cần được bổ sung những quan điểm tư duy mới, sử dụng những công cụ và phương pháp mới, vận dụng thêm những năng lực cảm thụ khác vốn có, trên cơ sở các quan điểm và phương pháp mới đó để cảm nhận và tìm hiểu các đối tượng nhận thức của mình. Mà đối tượng nhận thức của con người thì trước hết phải là những vấn đề của đời sống bình thường, thuộc kích cỡ con người”.
Điều thú vị là định lý Gödel, ngoài động lực thúc đẩy một cuộc cách mạng tư duy về phương pháp luận khoa học, nó còn làm nảy sinh một nghịch lý về khái niệm “Mê tín” mới : Nhiều thế hệ các nhà khoa học mải mê trên con đường đi sâu mãi vào lòng vật chất của Thế giới , bằng tư duy qui giản, cắt vụn hiện thực, rồi xem cái mẩu được cắt ra đó là chính hiện thực, bằng những lời “đại ngôn”, làm không ít các Nhà khoa học và Triết học có lương tri phải lên tiếng, coi đó là sự “kiêu căng thái quá”. Và chính nó đã gây ra một ảo tưởng. rằng ngày nay mọi vấn đề của khoa học đời thường đều đã được giải quyết. Ảo tưởng đó đã trở thành niềm xác tín mang tính thần lực, mà người đời cũng xem nó là một thứ bệnh “Mê tín”. Hóa ra nhận thức cũng có sự đối xứng : “Mê tín Thần thánh” và “Mê tín Khoa học”. Mà mê tín nào thì cũng đã từng gây ra không ít đổ vỡ và bi kịch trần gian,
Trong lúc cuộc cách mạng tư duy cuốn hút trí tuệ thời đại trên con đường tiếp cận chân lý của hiện thực bằng Chiến lược Hệ thống, thì Triết lý Giáo dục lại đi theo một tiến trình ngược lại : Sự chia nhỏ manh mún gọi là “chuyên sâu”, sự phân Ban, lao sâu vào những cuộc thử nghiệm chuyên biệt…, ngay tại cấp học gọi là Phổ thông, với ý tưởng đi tìm đỉnh cao Tri thức. Ở đây, đối tượng của giáo dục là Con người để Làm người, như một tổng thể của hiện thực, đã bị xóa mất.
Edgar Morin Nhà triết học Giáo dục đã đặt Giáo dục trước những vấn đề thách thức trong một Thế giới toàn cầu hóa, mà sự hội nhập của các Quốc gia Dân tộc, là một tất yếu, trong đó, Ông nhắc lại câu nói của Nhà văn Mỹ Eliot, như một tiếng kêu : “Minh triết đâu rồi, chỉ còn lại Tri thức ! Tri thức đâu rồi, chỉ còn lại Thông tin ! “. Hình như nền Giáo dục của chúng ta đang cò ít hơn thế nữa. Nó kiến tạo những Trí thức và Thông tin bị băm vụn, dần trở thành những giáo điều ngấm vào nhận thức của hôm nay. Cuối cùng , cũng không thể không nhớ đến câu nói nổi tiếng của Nhà Giáo dục vĩ đại J. Rousseau : “Việc học tập đích thực của chúng ta là học tập về thân phận của Con người”.
Edgar Morin, đang nói đến việc học tập thân phận Con người trong một Thế giới biến đổi chưa từng có như ngày hôm nay.
Định lý Gödel ra đời, đến nửa thế kỷ sau, người ta mới thấy ý nghĩa to lớn của nó đối với Khoa học và Triết học. Từ sự hạn chế của các hệ lôgic của chính bản thân Toán học, người ta vỡ lẽ ra lý do khiếm khuyết và hạn chế trong các cấu trúc lôgic nhân tạo.
Trong công nghệ tính toán, Computer với tư cách là một hệ lôgic cả phân cứng lẫn phần mềm, nó cũng chấp nhận sống chung với sự “bất toàn” như một phần cơ thể của chính nó : Đó là sự cố Treo máy, sự cố Virus, Chương trình tối ưu, mà bất kỳ ai sử dụng computer đều được nếm trải.
Alan Turing, cha đẻ của máy tính điện tử hiện đại, với mô hình Toán học Máy Turing, từ những năm 1950, ông đã tiên đoán “Sự cố Treo máy" như một bài toán nổi tiếng mãi về sau này. Đồng thời cũng cho biết rằng, không thể khắc phục tuyệt đối bằng việc viết ra một chương trình có khả năng loại bỏ bất kỳ chủng virus nào. Gần đây nhất, G. Chaitin, Nhà Toán học thuộc IBM, đã chứng minh một hạn chế nữa, rằng không thể viết một chương trình tối ưu cho một mục tiêu định trước. Chỉ có thể viết một chương trình tốt hơn một chương trình đã có. Tất cả những hạn chế này đều có cơ sở lôgic là Định lý bất toàn Gödel.
Một vấn đề cũng có sức thu hút trí tuệ trong Thế kỷ hai mươi mốt, đó là “Trí thông minh nhân tạo”, với câu hỏi nóng bỏng nhất : “Trong tương lai, chúng ta có thể chế tạo những Robot thông minh như con người hay không ?”. John Arrow, giáo sư Đại học Sussex (London), đã lấy tư tưởng của Định lý bất toàn viết nên tác phẩm, có tiêu đề Imposibihty (Bất khả), nêu lên luận đề Giới hạn của Khoa học và Khoa học về các Giới hạn, cũng đã lấy Định lý bất toàn Gödel làm cơ sở để trả lời câu hỏi nóng bỏng trên : Bộ não con người, với tư cách là một hệ lôgic, không bao giờ hiểu biết hết chính mình, thì cũng sẽ chẳng bao giờ chế tạo được “Bộ não” thông minh giống mình. Robot được trang bị “Bộ não nhân tạo”, dù thông minh đến đâu, thì cũng chỉ có thể “suy nghĩ” dựa trên một tập hợp hữu hạn các tiên đề (chương trình). Trong khi đó não con người có thể có nhưng phát kiến bất chợt : Những cảm nhận Trực giác xuất thần không dựa theo bất kỳ một hệ thống lý thuyết nào.
“Khoa học về Giới hạn” mà Barrow nêu lên, không hạ thấp vai trò Khoa học, mà chính là để định hướng đi cho Khoa học, phát triển mà không xa rời bản chất của hiện thực. Như Nhà Vật lý Vũ trụ Stephen Hawking đã từng nói : “Khoa học Vật lý có thể hoàn thành sứ mệnh của mình mà không có câu trả lời cho một vài câu hỏi cơ bản nhất của Tự nhiên”, cũng là vì lý do hạn chế đó.
Định lý Bất toàn Gödel là một trong những Định lý vĩ đại nhất được chứng minh trong Thế kỷ XX. Nhà Toán học người Mỹ William Denton tuyên bố: “Định lý Bất toàn Gödel xếp ngang hàng với thuyết Tương đối của Einstein và nguyên lý Bất định của Heisenberg ! “
Thứ Hai, 24 tháng 1, 2011
Đứng dậy bỏ đi
Có ai sống trọn cuộc đời mà không có lúc tự hỏi: mình thực sự muốn gì trong cuộc đời bất định? hoặc: mình thực sự muốn gì trên thế gian rộng lớn này?
Hai câu hỏi giống nhau về ý mà khác nhau về nghĩa. Câu đầu ẩn chứa thời gian: mình muốn đạt được gì trong quãng đời phía trước?. Câu sau có tính hiện thực về không gian: đúng lúc này trên thế gian này mình muốn có cái gì?
Sách giáo khoa vi mô nói con người thuần lý là con người hành động để tối ưu hóa độ thỏa dụng của mình.
Người xưa bảo: ngoài đời chỉ có hai loại người, một là vì danh, hai là vì lợi.
***
Người ai chả vì danh vì lợi. Thời nay có danh ắt sẽ có lợi. Có lợi sẽ kiếm được danh.
Danh và lợi là cặp bài chéo cánh. Để có danh và lợi, thường người ta phải dùng thế hoặc lực.
Thế và lực lại là một cặp bài chéo cánh thứ hai.
Lực là kiến thức, là kinh nghiệm, là kỹ năng, là tài chính… Lực là vốn xã hội của con người. Lực cần tích lũy theo thời gian.
Thế là cái là địa vị, và uy quyền, là tiếng nói nói… Thế là cái chỗ đứng cao thấp của con người. Thế nâng cao dần theo thời gian.
Cũng có người có danh và lợi, rồi mới tìm kiếm thế và lực. Về bản chất không khác dùng thế – lực để tìm danh – lợi. Chỉ là chuyển vế đổi dấu mà thôi.
***
Vẽ một hình tứ giác, hai đỉnh đối nhau là Thế – Lực, hai đỉnh kia, cũng đối nhau, là Danh – Lợi.
Để dễ nhìn, cứ vẽ nó thành hình chữ nhật.
Vẽ đường cong mềm mại nối đỉnh Thế và Lực. Điểm giữa của đường này là chúng ta, ở một thời khắc giữa cuộc đời và giữa thế gian.
Đường cong này là cái ta gọi là Muốn. Nó cong về đỉnh Danh tức là muốn Danh nhiều hơn mà sẵn sàng hy sinh Lợi. Nó cong về Lợi là muốn lợi mà bất chấp mất Danh. Đường cong vừa phải thì cái Muốn nằm ở tầm hoài bão. Cong hơn chút là ước mơ. Cong đến muốn đứt gãy thì là tham vọng.
Khi Tham vọng đạt được thì bốn điểm quay dồn thành một điểm bùng phát.
Tham vọng sụp đổ, Thế-Lực tan tành, Danh-Lợi nhòa theo mây khói.
***
Nhưng có những người hiếm hoi, không muốn danh hay lợi, không biết thế và lực là gì. Họ có thúc đẩy mơ hồ mà mãnh liệt từ bên trong. Họ tự nhiên đứng lên bỏ đời để đi theo cái ham muốn khám phá vào sâu thẳm bên trong cái góc thế gian riêng của cuộc đời mà họ đang sống. Giống như đi tìm lời giải cho bài toán mà tạo hóa giấu biến đi và chỉ giành riêng cho sự khám phá của chính mình.
Khám phá phát lộ ra, lời giải hiện lên, họ đột nhiên được mang trở lại cuộc đời, nguyên vẹn, có danh có lợi, có thế có lực, trọn vẹn trong một bàn tay. Như một bàn tay nắm được cả một góc thế gian vậy.
Khám phá không tìm ra, cuộc đời khó mà trở lại, hẳn lòng họ vơi đi rất nhiều.
***
Cảm giác lòng mình vơi đi là một cảm giác rất khó chịu. Với người này, mất đi một người thân, làm lòng họ vơi đi. Với người kia, gặp một người tình cũ mà sau lưng là bao đổ vỡ đầy nước mắt, cũng làm họ vơi đi. Cái cảm giác vơi đi rất kinh khủng, nó không cào xé tâm can, mà nó tuyệt vọng như thời gian chỉ có đi mà không thể nào níu lại.
Chỉ có cuộc đời sống động mỗi ngày, mỗi nơi ta xuất hiện, mỗi khoảnh khắc ta trải qua, mới dần dà lấp được cái sự vơi lòng đi như thế.
Liệu đã đứng dậy mà đi ra khỏi cuộc đời rồi, ta có còn quay lại để làm đầy nó bằng từng hơi thở của cuộc sống được hay không, nếu cái khám phá sâu vào bên trong cuộc sống, mãi không thể tìm ra.
***
Đôi khi tạm quên câu hỏi mình muốn gì mà thử lắng nghe từ bên trong, xem có hay không trong lòng mình một thúc đấy để “Đứng dậy bỏ đi”
Hai câu hỏi giống nhau về ý mà khác nhau về nghĩa. Câu đầu ẩn chứa thời gian: mình muốn đạt được gì trong quãng đời phía trước?. Câu sau có tính hiện thực về không gian: đúng lúc này trên thế gian này mình muốn có cái gì?
Sách giáo khoa vi mô nói con người thuần lý là con người hành động để tối ưu hóa độ thỏa dụng của mình.
Người xưa bảo: ngoài đời chỉ có hai loại người, một là vì danh, hai là vì lợi.
***
Người ai chả vì danh vì lợi. Thời nay có danh ắt sẽ có lợi. Có lợi sẽ kiếm được danh.
Danh và lợi là cặp bài chéo cánh. Để có danh và lợi, thường người ta phải dùng thế hoặc lực.
Thế và lực lại là một cặp bài chéo cánh thứ hai.
Lực là kiến thức, là kinh nghiệm, là kỹ năng, là tài chính… Lực là vốn xã hội của con người. Lực cần tích lũy theo thời gian.
Thế là cái là địa vị, và uy quyền, là tiếng nói nói… Thế là cái chỗ đứng cao thấp của con người. Thế nâng cao dần theo thời gian.
Cũng có người có danh và lợi, rồi mới tìm kiếm thế và lực. Về bản chất không khác dùng thế – lực để tìm danh – lợi. Chỉ là chuyển vế đổi dấu mà thôi.
***
Vẽ một hình tứ giác, hai đỉnh đối nhau là Thế – Lực, hai đỉnh kia, cũng đối nhau, là Danh – Lợi.
Để dễ nhìn, cứ vẽ nó thành hình chữ nhật.
Vẽ đường cong mềm mại nối đỉnh Thế và Lực. Điểm giữa của đường này là chúng ta, ở một thời khắc giữa cuộc đời và giữa thế gian.
Đường cong này là cái ta gọi là Muốn. Nó cong về đỉnh Danh tức là muốn Danh nhiều hơn mà sẵn sàng hy sinh Lợi. Nó cong về Lợi là muốn lợi mà bất chấp mất Danh. Đường cong vừa phải thì cái Muốn nằm ở tầm hoài bão. Cong hơn chút là ước mơ. Cong đến muốn đứt gãy thì là tham vọng.
Khi Tham vọng đạt được thì bốn điểm quay dồn thành một điểm bùng phát.
Tham vọng sụp đổ, Thế-Lực tan tành, Danh-Lợi nhòa theo mây khói.
***
Nhưng có những người hiếm hoi, không muốn danh hay lợi, không biết thế và lực là gì. Họ có thúc đẩy mơ hồ mà mãnh liệt từ bên trong. Họ tự nhiên đứng lên bỏ đời để đi theo cái ham muốn khám phá vào sâu thẳm bên trong cái góc thế gian riêng của cuộc đời mà họ đang sống. Giống như đi tìm lời giải cho bài toán mà tạo hóa giấu biến đi và chỉ giành riêng cho sự khám phá của chính mình.
Khám phá phát lộ ra, lời giải hiện lên, họ đột nhiên được mang trở lại cuộc đời, nguyên vẹn, có danh có lợi, có thế có lực, trọn vẹn trong một bàn tay. Như một bàn tay nắm được cả một góc thế gian vậy.
Khám phá không tìm ra, cuộc đời khó mà trở lại, hẳn lòng họ vơi đi rất nhiều.
***
Cảm giác lòng mình vơi đi là một cảm giác rất khó chịu. Với người này, mất đi một người thân, làm lòng họ vơi đi. Với người kia, gặp một người tình cũ mà sau lưng là bao đổ vỡ đầy nước mắt, cũng làm họ vơi đi. Cái cảm giác vơi đi rất kinh khủng, nó không cào xé tâm can, mà nó tuyệt vọng như thời gian chỉ có đi mà không thể nào níu lại.
Chỉ có cuộc đời sống động mỗi ngày, mỗi nơi ta xuất hiện, mỗi khoảnh khắc ta trải qua, mới dần dà lấp được cái sự vơi lòng đi như thế.
Liệu đã đứng dậy mà đi ra khỏi cuộc đời rồi, ta có còn quay lại để làm đầy nó bằng từng hơi thở của cuộc sống được hay không, nếu cái khám phá sâu vào bên trong cuộc sống, mãi không thể tìm ra.
***
Đôi khi tạm quên câu hỏi mình muốn gì mà thử lắng nghe từ bên trong, xem có hay không trong lòng mình một thúc đấy để “Đứng dậy bỏ đi”
Thứ Ba, 11 tháng 1, 2011
Chúng ta đã giàu lên như thế nào
Cuối.
Trong kinh tế cũng như trong tự nhiên, những ý tưởng mới mẻ luôn muốn gạt bỏ những gì cổ hủ, lạc hậu. Tuy nhiên mọi sự đột biến đều phải trải qua một quá trình chọn lọc. Những ý tưởng cơ bản về sự tiến hóa có thể áp dụng đối với nền kinh tế. Tuy nhiên ở đây vấn đề không xoay quanh học thuyết Darwin xã hội một cách thô thiển.
Điều gì đã tác động vào một phân tử đơn giản sau một quá trình tiến hóa đã tạo ra con người? Do một kế hoạch tổng thể? Do ngẫu nhiên? Do tất yếu? Hay tất cả các yếu tố đó cùng tác động: ngẫu nhiên và tất yếu, ở đây phải chăng sự ngẫu nhiên chịu sự điều khiển của một kế hoạch tổng thể? Biết bao nhiêu triết gia, các nhà sinh vật học, hóa học, vật lý học, thần học và các nhà khoa học nhân văn đã nghiền ngẫm và nghiên cứu vấn đề trọng tâm này. Câu trả lời ở từng khía cạnh thật vô cùng phong phú nhưng nhìn tổng thể thì thấy rằng, tiến hóa là một quá trình diễn ra liên tục, không bao giờ ngừng nghỉ, thoái lui mà chỉ tiến lên phía trước.
Trên con đường tiến hóa dài dằng dặc đó đôi khi xẩy ra những nhiễu loạn hết sức ngẫu nhiên và những biến đổi có tính tự phát. Mọi sự đột biến đều chịu tác động của quá trình chọn lọc. Sự chọn lọc này hoàn toàn không ngẫu nhiên và càng không thể tùy tiện. Nó diễn ra theo một nguyên tắc đánh giá hết sức rõ ràng, đó là khả năng tồn tại của hệ thống vĩ mô.
Trong khoảng thời gian kéo dài hàng tỷ năm từ một sinh vật đơn bào đầu tiên hình thành một tổ chức để rồi trải qua một quá trình tiến hóa rất dài con người mới ra đời. Mỗi bước ngắn ngủi trên con đường mòn dài dường như vô tận này, trạng thái vi mô lại hình thành một cách ngẫu nhiên. Tuy nhiên quá trình chọn lọc cũng có nghĩa là quá trình tiến hóa lại là một sự tất yếu không thể lảng tránh. Đây hoàn toàn không phải là một sự đấu tranh sinh tồn, như người ta thường lầm tưởng và cho rằng đó là quan niệm của Darwin. Thực ra đây là một diễn biến thầm lặng, ôn hòa, một sự cạnh tranh liên tục không ngừng nghỉ. Từ hàng tỷ đột biến diễn ra trong một khoảng thời gian dài vô tận ắt không thể không dẫn đến một sự thay đổi, và sự thay đổi này tạo nên khả năng thích nghi và tái sản xuất một cách hợp lý nhất của hệ thống vĩ mô.
"Cạnh tranh là một quá trình khám phá"
Quá trình tiến hóa là một sự tất yếu không thể lảng tránh. Đây hoàn toàn không phải là một sự đấu tranh sinh tồn, như người ta thường lầm tưởng. Thực ra đây là một diễn biến thầm lặng, ôn hòa, một sự cạnh tranh liên tục không ngừng nghỉ.
Những ý tưởng tiến hóa cơ bản về sinh vật học có thể áp dụng thành công đối với kinh tế, xã hội và doanh nghiệp. Đây đơn giản không phải là học thuyết Darwin về mặt xã hội, điều này từ lâu đã được kiểm chứng trong thực tiễn và đã bị bác bỏ. Đây là sự tiến hóa về kinh tế, đó là sự nỗ lực, sự hành động của từng cá nhân nhằm đạt được những giải pháp tốt hơn để có khả năng tồn tại đối với cả xã hội nói chung.
Mọi nền kinh tế, các doanh nghiệp cũng như mỗi con đều người nhất thiết phải tìm cách để thích nghi với những điều kiện mới, phải thay đổi để có thể tồn tại. Mancur Olson khi xem xét khía cạnh kinh tế đã đề cập đến điều này trong cuốn sách của ông nhan đề "Sự thăng tiến và tàn lụi của một quốc gia" và lấy nước Anh làm ví dụ để chứng minh rằng, khi xã hội bị xơ cứng, khi các nhóm lợi ích chỉ nghĩ một cách đầy ích kỷ về nồi cơm của mình và coi mọi sự tiến bộ là sự tấn công vào cuộc sống của họ, chỉ nỗ lực dành lợi ích kinh tế vi mô sẽ dẫn đến sự tàn lụi của kinh tế vĩ mô. Đối với những xã hội ở trong tình trạng như vậy thì sự cạnh tranh có tác dụng như một sự thay máu. Nó giúp cải thiện khả năng thích nghi và qua đó tăng cường khả năng tồn tại của nền kinh tế.
Adam Smith, cha đẻ của học thuyết kinh tế hiện đại, coi tác động tiến hóa của cạnh tranh là một vấn đề trọng tâm. Smith nhận thấy cấu trúc ganh đua trên thị trường cạnh tranh là một sức mạnh hết sức năng động, nó như một cỗ máy khổng lồ thúc đẩy cả xã hội vươn lên. Bàn tay vô hình của thị trường sẽ biến những hành động ích kỷ thành những hệ quả vị tha mang lại lợi ích cho mọi người.
Ngày nay dù ai đó phê phán, chỉ trích thị trường và cạnh tranh như thế nào đi nữa – nhưng thực tế đã chứng minh, tư duy cạnh tranh xét về mặt lịch sử thì thấy, lúc đầu quá trình tăng trưởng có bị chậm lại nhưng trong thế kỷ vừa qua quá trình này ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn. Sự cạnh tranh đã làm cho nền kinh tế của những nước tuân thủ nguyên tắc cạnh tranh trở nên giầu có. Ludwig Erhard (cựu Thủ tướng Đức) từng diễn đạt như sau: "thịnh vượng cho tất cả và thịnh vượng thông qua cạnh tranh là hai yếu tố không thể tách rời nhau; định đề trước nói lên mục tiêu, định đề thứ hai chỉ ra con đường dẫn đến mục tiêu đó."
Cạnh tranh không có mắt, nó mù tịt về chính trị, xã hội
Sự cạnh tranh giúp phát hiện các giải pháp tiến hóa về kinh tế. Nó sàng lọc vô vàn kiến nghị về sự đổi mới để chọn ra những giải pháp tinh túy phù hợp nhất với sự tiến bộ của nhân loại.
Khi xã hội bị xơ cứng, khi các nhóm lợi ích chỉ nghĩ một cách đầy ích kỷ về nồi cơm của mình và coi mọi sự tiến bộ là sự tấn công vào cuộc sống của họ, chỉ nỗ lực dành lợi ích kinh tế vi mô sẽ dẫn đến sự tàn lụi của kinh tế vĩ mô.
"Cạnh tranh không những chỉ ra những gì có thể làm tốt hơn, mà nó còn buộc tất cả những ai có thu nhập từ thị trường, phải thực hiện những sự cải thiện này, vì thế đây là lý do chính tại sao cạnh tranh lại bị phản đối. Cạnh tranh buộc mọi người phải thay đổi hành vi của mình mà không một chỉ thị hoặc mệnh lệnh nào có thể làm được." Friedrich August von Hayek, nhà khoa học người Đức, từng được giải thưởng Nobel đã phát biểu như vậy về sức mạnh tiến hóa của cạnh tranh trong bài phát biểu rất nổi tiếng của ông ở Kiel năm 1968.
Cũng như trong các cuộc đua thể thao con người cố gắng huy động toàn bộ sức lực của mình quyết đoạt thắng lợi, thì các nhà doanh nghiệp trong hoạt động kinh tế cũng ra sức nỗ lực để dành khách hàng, tăng lợi nhuận, sẵn sàng chấp nhận rủi ro và quyết tìm ra các ý tưởng, giải pháp mới mẻ. Những kẻ đi đầu và sớm phát hiện ra các xu hướng phát triển của thị trường sẽ được trả công hậu hĩnh. Những kẻ bám lấy kỹ thuật lạc hậu, chọn sai hướng đi, hay sản xuất quá đắt ắt bị thua lỗ và phải trả giá đắt và đau đớn.
Cạnh tranh không có mắt, nó mù tịt về chính trị, xã hội. Nó không thể nói trước, cái gì tốt, cái gì dở. Vì thế đối với người này nó bị coi là khó chịu, đối với kẻ khác nó bị coi là tàn bạo. Nhưng đối với toàn xã hội thì sự để ngỏ kết quả của cạnh tranh lại chính là động lực cơ bản thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế. Không có sự thay đổi nào hay đổi mới nào được hưởng sự ưu ái trước. Mọi cái đều phải trải qua sự thử thách khốc liệt của thực tế. Chỉ có những gì đứng vững được trước phản ứng của dư luận, cái đó mới có thể tồn tại.
Thị trường phải để mở và có thể bị tấn công
Nhà kinh tế người Áo Joseph Alois Schumpeter từ khá lâu đã phát hiện ra sức mạnh tiến hóa của cạnh tranh. Những nhà doanh nghiệp năng động nỗ lực hết mình vì mục đích lợi nhuận, vì ý chí quyết thắng, vì niềm vui trong quá trình phấn đấu, xây dựng để vươn lên hàng đầu. Nhờ các công nghệ mới họ có khả năng tạo vị trí độc quyền cho mình. Những đổi mới sáng tạo của họ nếu nhận được sự hâm mộ, hưởng ứng của khách hàng họ sẽ nhận được phần thưởng vì đã dũng cảm đi tiên phong. Do bị thôi thúc "bởi động cơ lợi nhuận" sẽ có nhiều người lao vào cuộc để bắt chước. Từ đó tạo ra một cú hích về sự đổi mới sáng tạo. Những nhà máy lỗi thời, kém hiệu quả sẽ biến mất. Như máy hơi nước đã bị động cơ điện làm bật bãi, máy bay cánh quạt bị thay thế bởi máy bay phản lực và điện thoại di động đa năng hạ bệ điện thoại bàn.
Cũng như quá trình tiến hóa đối với các loài sinh vật, nỗ lực dành lợi nhuận trong kinh tế vi mô của từng nhà doanh nghiệp nếu gộp lại có thể tạo nên một sự thành công về kinh tế vĩ mô dưới dạng nâng cao mức sống của người dân nói chung. Nhưng một điều kiện quyết định để có được sự may mắn đối với kinh tế vĩ mô là phải để ngỏ thị trường độc quyền và thị trường đó phải chấp nhận tranh chấp. Nếu đối thủ cạnh tranh gặp khó khăn hay không thâm nhập được thị trường thì chỉ có những kẻ dành được độc quyền là vui mừng vì thu được nhiều lợi nhuận trên cơ sở gây thiệt thòi cho khách hàng. Chính vì lí do này nước Đức thành lập Cơ quan Chống độc quyền (Kartellamt), Ủy ban Độc quyền (Monopolkommission) và Cơ quan mạng lưới Liên bang (Bundesnetzagentur) để bảo đảm cạnh tranh.
Để cạnh tranh trở thành động lực thúc đẩy tiến hóa kinh tế tối ưu nhất cần phải có một sự tương tác thành công giữa hai cấp. Một mặt xã hội cần có những nhà doanh nghiệp luôn có quyết tâm cao và không hài lòng với hiện trạng đang diễn ra và luôn tìm cách phá vỡ để vươn tới những bến bờ mới. Mặt khác cần có những điều kiện khung về chính trị, xã hội và thể chế tạo không gian mở cho phép các nhà doanh nghiệp năng động có thể phát huy khả năng sáng tạo, đổi mới của họ. Như vậy có nghĩa là khả năng thích nghi vĩ mô về kinh tế của xã hội trước những sự thay đổi và khả năng cạnh tranh vi mô về kinh tế của các nhà doanh nghiệp năng động tạo ra một sự tác động qua lại, cái này là tiền đề của cái kia. Cuối cùng thì cả hai điều kiện này đều góp phần tiếp tục phát triển nền kinh tế của đất nước trong quá trình tiến hóa về kinh tế vì sự phồn vinh của mọi thành phần trong xã hội.
Trong kinh tế cũng như trong tự nhiên, những ý tưởng mới mẻ luôn muốn gạt bỏ những gì cổ hủ, lạc hậu. Tuy nhiên mọi sự đột biến đều phải trải qua một quá trình chọn lọc. Những ý tưởng cơ bản về sự tiến hóa có thể áp dụng đối với nền kinh tế. Tuy nhiên ở đây vấn đề không xoay quanh học thuyết Darwin xã hội một cách thô thiển.
Điều gì đã tác động vào một phân tử đơn giản sau một quá trình tiến hóa đã tạo ra con người? Do một kế hoạch tổng thể? Do ngẫu nhiên? Do tất yếu? Hay tất cả các yếu tố đó cùng tác động: ngẫu nhiên và tất yếu, ở đây phải chăng sự ngẫu nhiên chịu sự điều khiển của một kế hoạch tổng thể? Biết bao nhiêu triết gia, các nhà sinh vật học, hóa học, vật lý học, thần học và các nhà khoa học nhân văn đã nghiền ngẫm và nghiên cứu vấn đề trọng tâm này. Câu trả lời ở từng khía cạnh thật vô cùng phong phú nhưng nhìn tổng thể thì thấy rằng, tiến hóa là một quá trình diễn ra liên tục, không bao giờ ngừng nghỉ, thoái lui mà chỉ tiến lên phía trước.
Trên con đường tiến hóa dài dằng dặc đó đôi khi xẩy ra những nhiễu loạn hết sức ngẫu nhiên và những biến đổi có tính tự phát. Mọi sự đột biến đều chịu tác động của quá trình chọn lọc. Sự chọn lọc này hoàn toàn không ngẫu nhiên và càng không thể tùy tiện. Nó diễn ra theo một nguyên tắc đánh giá hết sức rõ ràng, đó là khả năng tồn tại của hệ thống vĩ mô.
Trong khoảng thời gian kéo dài hàng tỷ năm từ một sinh vật đơn bào đầu tiên hình thành một tổ chức để rồi trải qua một quá trình tiến hóa rất dài con người mới ra đời. Mỗi bước ngắn ngủi trên con đường mòn dài dường như vô tận này, trạng thái vi mô lại hình thành một cách ngẫu nhiên. Tuy nhiên quá trình chọn lọc cũng có nghĩa là quá trình tiến hóa lại là một sự tất yếu không thể lảng tránh. Đây hoàn toàn không phải là một sự đấu tranh sinh tồn, như người ta thường lầm tưởng và cho rằng đó là quan niệm của Darwin. Thực ra đây là một diễn biến thầm lặng, ôn hòa, một sự cạnh tranh liên tục không ngừng nghỉ. Từ hàng tỷ đột biến diễn ra trong một khoảng thời gian dài vô tận ắt không thể không dẫn đến một sự thay đổi, và sự thay đổi này tạo nên khả năng thích nghi và tái sản xuất một cách hợp lý nhất của hệ thống vĩ mô.
"Cạnh tranh là một quá trình khám phá"
Quá trình tiến hóa là một sự tất yếu không thể lảng tránh. Đây hoàn toàn không phải là một sự đấu tranh sinh tồn, như người ta thường lầm tưởng. Thực ra đây là một diễn biến thầm lặng, ôn hòa, một sự cạnh tranh liên tục không ngừng nghỉ.
Những ý tưởng tiến hóa cơ bản về sinh vật học có thể áp dụng thành công đối với kinh tế, xã hội và doanh nghiệp. Đây đơn giản không phải là học thuyết Darwin về mặt xã hội, điều này từ lâu đã được kiểm chứng trong thực tiễn và đã bị bác bỏ. Đây là sự tiến hóa về kinh tế, đó là sự nỗ lực, sự hành động của từng cá nhân nhằm đạt được những giải pháp tốt hơn để có khả năng tồn tại đối với cả xã hội nói chung.
Mọi nền kinh tế, các doanh nghiệp cũng như mỗi con đều người nhất thiết phải tìm cách để thích nghi với những điều kiện mới, phải thay đổi để có thể tồn tại. Mancur Olson khi xem xét khía cạnh kinh tế đã đề cập đến điều này trong cuốn sách của ông nhan đề "Sự thăng tiến và tàn lụi của một quốc gia" và lấy nước Anh làm ví dụ để chứng minh rằng, khi xã hội bị xơ cứng, khi các nhóm lợi ích chỉ nghĩ một cách đầy ích kỷ về nồi cơm của mình và coi mọi sự tiến bộ là sự tấn công vào cuộc sống của họ, chỉ nỗ lực dành lợi ích kinh tế vi mô sẽ dẫn đến sự tàn lụi của kinh tế vĩ mô. Đối với những xã hội ở trong tình trạng như vậy thì sự cạnh tranh có tác dụng như một sự thay máu. Nó giúp cải thiện khả năng thích nghi và qua đó tăng cường khả năng tồn tại của nền kinh tế.
Adam Smith, cha đẻ của học thuyết kinh tế hiện đại, coi tác động tiến hóa của cạnh tranh là một vấn đề trọng tâm. Smith nhận thấy cấu trúc ganh đua trên thị trường cạnh tranh là một sức mạnh hết sức năng động, nó như một cỗ máy khổng lồ thúc đẩy cả xã hội vươn lên. Bàn tay vô hình của thị trường sẽ biến những hành động ích kỷ thành những hệ quả vị tha mang lại lợi ích cho mọi người.
Ngày nay dù ai đó phê phán, chỉ trích thị trường và cạnh tranh như thế nào đi nữa – nhưng thực tế đã chứng minh, tư duy cạnh tranh xét về mặt lịch sử thì thấy, lúc đầu quá trình tăng trưởng có bị chậm lại nhưng trong thế kỷ vừa qua quá trình này ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn. Sự cạnh tranh đã làm cho nền kinh tế của những nước tuân thủ nguyên tắc cạnh tranh trở nên giầu có. Ludwig Erhard (cựu Thủ tướng Đức) từng diễn đạt như sau: "thịnh vượng cho tất cả và thịnh vượng thông qua cạnh tranh là hai yếu tố không thể tách rời nhau; định đề trước nói lên mục tiêu, định đề thứ hai chỉ ra con đường dẫn đến mục tiêu đó."
Cạnh tranh không có mắt, nó mù tịt về chính trị, xã hội
Sự cạnh tranh giúp phát hiện các giải pháp tiến hóa về kinh tế. Nó sàng lọc vô vàn kiến nghị về sự đổi mới để chọn ra những giải pháp tinh túy phù hợp nhất với sự tiến bộ của nhân loại.
Khi xã hội bị xơ cứng, khi các nhóm lợi ích chỉ nghĩ một cách đầy ích kỷ về nồi cơm của mình và coi mọi sự tiến bộ là sự tấn công vào cuộc sống của họ, chỉ nỗ lực dành lợi ích kinh tế vi mô sẽ dẫn đến sự tàn lụi của kinh tế vĩ mô.
"Cạnh tranh không những chỉ ra những gì có thể làm tốt hơn, mà nó còn buộc tất cả những ai có thu nhập từ thị trường, phải thực hiện những sự cải thiện này, vì thế đây là lý do chính tại sao cạnh tranh lại bị phản đối. Cạnh tranh buộc mọi người phải thay đổi hành vi của mình mà không một chỉ thị hoặc mệnh lệnh nào có thể làm được." Friedrich August von Hayek, nhà khoa học người Đức, từng được giải thưởng Nobel đã phát biểu như vậy về sức mạnh tiến hóa của cạnh tranh trong bài phát biểu rất nổi tiếng của ông ở Kiel năm 1968.
Cũng như trong các cuộc đua thể thao con người cố gắng huy động toàn bộ sức lực của mình quyết đoạt thắng lợi, thì các nhà doanh nghiệp trong hoạt động kinh tế cũng ra sức nỗ lực để dành khách hàng, tăng lợi nhuận, sẵn sàng chấp nhận rủi ro và quyết tìm ra các ý tưởng, giải pháp mới mẻ. Những kẻ đi đầu và sớm phát hiện ra các xu hướng phát triển của thị trường sẽ được trả công hậu hĩnh. Những kẻ bám lấy kỹ thuật lạc hậu, chọn sai hướng đi, hay sản xuất quá đắt ắt bị thua lỗ và phải trả giá đắt và đau đớn.
Cạnh tranh không có mắt, nó mù tịt về chính trị, xã hội. Nó không thể nói trước, cái gì tốt, cái gì dở. Vì thế đối với người này nó bị coi là khó chịu, đối với kẻ khác nó bị coi là tàn bạo. Nhưng đối với toàn xã hội thì sự để ngỏ kết quả của cạnh tranh lại chính là động lực cơ bản thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế. Không có sự thay đổi nào hay đổi mới nào được hưởng sự ưu ái trước. Mọi cái đều phải trải qua sự thử thách khốc liệt của thực tế. Chỉ có những gì đứng vững được trước phản ứng của dư luận, cái đó mới có thể tồn tại.
Thị trường phải để mở và có thể bị tấn công
Nhà kinh tế người Áo Joseph Alois Schumpeter từ khá lâu đã phát hiện ra sức mạnh tiến hóa của cạnh tranh. Những nhà doanh nghiệp năng động nỗ lực hết mình vì mục đích lợi nhuận, vì ý chí quyết thắng, vì niềm vui trong quá trình phấn đấu, xây dựng để vươn lên hàng đầu. Nhờ các công nghệ mới họ có khả năng tạo vị trí độc quyền cho mình. Những đổi mới sáng tạo của họ nếu nhận được sự hâm mộ, hưởng ứng của khách hàng họ sẽ nhận được phần thưởng vì đã dũng cảm đi tiên phong. Do bị thôi thúc "bởi động cơ lợi nhuận" sẽ có nhiều người lao vào cuộc để bắt chước. Từ đó tạo ra một cú hích về sự đổi mới sáng tạo. Những nhà máy lỗi thời, kém hiệu quả sẽ biến mất. Như máy hơi nước đã bị động cơ điện làm bật bãi, máy bay cánh quạt bị thay thế bởi máy bay phản lực và điện thoại di động đa năng hạ bệ điện thoại bàn.
Cũng như quá trình tiến hóa đối với các loài sinh vật, nỗ lực dành lợi nhuận trong kinh tế vi mô của từng nhà doanh nghiệp nếu gộp lại có thể tạo nên một sự thành công về kinh tế vĩ mô dưới dạng nâng cao mức sống của người dân nói chung. Nhưng một điều kiện quyết định để có được sự may mắn đối với kinh tế vĩ mô là phải để ngỏ thị trường độc quyền và thị trường đó phải chấp nhận tranh chấp. Nếu đối thủ cạnh tranh gặp khó khăn hay không thâm nhập được thị trường thì chỉ có những kẻ dành được độc quyền là vui mừng vì thu được nhiều lợi nhuận trên cơ sở gây thiệt thòi cho khách hàng. Chính vì lí do này nước Đức thành lập Cơ quan Chống độc quyền (Kartellamt), Ủy ban Độc quyền (Monopolkommission) và Cơ quan mạng lưới Liên bang (Bundesnetzagentur) để bảo đảm cạnh tranh.
Để cạnh tranh trở thành động lực thúc đẩy tiến hóa kinh tế tối ưu nhất cần phải có một sự tương tác thành công giữa hai cấp. Một mặt xã hội cần có những nhà doanh nghiệp luôn có quyết tâm cao và không hài lòng với hiện trạng đang diễn ra và luôn tìm cách phá vỡ để vươn tới những bến bờ mới. Mặt khác cần có những điều kiện khung về chính trị, xã hội và thể chế tạo không gian mở cho phép các nhà doanh nghiệp năng động có thể phát huy khả năng sáng tạo, đổi mới của họ. Như vậy có nghĩa là khả năng thích nghi vĩ mô về kinh tế của xã hội trước những sự thay đổi và khả năng cạnh tranh vi mô về kinh tế của các nhà doanh nghiệp năng động tạo ra một sự tác động qua lại, cái này là tiền đề của cái kia. Cuối cùng thì cả hai điều kiện này đều góp phần tiếp tục phát triển nền kinh tế của đất nước trong quá trình tiến hóa về kinh tế vì sự phồn vinh của mọi thành phần trong xã hội.
Chúng ta đã giàu lên như thế nào
5. John D. Rockefeller, một con người vĩ cuồng
John D. Rockefeller từng là người giầu nhất nước Mỹ. Ông kiếm tiền nhờ dầu mỏ với một ý tưởng đầy khôn ngoan: Kẻ nào muốn kiếm được nhiều tiền, cần có một tập đoàn khổng lồ. Ngay từ hồi xa xưa ông đã nhận thức được rằng, hoặc là lớn lên – hay là chìm xuồng.
Lối sống khắc khổ
Dầu mỏ làm cho người ta giầu có, ngày nay ai cũng hiểu điều đó là tất nhiên. Nhưng vào lúc John D. Rockefeller còn là một đứa trẻ, những năm 40 của thế kỷ 19 thì hầu hết người Mỹ không hề biết điều này. Người ta kinh hãi khi thấy dầu mỏ trồi lên khỏi mặt đất ở Pennsylvania, gây ô nhiễm nguồn nước và làm cho đất đai không thể trồng trọt được. Không ai ngờ chỉ ít lâu sau nguồn dầu này mang lại sự giầu có dường như vô tận - và John D. Rockefeller đã trở nên vô cùng giầu có nhờ dầu mỏ.
Giữa thế kỷ 19, một nhà khoa học phát hiện có thể dùng dầu mỏ để thắp đèn, từ đó diễn ra cuộc chạy đua săn tìm dầu mỏ, khi đó John D. Rockefeller còn là một thiếu niên. Ở tuổi 16, ông bắt đầu làm nghề kế toán. John say mê các con số và yêu thích sự chính xác của cái nghề này - vả lại ngay từ bé ông được rèn về kỷ luật và trật tự, ông quen với lối sống khắc khổ và tiết kiệm. Sau ba năm làm việc ông thấy tiền công mà người ta trả cho mình không tương xứng với công sức mình bỏ ra vì thế năm 1858 ở tuổi 19, ông cộng tác với Maurice Clark mở một hãng buôn riêng. Họ kinh doanh thịt và ngũ cốc và đến năm 1862 đã thu được một khoản lợi nhuận là 17.000 đôla.
Tuy nhiên khoản tiền này không là gì so với việc kinh doanh dầu mỏ mà sau đó ông bắt đầu nhập cuộc. Đầu tiên ông mua một cơ sở lọc dầu cỡ nhỏ. Tuy vậy cơ sở lọc dầu này sinh lời nhanh đến mức ông liên tục vay tín dụng để ngày càng mở rộng kinh doanh, sản xuất hơn nữa. Các ngân hàng rất chuộng người khách hàng kỹ tính, sòng phẳng luôn thanh toán cả lãi lẫn vốn rất đúng hạn. Nhưng người cộng tác cùng góp vốn với ông lại cảm thấy choáng ngợp vì mọi chuyện diễn ra quá nhanh chóng. Ông ta đòi bạn phải hãm đà tăng trưởng.
Rockefeller tuy là người rất kỹ tính và cẩn thận, nhưng ông cũng thấy đây là thời cơ vô cùng quý báu nhất thiết phải chớp lấy, ông quan niệm, hoặc là tăng trưởng hoặc bị nhấn chìm. John cắt quan hệ hợp tác với Clark, tậu một nhà máy cũ sau một cuộc đấu thầu và ở tuổi 27 ông cộng tác kinh doanh với đồng nghiệp mới là Henry Flagler. Henry không những là người mạnh bạo, can đảm mà còn rất khôn ngoan trong việc đàm phán, thương lượng. John Rockefeller đã chọn đúng người cộng tác với mình và cũng từ đây công việc kinh doanh dầu mỏ phát triển ngày một nhanh hơn, hoàn toàn đúng với mong muốn của Rockefeller.
Đối với nhà doanh nghiệp trẻ Rockefeller thì lao động là điều quan trọng nhất. Là một tín đồ Tin lành ngoan đạo ông coi việc thành đạt trong nghề nghiệp là nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trước Chúa. Sau này ông từng nói “năng khiếu kiếm ra tiền là năng khiếu do Chúa ban cho, ta phải biết làm sao để đồng tiền mà ta có sinh sôi nẩy nở nhiều nhất.” Ông đã thực hiện đúng tâm nguyện này. Ông xa lánh mọi thú vui trần tục. Ông xa lạ với lối sống nhởn nhơ, lười biếng, không bao giờ khoe khoang và rất ghét thói nhậu nhẹt. Ông coi việc tham gia khiêu vũ, đi xem kịch, nghe âm nhạc hoặc các sinh hoạt, hội họp đông người khác là vô bổ, lãng phí thời gian. Đối với ông, mục đích tối thượng là làm giầu.
Đánh bật mọi đối thủ cạnh tranh
Rockefeller nhận thức rất sớm thị trường dầu mỏ là thị trường có rất nhiều cơ hội. Nhưng đây là một thị trường còn non trẻ, ở nước Mỹ hồi đó có rất nhiều cơ sở lọc dầu bé nhỏ cạnh tranh với nhau. Dầu dù ở cơ sở lọc dầu nào thì cũng vẫn là dầu và người ta có thể dễ dàng thay thế bằng một sản phẩm của một hãng lọc dầu khác. Vấn đề quyết định là: ai làm ra dầu với giá rẻ nhất, kẻ đó là người thắng cuộc.
Rockefeller sớm nhận ra rằng, đối với việc kinh doanh dầu, nếu muốn làm ăn lớn thì bản thân mình phải lớn lên. Chỉ có thế mới có thể mua vào với điều kiện tốt hơn, sản xuất thuận lợi hơn và cuối cùng mới có thể bán ra với giá thấp hơn, đó là con đường để nuốt đối thủ cạnh tranh – và qua đó lại càng lớn mạnh hơn. Rockefeller là người đã phát hiện mô hình kinh doanh cho mình và mô hình này hiện vẫn được tiếp tục sao chép và nhờ nó nhiều người đã phất lên và trở nên giầu có. Phải lớn lên thật nhanh trên các thị trường mới và đánh bật mọi đối thủ: Đây là bí quyết dẫn đến thành công. Tuy nhiên bí quyết này không phải không gây ra nhiều tranh cãi. Các tập đoàn kếch xù khác, như Microsoft, cũng áp dụng bí quyết này chỉ có điều với phương pháp ít nhiều khác nhau.
Rockefeller theo đuổi mục tiêu không ngừng lớn lên đôi khi khá tàn bạo. Tập đoàn của ông không ngần ngại sử dụng điệp viên và cũng không nề hà khi phải đút lót. Đặc biệt ngay từ rất sớm ông đã biết liên kết với các ông chủ lọc dầu khác tạo Kartell để đòi giảm giá cước vận chuyển dầu mỏ, hồi đó việc vận chuyển dầu mỏ chủ yếu thông qua đường sắt. Tất nhiên chủ trò trong các vụ thương lượng này là hãng dầu Standard Oil của Rockefeller, đương nhiên qua đó ông cũng là kẻ thu được nhiều lợi nhất. Hầu như tất cả các hãng lọc dầu lớn dần dà đều liên kết với nhau để dìm giá.
Tham lam vô độ, nhưng lại rất sùng đạo
Kartell này trở thành một tập đoàn lớn, vì Standard Oil chỉ trong một năm đã thâu tóm mọi đối thủ cạnh tranh trong khu vực. Rockefeller thanh toán cho các đối tác bằng tiền mặt hoặc cổ phần, những người khôn ngoan chọn cách thứ hai. Họ sẽ cùng phất lên với Standard Oil. Ngay từ năm 1870 Standard Oil đã nắm 10% ngành lọc dầu ở Mỹ. Nhưng điều này chưa làm Rockefeller thỏa mãn. Trong những năm 70 Standard Oil liên kết với các công ty vận tải thành lập Kartell vận tải, mục đích của việc làm này là ngăn chặn mọi đối thủ cạnh tranh. Việc làm này tuy phạm luật nhưng tạm thời Standard Oil vẫn lách được và chỉ mười năm sau đó Standard Oil đã trở thành một siêu tập đoàn và thực chất trở thành tập đoàn độc quyền. Cùng với các cổ đông “lặng lẽ” cuối cùng Standard Oil đã nắm trong tay 90 % thị trường dầu mỏ ở Hoa kỳ.
Dân Mỹ cũng như chính giới Mỹ rất phẫn nộ trước cách làm thô bạo và phạm luật của siêu tập đoàn này. Những vụ kiện tụng kéo dài đến tận năm 1911, với phán quyết của tòa án Standard Oil buộc phải chia ra thành nhiều bộ phận khác nhau với những cái tên vẫn còn tồn tại đến tận ngày nay như Exxon, Chevron và Amoco. Trong khi đó Rockefeller vẫn tiếp tục giầu lên. Vào những năm 1890, ông không còn tham gia kinh doanh và khoản tài sản của ông đã lên đến 200 triệu đôla (so với ngày nay khoảng 3,5 tỷ); Năm 1930 ông trở thành tỷ phú (so với ngày nay khoảng 30 tỷ). Sự giầu có kếch sù này không phải không làm lương tâm ông bị cắn rứt.
Tuy là kẻ tham lam vô độ nhưng Rockefeller lại là một tín đồ rất ngoan đạo. Vì vậy ông chỉ dành một phần tài sản của mình cho con cháu và dành hàng trăm triệu đôla cho các hoạt động từ thiện khác nhau như lập các quỹ hỗ trợ trường học, thư viện và các trường đại học. Nhờ việc làm này ông phần nào gột rửa được danh tiếng đã bị hoen ố của mình. Nhờ đó ngày nay Rockefeller không còn mang tiếng là một kẻ giầu nứt đố đổ vách với những phương thức làm ăn tàn bạo. Nói đến ông người ta nghĩ đến những hoạt động từ thiện và giờ đây gia đình ông cũng như các quỹ do ông tạo dựng vẫn tiếp tục thu được những khoản lợi nhuận to lớn.
John D. Rockefeller từng là người giầu nhất nước Mỹ. Ông kiếm tiền nhờ dầu mỏ với một ý tưởng đầy khôn ngoan: Kẻ nào muốn kiếm được nhiều tiền, cần có một tập đoàn khổng lồ. Ngay từ hồi xa xưa ông đã nhận thức được rằng, hoặc là lớn lên – hay là chìm xuồng.
Lối sống khắc khổ
Dầu mỏ làm cho người ta giầu có, ngày nay ai cũng hiểu điều đó là tất nhiên. Nhưng vào lúc John D. Rockefeller còn là một đứa trẻ, những năm 40 của thế kỷ 19 thì hầu hết người Mỹ không hề biết điều này. Người ta kinh hãi khi thấy dầu mỏ trồi lên khỏi mặt đất ở Pennsylvania, gây ô nhiễm nguồn nước và làm cho đất đai không thể trồng trọt được. Không ai ngờ chỉ ít lâu sau nguồn dầu này mang lại sự giầu có dường như vô tận - và John D. Rockefeller đã trở nên vô cùng giầu có nhờ dầu mỏ.
Giữa thế kỷ 19, một nhà khoa học phát hiện có thể dùng dầu mỏ để thắp đèn, từ đó diễn ra cuộc chạy đua săn tìm dầu mỏ, khi đó John D. Rockefeller còn là một thiếu niên. Ở tuổi 16, ông bắt đầu làm nghề kế toán. John say mê các con số và yêu thích sự chính xác của cái nghề này - vả lại ngay từ bé ông được rèn về kỷ luật và trật tự, ông quen với lối sống khắc khổ và tiết kiệm. Sau ba năm làm việc ông thấy tiền công mà người ta trả cho mình không tương xứng với công sức mình bỏ ra vì thế năm 1858 ở tuổi 19, ông cộng tác với Maurice Clark mở một hãng buôn riêng. Họ kinh doanh thịt và ngũ cốc và đến năm 1862 đã thu được một khoản lợi nhuận là 17.000 đôla.
Tuy nhiên khoản tiền này không là gì so với việc kinh doanh dầu mỏ mà sau đó ông bắt đầu nhập cuộc. Đầu tiên ông mua một cơ sở lọc dầu cỡ nhỏ. Tuy vậy cơ sở lọc dầu này sinh lời nhanh đến mức ông liên tục vay tín dụng để ngày càng mở rộng kinh doanh, sản xuất hơn nữa. Các ngân hàng rất chuộng người khách hàng kỹ tính, sòng phẳng luôn thanh toán cả lãi lẫn vốn rất đúng hạn. Nhưng người cộng tác cùng góp vốn với ông lại cảm thấy choáng ngợp vì mọi chuyện diễn ra quá nhanh chóng. Ông ta đòi bạn phải hãm đà tăng trưởng.
Rockefeller tuy là người rất kỹ tính và cẩn thận, nhưng ông cũng thấy đây là thời cơ vô cùng quý báu nhất thiết phải chớp lấy, ông quan niệm, hoặc là tăng trưởng hoặc bị nhấn chìm. John cắt quan hệ hợp tác với Clark, tậu một nhà máy cũ sau một cuộc đấu thầu và ở tuổi 27 ông cộng tác kinh doanh với đồng nghiệp mới là Henry Flagler. Henry không những là người mạnh bạo, can đảm mà còn rất khôn ngoan trong việc đàm phán, thương lượng. John Rockefeller đã chọn đúng người cộng tác với mình và cũng từ đây công việc kinh doanh dầu mỏ phát triển ngày một nhanh hơn, hoàn toàn đúng với mong muốn của Rockefeller.
Đối với nhà doanh nghiệp trẻ Rockefeller thì lao động là điều quan trọng nhất. Là một tín đồ Tin lành ngoan đạo ông coi việc thành đạt trong nghề nghiệp là nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trước Chúa. Sau này ông từng nói “năng khiếu kiếm ra tiền là năng khiếu do Chúa ban cho, ta phải biết làm sao để đồng tiền mà ta có sinh sôi nẩy nở nhiều nhất.” Ông đã thực hiện đúng tâm nguyện này. Ông xa lánh mọi thú vui trần tục. Ông xa lạ với lối sống nhởn nhơ, lười biếng, không bao giờ khoe khoang và rất ghét thói nhậu nhẹt. Ông coi việc tham gia khiêu vũ, đi xem kịch, nghe âm nhạc hoặc các sinh hoạt, hội họp đông người khác là vô bổ, lãng phí thời gian. Đối với ông, mục đích tối thượng là làm giầu.
Đánh bật mọi đối thủ cạnh tranh
Rockefeller nhận thức rất sớm thị trường dầu mỏ là thị trường có rất nhiều cơ hội. Nhưng đây là một thị trường còn non trẻ, ở nước Mỹ hồi đó có rất nhiều cơ sở lọc dầu bé nhỏ cạnh tranh với nhau. Dầu dù ở cơ sở lọc dầu nào thì cũng vẫn là dầu và người ta có thể dễ dàng thay thế bằng một sản phẩm của một hãng lọc dầu khác. Vấn đề quyết định là: ai làm ra dầu với giá rẻ nhất, kẻ đó là người thắng cuộc.
Rockefeller sớm nhận ra rằng, đối với việc kinh doanh dầu, nếu muốn làm ăn lớn thì bản thân mình phải lớn lên. Chỉ có thế mới có thể mua vào với điều kiện tốt hơn, sản xuất thuận lợi hơn và cuối cùng mới có thể bán ra với giá thấp hơn, đó là con đường để nuốt đối thủ cạnh tranh – và qua đó lại càng lớn mạnh hơn. Rockefeller là người đã phát hiện mô hình kinh doanh cho mình và mô hình này hiện vẫn được tiếp tục sao chép và nhờ nó nhiều người đã phất lên và trở nên giầu có. Phải lớn lên thật nhanh trên các thị trường mới và đánh bật mọi đối thủ: Đây là bí quyết dẫn đến thành công. Tuy nhiên bí quyết này không phải không gây ra nhiều tranh cãi. Các tập đoàn kếch xù khác, như Microsoft, cũng áp dụng bí quyết này chỉ có điều với phương pháp ít nhiều khác nhau.
Rockefeller theo đuổi mục tiêu không ngừng lớn lên đôi khi khá tàn bạo. Tập đoàn của ông không ngần ngại sử dụng điệp viên và cũng không nề hà khi phải đút lót. Đặc biệt ngay từ rất sớm ông đã biết liên kết với các ông chủ lọc dầu khác tạo Kartell để đòi giảm giá cước vận chuyển dầu mỏ, hồi đó việc vận chuyển dầu mỏ chủ yếu thông qua đường sắt. Tất nhiên chủ trò trong các vụ thương lượng này là hãng dầu Standard Oil của Rockefeller, đương nhiên qua đó ông cũng là kẻ thu được nhiều lợi nhất. Hầu như tất cả các hãng lọc dầu lớn dần dà đều liên kết với nhau để dìm giá.
Tham lam vô độ, nhưng lại rất sùng đạo
Kartell này trở thành một tập đoàn lớn, vì Standard Oil chỉ trong một năm đã thâu tóm mọi đối thủ cạnh tranh trong khu vực. Rockefeller thanh toán cho các đối tác bằng tiền mặt hoặc cổ phần, những người khôn ngoan chọn cách thứ hai. Họ sẽ cùng phất lên với Standard Oil. Ngay từ năm 1870 Standard Oil đã nắm 10% ngành lọc dầu ở Mỹ. Nhưng điều này chưa làm Rockefeller thỏa mãn. Trong những năm 70 Standard Oil liên kết với các công ty vận tải thành lập Kartell vận tải, mục đích của việc làm này là ngăn chặn mọi đối thủ cạnh tranh. Việc làm này tuy phạm luật nhưng tạm thời Standard Oil vẫn lách được và chỉ mười năm sau đó Standard Oil đã trở thành một siêu tập đoàn và thực chất trở thành tập đoàn độc quyền. Cùng với các cổ đông “lặng lẽ” cuối cùng Standard Oil đã nắm trong tay 90 % thị trường dầu mỏ ở Hoa kỳ.
Dân Mỹ cũng như chính giới Mỹ rất phẫn nộ trước cách làm thô bạo và phạm luật của siêu tập đoàn này. Những vụ kiện tụng kéo dài đến tận năm 1911, với phán quyết của tòa án Standard Oil buộc phải chia ra thành nhiều bộ phận khác nhau với những cái tên vẫn còn tồn tại đến tận ngày nay như Exxon, Chevron và Amoco. Trong khi đó Rockefeller vẫn tiếp tục giầu lên. Vào những năm 1890, ông không còn tham gia kinh doanh và khoản tài sản của ông đã lên đến 200 triệu đôla (so với ngày nay khoảng 3,5 tỷ); Năm 1930 ông trở thành tỷ phú (so với ngày nay khoảng 30 tỷ). Sự giầu có kếch sù này không phải không làm lương tâm ông bị cắn rứt.
Tuy là kẻ tham lam vô độ nhưng Rockefeller lại là một tín đồ rất ngoan đạo. Vì vậy ông chỉ dành một phần tài sản của mình cho con cháu và dành hàng trăm triệu đôla cho các hoạt động từ thiện khác nhau như lập các quỹ hỗ trợ trường học, thư viện và các trường đại học. Nhờ việc làm này ông phần nào gột rửa được danh tiếng đã bị hoen ố của mình. Nhờ đó ngày nay Rockefeller không còn mang tiếng là một kẻ giầu nứt đố đổ vách với những phương thức làm ăn tàn bạo. Nói đến ông người ta nghĩ đến những hoạt động từ thiện và giờ đây gia đình ông cũng như các quỹ do ông tạo dựng vẫn tiếp tục thu được những khoản lợi nhuận to lớn.
Chúng ta đã giàu lên như thế nào
4. Chỉ người nông dân tự do mới nuôi nổi nhân loại
Khi người nông dân không có ruộng đất để làm ăn thì họ chỉ phát huy được một nửa sức lực của mình. Chính vì thế ngay từ năm 1810 Vua Phổ Friedrich Wilhelm Đệ tam đã giải phóng người nông dân. Từ đó nạn đói biến mất.
Vua Friedrich Wilhelm Đệ tam muốn xóa bỏ tình trạng lệ thuộc của nông nô ở các địa phương thuộc nước Phổ nên đã ban hành chỉ dụ quyền tư hữu về ruộng đất. Nhà vua nhận thức được rằng sau khi hòa bình được tái lập thì phải chăm lo đến đời sống đang bị sa sút nghiêm trọng của thần dân.
Ông cũng thấy rõ muốn xây dựng lại cuộc sống tốt đẹp thì không phải cứ chia tiền cho người dân là đủ. Ông càng hiểu trong điều kiện đất nước bị kiệt quệ, cùng quẫn sau chiến tranh thì nhà nước cũng không có tiền bạc cũng như phương tiện để hỗ trợ cho dân chúng. Và điều mà nhà nước phải làm là xóa bỏ mọi sự cản trở để người dân có điều kiện phát huy hết khả năng của mình mà vươn lên.
Nhà vua đã nhận ra được điều gì là vật cản chủ yếu đối với người nông dân và ban hành chính sách xóa bỏ những trở lực - đó là sự lệ thuộc của người nông dân và họ không được canh tác trên mảnh đất của chính mình.
Cách mạng thể chế
Theo chỉ dụ tháng 10 thì ngay từ năm 1810 nước Phổ không còn nông nô. Ít lâu sau, nhà vua lại ban hành chỉ dụ tự do kinh doanh và hủy bỏ chế độ cưỡng bức lao động trong các phường hội. Hoạt động sản xuất kinh doanh là quyền tự do của người dân, miễn là người đó chịu đóng thuế kinh doanh.
Những cải cách đó thực chất không khác gì một cuộc cách mạng về thể chế. Trước đó theo luật pháp, nước Đức không có quyền tự do lao động và tự do sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên ngay từ thời kỳ đó ở nhiều địa phương, giới thợ thủ công và nông dân đã không chấp hành những quy định ngặt nghèo của nhà nước hoặc tìm mọi cách để lách luật. Song khi các luật lệ, quy định khắc nghiệt nói trên chính thức bị hủy bỏ, đã xuất hiện các điều kiện để tiến hành tiền công nghiệp hóa. Sự kiện nước Phổ bị Napoleon đánh bại cũng là chất xúc tác dẫn đến những thay đổi này.
Cuộc cải cách ở nước Phổ sẽ không thể diễn ra nếu không có tác động mạnh mẽ của chủ nghĩa kinh tế tự do và trường phái coi trọng đất đai nông nghiệp và tài nguyên (Physiokratismus) ở nước Anh cũng như cuộc tranh luận sôi nổi diễn ra ở Đức xoay quanh chủ đề bản chất kinh tế của con người.
Chống đối quyết liệt
Lời mở đầu cho chỉ dụ tháng 10 không chỉ đề cập tới những điều hữu ích mà còn phê phán phần lớn những tập tục, truyền thống lạc hậu, cổ hủ. Những tập quán cổ hủ này ngăn cản con người phát huy các khả năng sinh lợi đối với tài sản của mình.
Thời kỳ này xuất hiện ở Phổ vấn đề nhân học kinh tế, một khái niệm mới mẻ và hiện đại. Điều này lại xuất hiện vào thời điểm chưa có gì chứng minh hoặc bảo đảm những luật lệ và tổ chức mới có thể đem lại thành công về kinh tế. Đây là sự đầu tư cho tương lai, nhưng tất cả vẫn còn là một ẩn số, và chuyện thành, bại chỉ có thể khẳng định qua trải nghiệm thực tế.
Lúc đầu cuộc cải cách ở nước Phổ đã vấp phải sự phản đối hết sức quyết liệt, trước hết là của tầng lớp quý tộc. Lực lượng này coi đây là sự vi phạm quyền sở hữu của họ về đất đai. Nhưng cốt lõi của vấn đề lại xoay quanh lực lượng lao động ở nông thôn. Trước kia khi là nông nô, họ bị lệ thuộc nhiều vào chúa đất, với luật lệ mới giới chúa đất sẽ không dễ dàng gì sai khiến, thuê mướn họ với giá nhân công bèo bọt như trước.
Việc thực hiện sở hữu tư nhân về ruộng đất nói chung được nhiệt liệt hoan nghênh vì thông qua đó việc vay tín dụng đã được cải thiện một cách cơ bản... Lúc này ở nông thôn có tình trạng thiếu lao động và tiền công lao động cũng tăng lên khá rõ rệt.
Tranh cãi kéo dài
Sau khi nước Phổ bị thua trong cuộc chiến chống Napoleon, quá trình ban hành luật về cải cách diễn ra vô cùng trầy trật, dai dẳng nhất là đối với vấn đề “điều tiết”, tức sự bồi thường thiệt hại cho giới địa chủ về việc người nông dân được miễn chế độ lao dịch. Mãi đến năm 1859 vấn đề này mới được luật hóa. Giới địa chủ được đền bù tài sản. Người nông dân được tự do song phải đền bù cho các ông chủ của mình dưới dạng đất đai hoặc tiền bạc.
Sự than phiền của giới địa chủ về việc thiếu nhân công giá rẻ cũng sớm yên ắng vì phần lớn diện tích đất đai tích tụ trong thời kỳ này giúp hình thành các trang trại với diện tích ngày càng lớn hơn và thúc đẩy hiện đại hóa nông nghiệp Thời đó dân số ở nông thôn dư thừa, giá nhân công ở nông thôn rẻ rúng. Mãi đến cuối thế kỷ mới xuất hiện tình trạng “khan hiếm nhân công” vì lao động ở nông thôn đua nhau ra các khu đô thị, nơi đang diễn ra quá trình công nghiệp hóa rất nhanh chóng để tìm việc làm vì lương cao hơn và điều kiện lao động cũng khá hơn.
Sự nghiệp giải phóng người nông dân và ban hành luật “điều chỉnh” là tiền đề cho hiện đại hóa, điều này bắt đầu xuất hiện lẻ tẻ từ thế kỷ 18, sau đó phát triển mạnh mẽ và kết thúc vào nửa cuối thế kỷ 19, đó là thời kỳ chủ nghĩa tư bản nông nghiệp.
Chuyển đổi nền kinh tế
Sự điều chỉnh quan hệ sở hữu dẫn đến sự tích tụ ruộng đất từ đó đem lại thành công về kinh tế. Từ chỗ sản xuất nông nghiệp mang tính chất tự cấp tự túc nay xuất hiện nghề kinh doanh buôn bán trên cơ sở sản xuất nông nghiệp. Nhờ hủy bỏ chế độ công thổ, trước đó công thổ là của chung, nên diện tích đất canh tác tăng đáng kể. Giới địa chủ tăng cường đầu tư ở nông thôn.
Từ đó năng suất cây trồng, vật nuôi và sản lượng sữa tăng lên. Trong khi năng suất lao động và hiệu quả sử dụng ruộng đất tăng thì các yếu tố đầu vào lại giảm. Dân số tăng lên, giá cả giảm nên mọi người đều no đủ. Từ đó phần tăng lên của tổng sản phẩm xã hội được sử dụng để phát triển công nghiệp. Kết quả này khẳng định hiện đại hóa nông nghiệp là điều kiện cơ bản để thay đổi cấu trúc nền kinh tế. Mãi đến khi hình thành chủ nghĩa tư bản nông nghiệp, nạn nhân mãn, tình trạng đói kém và khủng hoảng ở châu Âu mới được chấm dứt. Trong quá trình cải cách này nước Phổ hoàn toàn không đơn độc; quá trình này diễn ra cùng với sự vận động, phát triển ở khăp châu Âu. Sự hủy bỏ chế độ lao dịch ở nông thôn và tư nhân hóa ruộng đất ở Anh diễn ra khá sớm. Cuộc cách mạng Pháp đã thủ tiêu nhanh chóng nền nông nghiệp cũ cũng như các đặc quyền của giới quý tộc. Những vùng chịu sự cai quản của Napoleon tiếp thu luật pháp kinh tế tiên tiến của Pháp. Riêng chỉ có nước Áo và Nga là vẫn lẹt đẹt đi sau. Mãi đến năm 1860, người nông dân Nga mới được giải phóng.
Ở khắp mọi nơi trên thế giới, cuộc giải phóng người nông dân luôn là điều kiện quyết định để chuyển đổi kinh tế qua đó mới khắc phục được tình trạng đói kém triền miên từ đời này sang đời khác.
Khi người nông dân không có ruộng đất để làm ăn thì họ chỉ phát huy được một nửa sức lực của mình. Chính vì thế ngay từ năm 1810 Vua Phổ Friedrich Wilhelm Đệ tam đã giải phóng người nông dân. Từ đó nạn đói biến mất.
Vua Friedrich Wilhelm Đệ tam muốn xóa bỏ tình trạng lệ thuộc của nông nô ở các địa phương thuộc nước Phổ nên đã ban hành chỉ dụ quyền tư hữu về ruộng đất. Nhà vua nhận thức được rằng sau khi hòa bình được tái lập thì phải chăm lo đến đời sống đang bị sa sút nghiêm trọng của thần dân.
Ông cũng thấy rõ muốn xây dựng lại cuộc sống tốt đẹp thì không phải cứ chia tiền cho người dân là đủ. Ông càng hiểu trong điều kiện đất nước bị kiệt quệ, cùng quẫn sau chiến tranh thì nhà nước cũng không có tiền bạc cũng như phương tiện để hỗ trợ cho dân chúng. Và điều mà nhà nước phải làm là xóa bỏ mọi sự cản trở để người dân có điều kiện phát huy hết khả năng của mình mà vươn lên.
Nhà vua đã nhận ra được điều gì là vật cản chủ yếu đối với người nông dân và ban hành chính sách xóa bỏ những trở lực - đó là sự lệ thuộc của người nông dân và họ không được canh tác trên mảnh đất của chính mình.
Cách mạng thể chế
Theo chỉ dụ tháng 10 thì ngay từ năm 1810 nước Phổ không còn nông nô. Ít lâu sau, nhà vua lại ban hành chỉ dụ tự do kinh doanh và hủy bỏ chế độ cưỡng bức lao động trong các phường hội. Hoạt động sản xuất kinh doanh là quyền tự do của người dân, miễn là người đó chịu đóng thuế kinh doanh.
Những cải cách đó thực chất không khác gì một cuộc cách mạng về thể chế. Trước đó theo luật pháp, nước Đức không có quyền tự do lao động và tự do sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên ngay từ thời kỳ đó ở nhiều địa phương, giới thợ thủ công và nông dân đã không chấp hành những quy định ngặt nghèo của nhà nước hoặc tìm mọi cách để lách luật. Song khi các luật lệ, quy định khắc nghiệt nói trên chính thức bị hủy bỏ, đã xuất hiện các điều kiện để tiến hành tiền công nghiệp hóa. Sự kiện nước Phổ bị Napoleon đánh bại cũng là chất xúc tác dẫn đến những thay đổi này.
Cuộc cải cách ở nước Phổ sẽ không thể diễn ra nếu không có tác động mạnh mẽ của chủ nghĩa kinh tế tự do và trường phái coi trọng đất đai nông nghiệp và tài nguyên (Physiokratismus) ở nước Anh cũng như cuộc tranh luận sôi nổi diễn ra ở Đức xoay quanh chủ đề bản chất kinh tế của con người.
Chống đối quyết liệt
Lời mở đầu cho chỉ dụ tháng 10 không chỉ đề cập tới những điều hữu ích mà còn phê phán phần lớn những tập tục, truyền thống lạc hậu, cổ hủ. Những tập quán cổ hủ này ngăn cản con người phát huy các khả năng sinh lợi đối với tài sản của mình.
Thời kỳ này xuất hiện ở Phổ vấn đề nhân học kinh tế, một khái niệm mới mẻ và hiện đại. Điều này lại xuất hiện vào thời điểm chưa có gì chứng minh hoặc bảo đảm những luật lệ và tổ chức mới có thể đem lại thành công về kinh tế. Đây là sự đầu tư cho tương lai, nhưng tất cả vẫn còn là một ẩn số, và chuyện thành, bại chỉ có thể khẳng định qua trải nghiệm thực tế.
Lúc đầu cuộc cải cách ở nước Phổ đã vấp phải sự phản đối hết sức quyết liệt, trước hết là của tầng lớp quý tộc. Lực lượng này coi đây là sự vi phạm quyền sở hữu của họ về đất đai. Nhưng cốt lõi của vấn đề lại xoay quanh lực lượng lao động ở nông thôn. Trước kia khi là nông nô, họ bị lệ thuộc nhiều vào chúa đất, với luật lệ mới giới chúa đất sẽ không dễ dàng gì sai khiến, thuê mướn họ với giá nhân công bèo bọt như trước.
Việc thực hiện sở hữu tư nhân về ruộng đất nói chung được nhiệt liệt hoan nghênh vì thông qua đó việc vay tín dụng đã được cải thiện một cách cơ bản... Lúc này ở nông thôn có tình trạng thiếu lao động và tiền công lao động cũng tăng lên khá rõ rệt.
Tranh cãi kéo dài
Sau khi nước Phổ bị thua trong cuộc chiến chống Napoleon, quá trình ban hành luật về cải cách diễn ra vô cùng trầy trật, dai dẳng nhất là đối với vấn đề “điều tiết”, tức sự bồi thường thiệt hại cho giới địa chủ về việc người nông dân được miễn chế độ lao dịch. Mãi đến năm 1859 vấn đề này mới được luật hóa. Giới địa chủ được đền bù tài sản. Người nông dân được tự do song phải đền bù cho các ông chủ của mình dưới dạng đất đai hoặc tiền bạc.
Sự than phiền của giới địa chủ về việc thiếu nhân công giá rẻ cũng sớm yên ắng vì phần lớn diện tích đất đai tích tụ trong thời kỳ này giúp hình thành các trang trại với diện tích ngày càng lớn hơn và thúc đẩy hiện đại hóa nông nghiệp Thời đó dân số ở nông thôn dư thừa, giá nhân công ở nông thôn rẻ rúng. Mãi đến cuối thế kỷ mới xuất hiện tình trạng “khan hiếm nhân công” vì lao động ở nông thôn đua nhau ra các khu đô thị, nơi đang diễn ra quá trình công nghiệp hóa rất nhanh chóng để tìm việc làm vì lương cao hơn và điều kiện lao động cũng khá hơn.
Sự nghiệp giải phóng người nông dân và ban hành luật “điều chỉnh” là tiền đề cho hiện đại hóa, điều này bắt đầu xuất hiện lẻ tẻ từ thế kỷ 18, sau đó phát triển mạnh mẽ và kết thúc vào nửa cuối thế kỷ 19, đó là thời kỳ chủ nghĩa tư bản nông nghiệp.
Chuyển đổi nền kinh tế
Sự điều chỉnh quan hệ sở hữu dẫn đến sự tích tụ ruộng đất từ đó đem lại thành công về kinh tế. Từ chỗ sản xuất nông nghiệp mang tính chất tự cấp tự túc nay xuất hiện nghề kinh doanh buôn bán trên cơ sở sản xuất nông nghiệp. Nhờ hủy bỏ chế độ công thổ, trước đó công thổ là của chung, nên diện tích đất canh tác tăng đáng kể. Giới địa chủ tăng cường đầu tư ở nông thôn.
Từ đó năng suất cây trồng, vật nuôi và sản lượng sữa tăng lên. Trong khi năng suất lao động và hiệu quả sử dụng ruộng đất tăng thì các yếu tố đầu vào lại giảm. Dân số tăng lên, giá cả giảm nên mọi người đều no đủ. Từ đó phần tăng lên của tổng sản phẩm xã hội được sử dụng để phát triển công nghiệp. Kết quả này khẳng định hiện đại hóa nông nghiệp là điều kiện cơ bản để thay đổi cấu trúc nền kinh tế. Mãi đến khi hình thành chủ nghĩa tư bản nông nghiệp, nạn nhân mãn, tình trạng đói kém và khủng hoảng ở châu Âu mới được chấm dứt. Trong quá trình cải cách này nước Phổ hoàn toàn không đơn độc; quá trình này diễn ra cùng với sự vận động, phát triển ở khăp châu Âu. Sự hủy bỏ chế độ lao dịch ở nông thôn và tư nhân hóa ruộng đất ở Anh diễn ra khá sớm. Cuộc cách mạng Pháp đã thủ tiêu nhanh chóng nền nông nghiệp cũ cũng như các đặc quyền của giới quý tộc. Những vùng chịu sự cai quản của Napoleon tiếp thu luật pháp kinh tế tiên tiến của Pháp. Riêng chỉ có nước Áo và Nga là vẫn lẹt đẹt đi sau. Mãi đến năm 1860, người nông dân Nga mới được giải phóng.
Ở khắp mọi nơi trên thế giới, cuộc giải phóng người nông dân luôn là điều kiện quyết định để chuyển đổi kinh tế qua đó mới khắc phục được tình trạng đói kém triền miên từ đời này sang đời khác.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)