Những năm gần đây giới trí thức Trung Quốc đã nhiều lần cảnh báo về hiểm họa nghiêm trọng của sự phát triển chủ nghĩa tư bản thân quen ở nước này: một số ít người lợi dụng quan hệ thân quen với chính quyền để độc quyền thao túng nền kinh tế, làm thiệt hại quyền lợi của đa số nhân dân; các doanh nghiệp nhà nước độc quyền là công cụ để thực hiện sự thao túng đó. Dưới đây là bài viết của nhà kinh tế nổi tiếng Vương Tắc Kha đăng trên “Đông phương Tảo báo” Trung Quốc số ra ngày 28/10/2010.
Là một nhà kinh tế học, tôi đặc biệt tán thưởng câu nói của Giáo sư Trương Duy Nghênh “Bảo vệ kinh tế thị trường là trách nhiệm cơ bản của các nhà kinh tế” .
Vương Tắc Kha
Giáo sư (GS) Trương Duy Nghênh [1] là người kiên định bảo vệ kinh tế thị trường. Cá nhân ông đã thực sự có những cống hiến cho công cuộc cải cách thể chế kinh tế định hướng thị trường của Trung Quốc. Tác phẩm mới của GS “Lô-gic của thị trường” tập hợp 16 bài viết của ông từng đăng trên báo chí Trung Quốc và nước ngoài trong một phần tư thế kỷ qua. Theo tôi nghĩ, tư tưởng trung tâm của cuốn sách này chính là câu nói của ông: Bảo vệ kinh tế thị trường.
Tư Mã Thiên và Adam Smith
Ngay từ đầu GS Trương đã nêu rõ: “Kinh tế thị trường là sáng tạo vĩ đại nhất của loài người, là Luật chơi tốt nhất trong các tiến bộ của loài người!” “Lô-gic cơ bản của kinh tế thị trường là: Nếu ai muốn được hạnh phúc thì người ấy trước hết phải làm cho người khác được hạnh phúc.”
Cơ chế của kinh tế thị trường hiện đại là để “đồng tiền-phiếu bầu” [2] lên tiếng, giỏi thắng kém thua, nâng cao mức độ phúc lợi toàn xã hội.
Nếu bạn muốn giành được nhiều đồng tiền-phiếu bầu thì bạn phải cung cấp cho thị trường các mặt hàng được người ta thích mua, kể cả các mặt hàng có tính dịch vụ như cắt tóc, du lịch. Trước tiên người ta bằng lòng bỏ tiền mua hàng của bạn, dưới tiền đề món hàng ấy đem lại cái tốt cho người ta, tốt hơn so với việc người ta giữ lại trong túi mình số tiền họ cần trả cho việc mua món hàng ấy của bạn. Thứ hai, người ta bằng lòng bỏ tiền mua hàng của bạn chứ không mua hàng của người khác, nguyên nhân là bỏ ra cùng một số tiền như nhau, hàng của bạn đem lại nhiều cái tốt hơn so với hàng của người khác.
So sánh cái tốt tức là so sánh giá trị. Bởi vậy, GS Trương Duy Nghênh nói: “Bản chất của cạnh tranh thị trường là sự cạnh tranh giá trị tạo ra cho người khác.”
Đó chính là ý tưởng “Bàn tay vô hình” mà Adam Smith [3], ông tổ kinh tế học hiện đại khái quát lại trong danh tác Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân sự giàu có của các dân tộc.
Theo giải thích của GS Trương, Adam Smith nói “Trong nền kinh tế thị trường, mỗi người đều theo đuổi lợi ích của mình – ở đây là lợi ích theo nghĩa rộng, kể cả mưu cầu tài sản, cũng có thể mưu cầu thanh danh cho mình – nhưng có một bàn tay vô hình làm cho bạn, trong khi theo đuổi lợi ích của mình thì lại tạo ra một giá trị cho người khác, cái giá trị ấy lớn hơn giá trị mà ý định chủ quan của bạn muốn đóng góp cho xã hội.” GS Trương cho rằng đây chính là điều kỳ diệu của kinh tế thị trường.
GS Trương Duy Nghênh nói một cách quy nạp: “Thị trường là gì? Thị trường là chế độ trong đó xấu hay tốt là do người khác đánh giá chứ không phải do bạn tự đánh giá. Trên thị trường, bất cứ ai không tạo ra giá trị cho người khác thì sẽ không thể có thu nhập. Cho nên bạn phải cố gắng tạo ra giá trị cho người khác.” “Cái nào có giá trị, cái nào không có giá trị, điều đó phải được thử nghiệm trên thị trường, phải do người mua đánh giá.”
Những kẻ phản đối kinh tế thị trường không những hạ thấp ý tưởng “Bàn tay vô hình” của Adam Smith là “chủ nghĩa độc tôn thị trường” mà còn, trên độ cao ý thức hệ, quy nó vào ảnh hưởng của kinh tế học dung tục của giai cấp tư sản phương Tây – nghe thật là sởn tóc gáy.
Thực ra, trong cuốn Sử Ký của mình, Tư Mã Thiên, nhà văn và nhà tư tưởng nổi tiếng Trung Quốc thời Tây Hán đã thể hiện rõ ràng ý tưởng sau này Adam Smith khái quát lại thành “bàn tay vô hình”.
Trong Sử Ký, Tư Mã Thiên đã viết một đoạn văn ngắn, đại ý có nghĩa là: Nhờ vào sự trồng trọt của nông dân mà người ta có cái ăn, nhờ thợ sơn tràng mà người ta có gỗ ván để làm đồ đạc, nhờ thợ thủ công làm ra đồ dùng mà người ta được thỏa mãn nhu cầu; nhờ các nhà buôn chở và bán mọi thứ vật dụng đó mà người ta có dịp chọn mua. Lẽ nào lại còn phải cần tới nhà nước ra lệnh dạy bảo dân chúng định kỳ họp chợ để thực hiện những việc nói trên hay sao? Mọi người ai nấy làm việc theo khả năng của mình, gắng sức mình làm, qua đó thỏa mãn nhu cầu của mình. Bởi thế, khi vật giá rẻ thì họ tìm cách mua hàng, khi vật giá đắt họ tìm cách bán hàng. Ai nấy cần cù, vui vẻ làm nghề của mình, ví như nước chảy chỗ trũng, ngày đêm chảy mãi không thôi, chẳng cần ai kêu gọi họ cũng làm, chẳng cần ai tuyển mộ thì dân chúng cũng tự sản xuất ra mọi thứ. Điều ấy hợp quy luật và tự nhiên được chứng minh là đúng.
Đoạn văn nói trên của Tư Mã Thiên thể hiện ý tương hầu như hoàn toàn ăn nhập với cách trình bày “Bàn tay vô hình” nổi tiếng của Adam Smith, ông tổ của kinh tế học hiện đại. Nhưng Tư Mã Thiên của Trung Quốc có trước Adam Smith của Anh Quốc hơn 1800 năm!
Đáng tiếc là từ khi “Bãi truất Bách gia, độc tôn Nho thuật” [4] trở đi, chủ trương dùng đạo đức thay cho pháp trị trong việc cai trị quốc gia đã trở thành giấc mộng của giai cấp đại sĩ phu Trung Quốc. Đây là căn nguyên của bao nhiêu vấn đề tồn tại trong xã hội phong kiến, cũng là nguyên nhân quan trọng làm cho Trung Quốc từ sau đời Đường Tống trở nên lạc hậu. Trên ý nghĩa đó, chúng ta cần “trở lại Tư Mã Thiên”, tôn thờ kinh tế thị trường.
Thị trường bị biến dạng cho nên không hoàn mỹ
GS Trương Duy Nghênh chỉ rõ: “Dĩ nhiên, trong thực tế, thị trường bao giờ cũng không hoàn mỹ mà luôn tồn tại vấn đề này vấn đề nọ. Nguyên nhân chính là ở chỗ môi trường pháp lý mà thị trường dựa vào đó để vận hành thường là không hoàn thiện, hiểu biết của con người có giới hạn, thị trường sẽ chịu sự can nhiễu của các lực lượng chống thị trường, nhất là sự can nhiễu từ các nhóm lợi ích và từ chính quyền.”
Nhân tố “môi trường pháp lý mà thị trường dựa vào đó để vận hành thường là không hoàn thiện” có ảnh hưởng rất rõ ràng đối sự vận hành của kinh tế thị trường. Thí dụ, nếu hiện tượng cân thiếu, hàng sai chủng loại mà không bị trừng phạt thì giao dịch thị trường sẽ không thể bảo đảm tạo ra giá trị cho đối phương. “Môi trường pháp lý thường xuyên không hoàn thiện” còn bao gồm mua tranh bán cướp, vơ vét hàng hóa... đều là hậu quả của sự phá hoại điều kiện tiền đề: giao dịch thị trường phải đem lại lợi ích cho cả hai bên giao dịch.
Chính quyền quấy nhiễu thị trường là nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất. Trên thực tế, sự can nhiễu của “môi trường pháp lý không hoàn thiện” và của các nhóm lợi ích đều có thể bao hàm trong sự can nhiễu của chính quyền, bởi lẽ “môi trường pháp lý không hoàn thiện” chính là kết quả công việc của chính quyền; nếu chính quyền hoàn thiện được môi trường pháp lý kinh tế thị trường thì các nhóm lợi ích không thể quấy nhiễu được.
Sau khi khẳng định “Không có chính quyền thì kinh tế không thể phát triển; bản thân chính quyền là một nhu cầu của thị trường”, GS Trương chỉ rõ “Nhưng vấn đề là ở chỗ biện pháp mà chính quyền kiếm được thu nhập thì khác với biện pháp của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp không tạo ra giá trị thì không thể có thu nhập, còn chính quyền thì dù không tạo ra giá trị nhưng vẫn có thu nhập qua biện pháp thu thuế.”
Đây là mấu chốt của vấn đề. GS Trương viết “Cái gọi là cạnh tranh không phải là nói một ngành nghề có nhiều doanh nghiệp, mà là nói chính quyền cho phép tự do làm ngành nghề đó.” Đúng vậy, khi một địa phương nào đấy chỉ có một cửa hàng mằn thắn, xem ra là không có cạnh tranh, nhưng ý nghĩ “người khác cũng có thể mở hiệu mằn thắn” lại là một sức ép cạnh tranh vô hình, nó khiến cho cửa hiệu kia khi nghĩ tới khả năng ấy phải ra sức làm cho cửa hiệu mình có thức ăn ngon, giá rẻ, chứ không được tùy tiện nâng giá vì lý do mình là cửa hiệu duy nhất. Lúc này, nếu chính quyền đặt ra trở ngại bên ngoài tiêu chuẩn mở cửa hiệu mằn thắn mới, thì sẽ xuất hiện không gian để tham nhũng.
Vụ sữa bẩn Tam Lộc là một bài học đau xót. Có người phê phán đó là do kinh tế thị trường để cho các doanh nghiệp theo đuổi lợi nhuận. Nhưng vì sao ở nhiều nước có cạnh tranh thị trường mạnh hơn Trung Quốc lại không có hiện tượng như vậy? Tam Lộc gây thiệt hại lớn cho người tiêu dùng, họ dựa vào cái gì để thành công trên thị trường? Đó chủ yếu là do thị trường Trung Quốc chưa chuẩn hóa.
Đặc biệt, một năm trước khi xảy ra vụ Tam Lộc, dưới sự dàn dựng của Bộ Khoa học kỹ thuật, sữa bột Tam Lộc được tặng “Giải tiến bộ KHKT nhà nước hạng nhì”, một giải thưởng rất cao. Với hào quang như thế, sữa Tam Lộc giành được thành công thị trường ở Trung Quốc.
Doanh nghiệp nhà nước là hình thức quan trọng để chính quyền can thiệp thị trường
GS Trương vạch ra: chính quyền can thiệp thị trường làm cho thị trường không phát triển tốt; lẽ ra việc chính quyền nên làm là bảo vệ quyền sở hữu tài sản, đẩy mạnh cạnh tranh. GS viết: bất cứ biện pháp nào hạn chế cạnh tranh đều chỉ có lợi cho một số ít người. Việc điều động bố trí tài nguyên chỉ có hai cách: hoặc theo thị trường, hoặc theo đặc quyền. Nếu không theo thị trường thì nhất định là theo đặc quyền. Bất cứ biện pháp nào cố ý hạn định giá cả, hạn chế cạnh tranh, cuối cùng chỉ có lợi cho một số ít người có đặc quyền.
Doanh nghiệp nhà nước là hình thức quan trọng để nhà nước can thiệp thị trường, kể cả nhiều đặc quyền miễn phí chiếm dùng tài nguyên nhà nước.
Mới đây Ủy ban Phát triển Cải cách Nhà nước nói: “Mùa đông năm nay việc cung ứng khí đốt chịu nhiều sức ép, Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc bị lỗ nặng.” Loại tiếng nói tạo dư luận cho một đợt tăng giá mới này lập tức bị quần chúng nhân dân phê bình. Họ nói: Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc rõ ràng là tập đoàn kiếm tiền nhiều nhất trên thế giới, nắm độc quyền vững chắc nhất, thế mà ngày nào cũng kêu lỗ, đó chẳng qua là họ muốn kiếm thêm lợi nhuận lấy từ nhân dân cả nước mà thôi.
Vài năm gần đây, một quan chức nhà nước tự khoe là “trung thần” gọi tập đoàn độc quyền ấy là “Con cả của nước Cộng hòa”. Vị này nói nếu không có “Ba Thùng Dầu” như Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc thì chẳng biết nền kinh tế quốc dân nước ta sẽ ra sao đây.
Chúng ta không thể không hỏi: Những mỏ dầu và nhà máy lọc dầu được xây dựng bằng vốn đầu tư lấy từ mấy chục năm tiền thuế của hơn 1 tỷ dân ta đã trở thành tài sản riêng của vị “Con cả nước Cộng hòa” ấy; mấy chục triệu km2 đất đai và vùng biển tài nguyên thiên nhiên của toàn dân hầu như được miễn phí giao cho vị “Con cả nước Cộng hòa” ấy bới tung lên, khai thác với hiệu suất cực thấp... vì sao họ không kiểm điểm trách nhiệm mà ngược lại còn huênh hoang không biết xấu hổ?
Tại các nước lớn trên thế giới, thuế suất đánh vào ngành khai thác dầu đều bằng khoảng mười mấy phần trăm giá dầu. Chỉ có ở Trung Quốc thuế suất loại thuế tài nguyên này chưa tới 1%. Như vậy chẳng phải là hầu như miễn phí giao tài nguyên thiên nhiên cho vị “Con cả nước Cộng hòa” ấy bới tung lên đó sao? Trong tình hình đó tổng giá trị thị trường của doanh nghiệp dầu khí độc quyền Trung Quốc xếp thứ nhất toàn cầu, lợi nhuận ngày một tăng, điều này có gì mà huênh hoang? Họ chẳng đem lại bao nhiêu lợi ích lớn cho đời sống nhân dân, sau này khi tài nguyên khô kiệt sẽ chỉ để lại sự bần cùng và ô nhiễm.
Chính là cái doanh nghiệp độc quyền hiệu suất cực thấp mà lợi nhuận cực cao ấy lại dăm ngày ba bận gây ra sự căng thẳng trong cung cấp dầu khí, không ngại gây thiệt hại cho các doanh nghiệp khác và thúc ép Bộ Tài chính thỉnh thoảng cấp cho họ những khoản “trợ cấp” khổng lồ.
Than ôi! Những vị “Con cả của nước Cộng hòa” có “giá trị thị trường đứng đầu toàn cầu” ấy có hiếu kính cha mẹ của mình – nhà nước – hay không? Có yêu mến hơn một tỷ “em trai em gái” của mình hay không?
Doanh nghiệp quốc doanh là hình thức quan trọng để chính quyền can thiệp thị trường, đặc biệt là các doanh nghiệp quốc doanh độc quyền. Nhân dân nước ta cần cù lao động mà không giàu lên được, tài nguyên nước ta bị khai thác với hiệu suất thấp như vậy – trong việc này các doanh nghiệp quốc doanh độc quyền phải chịu trách nhiệm chủ yếu.
Trong một bài báo của mình, ông Hứa Tiểu Niên [5] viết: Trải qua 30 năm cải cách mở cửa, chính quyền trở thành tập đoàn lợi ích đặc biệt trong thị trường. Quyền thế chuyển hóa thành lợi ích kinh tế; một thị trường như vậy nếu phát triển tiếp sẽ rất nguy hiểm – đây là con đường của Suharto ở Indonesia, của Marcos ở Philippines, con đường áp chế quyền lợi của dân chúng và quyền lợi của các doanh nghiệp, đi ngược lại phương hướng cải cách thị trường hóa của Đặng Tiểu Bình.
Đúng như GS Ngô Kính Liên [6] từng chỉ rõ: đặc điểm bản chất nhất của kinh tế thị trường là sự trao đổi tự do, tự chủ; nếu ở bên trên luôn luôn có sự khống chế của lực lượng hành chính, nếu chính phủ có thế mạnh lại hoạt động mạnh tới mức chủ đạo trình độ điều phối nguồn tài nguyên kinh tế, thế thì không gọi là kinh tế thị trường nữa mà gọi là chủ nghĩa tư bản thân quen [7] mất rồi!
Cần kiên quyết bảo vệ kinh tế thị trường
GS Trương Duy Nghênh viết tiếp: Vì sao phải bảo vệ kinh tế thị trường? Trước hết, kinh tế thị trường không được những kẻ đã giành được quyền lợi và tầng lớp đặc quyền ưa thích lắm. Kinh tế thị trường là chế độ bình đẳng nhất kể từ khi loài người có sử, nó tạo ra cơ hội cho mỗi người, nó từ chối đặc quyền. Nó có thể làm cho người nghèo trở thành giàu và làm cho người giàu trở thành nghèo. Cho nên kẻ có đặc quyền, hoặc kẻ thích đặc quyền, hoặc kẻ muốn qua đặc quyền mà thu được lợi ích đều không muốn chấp nhận sự thách thức của kinh tế thị trường, vì nền kinh tế đó xung đột với lợi ích của họ. Lịch sử cho thấy, lực lượng lớn nhất chống đối kinh tế thị trường chính là tầng lớp đặc quyền và những kẻ đã giành được quyền lợi.
GS Trương viết, kinh tế thị trường có một nhược điểm: khi bạn được hưởng mặt tốt của nó thì bạn có thể thấy nó toàn là khuyết điểm; khi bạn không có dịp hưởng mặt tốt của nó thì bạn lại chẳng thấy đâu là ưu điểm của nó. Nhất là khi do sự can thiệp không thích đáng của chính quyền hoặc của một cường quyền nào đó làm cho sự vận hành bình thường của kinh tế thị trường bị phá hoại, khiến cho nó thể hiện thành một loại kinh tế thị trường bệnh hoạn, khi ấy người ta thường hay tưởng rằng đó là khiếm khuyết bản thân của nó.
Như vậy, cảm giác sai lầm nói trên của mọi người sẽ rất dễ bị bọn theo chủ nghĩa cơ hội lợi dụng.
“Vì rất nhiều người chưa thể nhìn nhận một cách có lý trí các vấn đề xuất hiện trong xã hội, do đó đã tạo cơ hội cho những kẻ quen phỉnh phờ lấy lòng quần chúng. Bọn họ phê bình kinh tế thị trường, không phải vì họ nhất định cho rằng kinh tế thị trường không tốt mà là do họ biết rằng phê bình như thế sẽ được công chúng khen ngợi và ủng hộ. Số người ấy có thể là học giả, cũng có thể là các nhân vật chính trị.
Do nhu cầu chính trị, từ xưa tới nay bao giờ cũng có một số nhà chính trị nói xấu kinh tế thị trường, bởi lẽ họ biết rằng nếu đưa ra các khẩu hiệu và chính sách chống kinh tế thị trường thì họ sẽ được ca ngợi, giành được nhiều phiếu bầu. Các nhà chính trị thích hứa cho mọi người được ăn bữa trưa miễn phí, vì mọi người thích được ăn như thế, nhưng các nhà kinh tế thì lại bảo mọi người là trên thế giới này không bao giờ có bữa trưa miễn phí. Cho nên dù xưa hoặc nay, dù ở Trung Quốc hoặc nước ngoài bao giờ cũng có rất nhiều người phản đối lô-gic của kinh tế học, coi các nhà kinh tế là kẻ thù.”
Đúng vậy, việc các quan chức chính quyền tự giác hoặc không tự giác đổ lỗi cho kinh tế thị trường đã trở thành một hiện tượng phổ biến.
Vì thế chúng ta phải bảo vệ kinh tế thị trường!
Nguồn : tiasang.com.vn
Tìm kiếm
Thứ Ba, 28 tháng 12, 2010
Thứ Ba, 14 tháng 12, 2010
Viên ngọc quý và trái tim ấm áp
Những cống hiến thầm lặng suốt 15 năm qua của một người Hà Nội- PGS.TS.BS Nguyễn Quang Tuấn, Viện Tim mạch Việt Nam- đã góp phần làm thay đổi sâu sắc lĩnh vực Tim mạch can thiệp (TMCT) Việt Nam.
Một con người không nhàm chán
“Tôi biết mình đi qua cuộc đời này chỉ một lần. Vì vậy nếu cần thể hiện tình cảm của mình với ai đó, hoặc làm một điều tốt đẹp cho những người xung quanh, tôi xin làm ngay trong lúc này. Vì rằng tôi sẽ không quay lại cuộc đời này một lần nữa” (William Penn).
PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn đã lấy lời dẫn chân thành, tha thiết ấy để trải lòng mình với cuộc đời và người bệnh trong cuốn “Tự sự của trái tim” của anh- một cuốn sách phản ánh khá rõ con đường khoa học mà anh đang đi và những cảm nhận sâu sắc của trái tim anh với trái tim người bệnh. Nhưng dường ấy những tự sự của anh trong những trang viết cũng chưa đủ để hiểu về con người có sức hấp dẫn đặc biệt này.
Ít ai biết rằng PGS. Tuấn đến với nghề y lại xuất thân từ một học sinh giỏi quốc gia môn vật lý. Trận ốm khá nặng đã làm cậu học trò xuất sắc Nguyễn Quang Tuấn không thể đến Bungari dự kỳ thi Olympic Vật lý quốc tế năm 1983. Số phận đã khiến anh không đi theo lĩnh vực vật lý nguyên tử mà tìm đến con đường của y học.
Nhưng chỉ ít ngày trở thành tân sinh viên Đại học Y Hà Nội, anh nhận được lệnh nhập ngũ lên chiến trường biên giới phía Bắc. Sau 4 năm trận mạc, anh lính trẻ Nguyễn Quang Tuấn trở về giảng đường đại học với niềm háo hức và khát vọng tràn đầy về cuộc sống.
Rất nhanh chóng anh có được một trong những vị trí dẫn đầu thành tích học tập toàn khóa, giải nhất sinh viên thanh lịch Trường Đại học Y Hà Nội, là tín đồ của nhiếp ảnh. Khi bắt đầu đi lâm sàng tại bệnh viện, chứng kiến các bác sĩ tim mạch mang đến sự hồi sinh kỳ diệu cho những trái tim đang dần nguội lạnh đã cuốn hút anh. Và thế rồi cái duyên gắn bó chuyên ngành tim mạch bắt đầu từ đó.
Sự tinh tế trong tâm hồn và nguồn tri thức phong phú trong nhiều lĩnh vực đã khiến những báo cáo khoa học của anh không khô khan, đơn điệu mà có sức hút đặc biệt. Ngay cả khi những lời khuyên của Đức Đại lai Lạt ma cũng có thể biến hóa trong một bài báo cáo, đem đến sự kết hợp độc đáo giữa bằng chứng khoa học và tư duy triết học.
GS. Shigeru Saito, Chủ tịch Hội tim mạch Nhật Bản kể rằng, ấn tượng đầu tiên của ông với BS. Tuấn là một người còn khá trẻ, thanh tú, có phong thái nho nhã phương Đông đặc trưng và rất tự tin. Đó là lần đầu tiên ông nghe BS. Tuấn báo cáo khoa học tại Hồng Kông hoàn toàn bằng tiếng Pháp, giao lưu với mọi người đều bằng tiếng Pháp. Nhưng lần sau ông gặp lại anh ở một hội nghị khoa học quốc tế khác thì rất ngạc nhiên khi nghe BS. Tuấn tham gia báo cáo hoàn toàn bằng tiếng Anh rất nhuần nhuyễn. Mỗi lần đến Hà Nội làm việc, ông được hiểu rất nhiều về nền văn hóa nơi đây, về những con phố, về loài hoa sữa đặc trưng của mùa thu Hà Nội…từ một người con của Hà Nội - BS. Nguyễn Quang Tuấn.
Khi nói về người học trò xuất sắc của mình, GS. Phạm Gia Khải - Chủ tịch Hội tim mạch Việt Nam - đã dành cho anh một câu: “con người này quả thực là không nhàm chán”.
Phía sau ánh hào quang
Giải nhất nhân tài đất Việt năm 2010 lĩnh vực y tế về đề tài “Can thiệp động mạch vành qua đường ống thông” vinh danh PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn và TS. Phạm Mạnh Hùng, khẳng định trình độ làm chủ những kỹ thuật cao trong y tế của các bác sĩ Việt Nam. Giải thưởng là sự ghi nhận của xã hội, là sự động viên khích lệ. Nhưng ngay cả khi không có những giải thưởng đó thì hằng ngày những người bác sĩ như anh vẫn âm thầm làm việc và cống hiến. Bởi đối với họ công việc cũng tự nhiên như hơi thở, như nhịp đập của trái tim.
Vào ngày thứ hai của khoá học nội trú (năm 1994), GS. Phạm Gia Khải đưa BS. Tuấn đến một căn phòng tuềnh toàng của Viện tim mạch, có vài dụng cụ đơn giản, bảo đó là phòng thủ thuật can thiệp. Anh chia sẻ “Lúc bấy giờ tôi mới biết đến TMCT qua đọc sách nên khi đến phòng đó tôi chỉ thấy giống như một cái kho đựng đồ lặt vặt! Nhưng cũng ngay từ giây phút đó tôi cảm nhận được cơ hội tuyệt vời mà thầy Khải dành cho tôi, dù có thể lúc đó nhiều người cho là mạo hiểm vì không hiểu tôi sẽ làm gì để TMCT thực sự hiện diện ở nơi đây”.
GS. Khải kể rằng: “Năm 1995, tôi giới thiệu BS Nội trú Nguyễn Quang Tuấn sang học ở Pháp, đề tài là “Tim mạch học can thiệp”, một chuyên ngành lúc đó Việt Nam còn ở bước sơ khai, mà nhu cầu thì rất nhiều trong điều trị. Tôi được bạn đồng nghiệp ở Pháp cho biết ngoài những giờ làm việc rất hăng say ở phòng thông tim mạch, Tuấn còn tập luyện đều đặn, mỗi sáng chạy 5km và học võ Aikido”.
Sau khi đi du học tại Pháp, Mỹ, BS. Tuấn về nhận công tác tại Viện tim mạch Việt Nam. Anh ám ảnh mãi về ca can thiệp đầu tiên thất bại. Lúc ấy, trình độ kĩ thuật của Việt Nam còn non nớt, trang thiết bị y tế lạc hậu, đội ngũ bác sĩ chưa có nhiều kinh nghiệm, việc điều trị vẫn trông chờ vào may rủi. Thời điểm bắt đầu áp dụng phương pháp điều trị bằng can thiệp đã vấp phải nhiều rào cản. Chi phí trung bình cho mỗi ca can thiệp động mạch vành khoảng 2.000 USD, vào lúc đó là quá lớn đối với nhiều bệnh nhân (năm 1997). Nhiều người vẫn chưa tin tưởng vào khả năng của các bác sĩ Việt Nam và cũng chưa biết nhiều về phương pháp điều trị này. Sự xuất hiện của TMCT cũng không nhận được sự ủng hộ ngay của các đồng nghiệp khác trong nước. Nong động mạch vành bị tắc vì xơ vữa động mạch còn bị cho là quá xa vời, vì nhiều người cho rằng đó là bệnh của riêng các nước phát triển. Bởi thế, thời gian đầu, trung bình mỗi năm chỉ có 8-10 ca tới điều trị. Phải tới năm 1999, phương pháp này mới được ứng dụng rộng rãi.
Sự phát triển mạnh mẽ của TMCT đang thu hút rất nhiều bác sĩ trẻ. Nhưng đó là một công việc không kém phần nghiệt ngã. Hầu hết những bác sĩ làm can thiệp đều bị đứt gãy nhiễm sắc thể vì họ phải tiếp xúc trực tiếp với các tia phóng xạ trong lúc làm can thiệp. Nguy cơ ung thư, vô sinh hay sinh con dị tật là rất lớn. Đối với BS. Tuấn, mỗi lần vợ mang thai, anh vừa hạnh phúc vừa hồi hộp lo lắng, ngay cả khi siêu âm thai biết con đầy đủ chân tay nhưng vẫn chưa hết lo. GS. Khải là người hiểu hơn ai hết điều này, mỗi khi biết vợ anh sinh con, câu đầu tiên GS hỏi là “con cậu sinh ra bình thường chứ?”. Anh bảo nhìn hai đứa con lớn lên khỏe mạnh như những đứa trẻ khác anh như trút được gánh nặng âm thầm trong lòng.
Nơi tình yêu bất diệt
Là người hồi sinh rất nhiều những quả tim ngừng đập, tự tin cứu sống những nhân vật của quốc gia đại sự và là một trong số ít bác sĩ Việt Nam có trình độ chuyên môn ngang tầm với nhiều tên tuổi của lĩnh vực tim mạch thế giới…nhưng trớ trêu thay PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn lại bất lực trước bệnh tật của mẹ mình. Anh như chết lặng khi biết mẹ bị u não giai đoạn cuối! Cuộc sống đôi khi vẫn xảy ra những điều lạnh lùng, tàn nhẫn buộc con người ta phải dũng cảm đối mặt.
Anh nói rằng mình là “khúc ruột thứ 6” của mẹ trong gia đình có 8 anh chị em. Nhà đông con, mỗi đứa một tính nhưng ai cũng được nhận tình yêu thương vô bờ bến và sự bao dung, che chở của mẹ. Người phụ nữ đảm đang và sâu sắc đó không bao giờ đặt mục tiêu, nhiệm vụ nào cho các con nhưng từ bé anh đã cảm nhận sự kỳ vọng lớn lao của mẹ dành cho anh, thấu hiểu những hy sinh vất vả mà bà chịu đựng vì con. 17 tuổi, lần đầu tiên cậu học trò Nguyễn Quang Tuấn rời xa vòng tay mẹ, rời xa Hà Nội một mạch lên chiến trường biên giới phía Bắc. Sau 3 tháng huấn luyện xuất sắc anh lính tên lửa được thưởng mấy ngày phép về thăm nhà, cảm giác lâng lâng khoác trên vai ba lô nhẹ tênh, sải chân trên phố, hình ảnh mẹ với nụ cười đôn hậu và ánh mắt mừng vui nhưng loáng nước đứng đợi anh trước hiên nhà đã khắc sâu trong anh. Mỗi lần nhận được thư anh mẹ đều đọc đi đọc lại, nhiều đêm bà ngồi lặng lẽ một mình và âm thầm khóc vì nhớ thương con… Rồi anh trở thành bác sĩ, làm giảng viên đại học, đi Tây, đi Tàu triền miên nhưng mỗi khi trở về bên mẹ anh vẫn luôn cảm thấy mình bé nhỏ và cần được chở che.
Có câu chuyện kể rằng: Vào một ngày nắng ấm áp, một thiên sứ xuống trần gian dạo chơi. Ngài tìm thấy 3 kỷ vật đẹp đẽ nhất nơi trần thế và quyết định mang về thiên đàng, đó là những bông hoa hồng rực rỡ, nụ cười thơ ngây trong trẻo của cậu bé dành cho mẹ và tình yêu của người mẹ trào dâng như dòng nước từ một con sông đang chảy vào nôi và vào lòng cậu bé. Trước khi bước vào ngọ môn, thiên sứ kiểm tra lại những kỷ vật mang về thì nhận ra những đóa hồng đã héo, nụ cười của cậu bé cũng dần nhạt phai. Kỳ lạ thay chỉ có tình yêu của người mẹ là vẫn giữ được vẻ đẹp tinh khôi trong suốt chặng đường đến thiên đàng. Câu chuyện xúc động và đầy tính triết lý này khiến tôi tin rằng BS. Nguyễn Quang Tuấn vẫn luôn được mẹ dõi theo những bước đi của anh, bà sẽ mãn nguyện và thanh thản biết bao khi thấy con trai đạt nhiều hơn những thành công và vơi dần đi những trở trăn, phiền muộn…Dù rằng bà đã ở một nơi rất xa, nơi tình yêu bất diệt của những người mẹ được trân trọng cất giữ.
Theo : SK&DS
Một con người không nhàm chán
“Tôi biết mình đi qua cuộc đời này chỉ một lần. Vì vậy nếu cần thể hiện tình cảm của mình với ai đó, hoặc làm một điều tốt đẹp cho những người xung quanh, tôi xin làm ngay trong lúc này. Vì rằng tôi sẽ không quay lại cuộc đời này một lần nữa” (William Penn).
PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn đã lấy lời dẫn chân thành, tha thiết ấy để trải lòng mình với cuộc đời và người bệnh trong cuốn “Tự sự của trái tim” của anh- một cuốn sách phản ánh khá rõ con đường khoa học mà anh đang đi và những cảm nhận sâu sắc của trái tim anh với trái tim người bệnh. Nhưng dường ấy những tự sự của anh trong những trang viết cũng chưa đủ để hiểu về con người có sức hấp dẫn đặc biệt này.
Ít ai biết rằng PGS. Tuấn đến với nghề y lại xuất thân từ một học sinh giỏi quốc gia môn vật lý. Trận ốm khá nặng đã làm cậu học trò xuất sắc Nguyễn Quang Tuấn không thể đến Bungari dự kỳ thi Olympic Vật lý quốc tế năm 1983. Số phận đã khiến anh không đi theo lĩnh vực vật lý nguyên tử mà tìm đến con đường của y học.
Nhưng chỉ ít ngày trở thành tân sinh viên Đại học Y Hà Nội, anh nhận được lệnh nhập ngũ lên chiến trường biên giới phía Bắc. Sau 4 năm trận mạc, anh lính trẻ Nguyễn Quang Tuấn trở về giảng đường đại học với niềm háo hức và khát vọng tràn đầy về cuộc sống.
Rất nhanh chóng anh có được một trong những vị trí dẫn đầu thành tích học tập toàn khóa, giải nhất sinh viên thanh lịch Trường Đại học Y Hà Nội, là tín đồ của nhiếp ảnh. Khi bắt đầu đi lâm sàng tại bệnh viện, chứng kiến các bác sĩ tim mạch mang đến sự hồi sinh kỳ diệu cho những trái tim đang dần nguội lạnh đã cuốn hút anh. Và thế rồi cái duyên gắn bó chuyên ngành tim mạch bắt đầu từ đó.
Sự tinh tế trong tâm hồn và nguồn tri thức phong phú trong nhiều lĩnh vực đã khiến những báo cáo khoa học của anh không khô khan, đơn điệu mà có sức hút đặc biệt. Ngay cả khi những lời khuyên của Đức Đại lai Lạt ma cũng có thể biến hóa trong một bài báo cáo, đem đến sự kết hợp độc đáo giữa bằng chứng khoa học và tư duy triết học.
GS. Shigeru Saito, Chủ tịch Hội tim mạch Nhật Bản kể rằng, ấn tượng đầu tiên của ông với BS. Tuấn là một người còn khá trẻ, thanh tú, có phong thái nho nhã phương Đông đặc trưng và rất tự tin. Đó là lần đầu tiên ông nghe BS. Tuấn báo cáo khoa học tại Hồng Kông hoàn toàn bằng tiếng Pháp, giao lưu với mọi người đều bằng tiếng Pháp. Nhưng lần sau ông gặp lại anh ở một hội nghị khoa học quốc tế khác thì rất ngạc nhiên khi nghe BS. Tuấn tham gia báo cáo hoàn toàn bằng tiếng Anh rất nhuần nhuyễn. Mỗi lần đến Hà Nội làm việc, ông được hiểu rất nhiều về nền văn hóa nơi đây, về những con phố, về loài hoa sữa đặc trưng của mùa thu Hà Nội…từ một người con của Hà Nội - BS. Nguyễn Quang Tuấn.
Khi nói về người học trò xuất sắc của mình, GS. Phạm Gia Khải - Chủ tịch Hội tim mạch Việt Nam - đã dành cho anh một câu: “con người này quả thực là không nhàm chán”.
Phía sau ánh hào quang
Giải nhất nhân tài đất Việt năm 2010 lĩnh vực y tế về đề tài “Can thiệp động mạch vành qua đường ống thông” vinh danh PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn và TS. Phạm Mạnh Hùng, khẳng định trình độ làm chủ những kỹ thuật cao trong y tế của các bác sĩ Việt Nam. Giải thưởng là sự ghi nhận của xã hội, là sự động viên khích lệ. Nhưng ngay cả khi không có những giải thưởng đó thì hằng ngày những người bác sĩ như anh vẫn âm thầm làm việc và cống hiến. Bởi đối với họ công việc cũng tự nhiên như hơi thở, như nhịp đập của trái tim.
Vào ngày thứ hai của khoá học nội trú (năm 1994), GS. Phạm Gia Khải đưa BS. Tuấn đến một căn phòng tuềnh toàng của Viện tim mạch, có vài dụng cụ đơn giản, bảo đó là phòng thủ thuật can thiệp. Anh chia sẻ “Lúc bấy giờ tôi mới biết đến TMCT qua đọc sách nên khi đến phòng đó tôi chỉ thấy giống như một cái kho đựng đồ lặt vặt! Nhưng cũng ngay từ giây phút đó tôi cảm nhận được cơ hội tuyệt vời mà thầy Khải dành cho tôi, dù có thể lúc đó nhiều người cho là mạo hiểm vì không hiểu tôi sẽ làm gì để TMCT thực sự hiện diện ở nơi đây”.
GS. Khải kể rằng: “Năm 1995, tôi giới thiệu BS Nội trú Nguyễn Quang Tuấn sang học ở Pháp, đề tài là “Tim mạch học can thiệp”, một chuyên ngành lúc đó Việt Nam còn ở bước sơ khai, mà nhu cầu thì rất nhiều trong điều trị. Tôi được bạn đồng nghiệp ở Pháp cho biết ngoài những giờ làm việc rất hăng say ở phòng thông tim mạch, Tuấn còn tập luyện đều đặn, mỗi sáng chạy 5km và học võ Aikido”.
Sau khi đi du học tại Pháp, Mỹ, BS. Tuấn về nhận công tác tại Viện tim mạch Việt Nam. Anh ám ảnh mãi về ca can thiệp đầu tiên thất bại. Lúc ấy, trình độ kĩ thuật của Việt Nam còn non nớt, trang thiết bị y tế lạc hậu, đội ngũ bác sĩ chưa có nhiều kinh nghiệm, việc điều trị vẫn trông chờ vào may rủi. Thời điểm bắt đầu áp dụng phương pháp điều trị bằng can thiệp đã vấp phải nhiều rào cản. Chi phí trung bình cho mỗi ca can thiệp động mạch vành khoảng 2.000 USD, vào lúc đó là quá lớn đối với nhiều bệnh nhân (năm 1997). Nhiều người vẫn chưa tin tưởng vào khả năng của các bác sĩ Việt Nam và cũng chưa biết nhiều về phương pháp điều trị này. Sự xuất hiện của TMCT cũng không nhận được sự ủng hộ ngay của các đồng nghiệp khác trong nước. Nong động mạch vành bị tắc vì xơ vữa động mạch còn bị cho là quá xa vời, vì nhiều người cho rằng đó là bệnh của riêng các nước phát triển. Bởi thế, thời gian đầu, trung bình mỗi năm chỉ có 8-10 ca tới điều trị. Phải tới năm 1999, phương pháp này mới được ứng dụng rộng rãi.
Sự phát triển mạnh mẽ của TMCT đang thu hút rất nhiều bác sĩ trẻ. Nhưng đó là một công việc không kém phần nghiệt ngã. Hầu hết những bác sĩ làm can thiệp đều bị đứt gãy nhiễm sắc thể vì họ phải tiếp xúc trực tiếp với các tia phóng xạ trong lúc làm can thiệp. Nguy cơ ung thư, vô sinh hay sinh con dị tật là rất lớn. Đối với BS. Tuấn, mỗi lần vợ mang thai, anh vừa hạnh phúc vừa hồi hộp lo lắng, ngay cả khi siêu âm thai biết con đầy đủ chân tay nhưng vẫn chưa hết lo. GS. Khải là người hiểu hơn ai hết điều này, mỗi khi biết vợ anh sinh con, câu đầu tiên GS hỏi là “con cậu sinh ra bình thường chứ?”. Anh bảo nhìn hai đứa con lớn lên khỏe mạnh như những đứa trẻ khác anh như trút được gánh nặng âm thầm trong lòng.
Nơi tình yêu bất diệt
Là người hồi sinh rất nhiều những quả tim ngừng đập, tự tin cứu sống những nhân vật của quốc gia đại sự và là một trong số ít bác sĩ Việt Nam có trình độ chuyên môn ngang tầm với nhiều tên tuổi của lĩnh vực tim mạch thế giới…nhưng trớ trêu thay PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn lại bất lực trước bệnh tật của mẹ mình. Anh như chết lặng khi biết mẹ bị u não giai đoạn cuối! Cuộc sống đôi khi vẫn xảy ra những điều lạnh lùng, tàn nhẫn buộc con người ta phải dũng cảm đối mặt.
Anh nói rằng mình là “khúc ruột thứ 6” của mẹ trong gia đình có 8 anh chị em. Nhà đông con, mỗi đứa một tính nhưng ai cũng được nhận tình yêu thương vô bờ bến và sự bao dung, che chở của mẹ. Người phụ nữ đảm đang và sâu sắc đó không bao giờ đặt mục tiêu, nhiệm vụ nào cho các con nhưng từ bé anh đã cảm nhận sự kỳ vọng lớn lao của mẹ dành cho anh, thấu hiểu những hy sinh vất vả mà bà chịu đựng vì con. 17 tuổi, lần đầu tiên cậu học trò Nguyễn Quang Tuấn rời xa vòng tay mẹ, rời xa Hà Nội một mạch lên chiến trường biên giới phía Bắc. Sau 3 tháng huấn luyện xuất sắc anh lính tên lửa được thưởng mấy ngày phép về thăm nhà, cảm giác lâng lâng khoác trên vai ba lô nhẹ tênh, sải chân trên phố, hình ảnh mẹ với nụ cười đôn hậu và ánh mắt mừng vui nhưng loáng nước đứng đợi anh trước hiên nhà đã khắc sâu trong anh. Mỗi lần nhận được thư anh mẹ đều đọc đi đọc lại, nhiều đêm bà ngồi lặng lẽ một mình và âm thầm khóc vì nhớ thương con… Rồi anh trở thành bác sĩ, làm giảng viên đại học, đi Tây, đi Tàu triền miên nhưng mỗi khi trở về bên mẹ anh vẫn luôn cảm thấy mình bé nhỏ và cần được chở che.
Có câu chuyện kể rằng: Vào một ngày nắng ấm áp, một thiên sứ xuống trần gian dạo chơi. Ngài tìm thấy 3 kỷ vật đẹp đẽ nhất nơi trần thế và quyết định mang về thiên đàng, đó là những bông hoa hồng rực rỡ, nụ cười thơ ngây trong trẻo của cậu bé dành cho mẹ và tình yêu của người mẹ trào dâng như dòng nước từ một con sông đang chảy vào nôi và vào lòng cậu bé. Trước khi bước vào ngọ môn, thiên sứ kiểm tra lại những kỷ vật mang về thì nhận ra những đóa hồng đã héo, nụ cười của cậu bé cũng dần nhạt phai. Kỳ lạ thay chỉ có tình yêu của người mẹ là vẫn giữ được vẻ đẹp tinh khôi trong suốt chặng đường đến thiên đàng. Câu chuyện xúc động và đầy tính triết lý này khiến tôi tin rằng BS. Nguyễn Quang Tuấn vẫn luôn được mẹ dõi theo những bước đi của anh, bà sẽ mãn nguyện và thanh thản biết bao khi thấy con trai đạt nhiều hơn những thành công và vơi dần đi những trở trăn, phiền muộn…Dù rằng bà đã ở một nơi rất xa, nơi tình yêu bất diệt của những người mẹ được trân trọng cất giữ.
Theo : SK&DS
Thứ Sáu, 10 tháng 12, 2010
Gợi ý của đại học hàng đầu
1. Giáo dục đại học phải đào tạo công dân tốt
Vì sao nước Mỹ là siêu cường quốc? Trước hết Mỹ là một nước lớn giáo dục, hơn nữa là cường quốc giáo dục. Tỷ lệ học sinh nhập học giáo dục cao đẳng Mỹ hiện nay đã vượt trên 90%.
Trung Quốc chúng ta cũng là một nước lớn giáo dục; tỷ lệ học sinh nhập học giáo dục cao đẳng đã từ 1,4% năm 1978 tăng lên 23% hiện nay; tổng số sinh viên đã vượt quá 20 triệu, thứ nhất thế giới, nhưng chúng ta vẫn chưa phải là một cường quốc giáo dục.
Tư tưởng cơ bản của giáo dục Mỹ là đào tạo công dân tốt. Công dân được đào tạo tốt thì sẽ có người tài. Khẩu hiệu của ngành giáo dục Mỹ viết “Bảo đảm chất lượng giáo dục, bảo đảm giáo dục công bằng”.
Giáo dục phải đào tạo được công dân tốt cho xã hội. Tôi cảm thấy vấn đề làm thế nào để sinh viên đại học ngày nay trở thành công dân tốt là vấn đề rất quan trọng. Một nhà nghiên cứu sử từng nói, nền văn minh 5.000 năm của Trung Quốc rất vẻ vang, rất phong phú, nhưng thiếu một chữ “công”. Nền giáo dục truyền thống của chúng ta chú trọng trung và hiếu, trung là phải trung thành với vua, hiếu là phải hiếu thuận với cha mẹ; kết quả là “công đức” [1], cái không gian rất rộng này bị chúng ta bỏ qua mất.
Có người nói Thượng Hải sắp vượt Hồng Công. Đúng là xét về mặt xây dựng nhà cao tầng thì sẽ nhanh chóng vượt đấy, nhưng tố chất giáo dục thì sao? [2] Tố chất của công dân thế nào? Chúng ta còn phải đi một chặng đường rất dài để đạt được công đức. Điều quan trọng chính hiện nay là phải đào tạo công dân, đào tạo công dân tốt cho xã hội. Điều này nên trở thành nội dung quan trọng trong nội hàm văn hoá đại học.
2. Giáo dục đại học không thể thiếu được “Tình yêu lớn”
Tình yêu lớn là một điểm quan trọng trong nội hàm của văn hoá đại học. Xin nêu vài thí dụ sau đây để giới thiệu qua về chuyện các trường đại học hàng đầu yêu quý giảng viên và sinh viên như thế nào.
Ông Andrew Wiles, người Anh, năm 1985 được đề bạt là giáo sư chính thức của ĐH Princeton, nhưng 9 năm liền sau đó ông không viết một bài báo khoa học nào. Từ Hiệu trưởng cho tới Chủ nhiệm khoa đều không biết trong thời gian ấy ông làm gì và họ cũng chẳng để ý việc ông làm gì. Sau 9 năm trời, ông giải được bài toán khó 360 năm qua giới toán học thế giới chưa giải được – chứng minh được định lý lớn Fermat. Kết quả Andrew Wiles được tặng giải thưởng toán học cao nhất hiện nay – Giải Thành tựu đặc biệt Fields; cho tới nay ông là người duy nhất được trao giải thành tựu đặc biệt này. [3]
Giáo sư John Nash mắc bệnh tâm thần hơn 30 năm, nhưng sau khi ông mắc bệnh thì ĐH Princeton lại mời ông từ Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) về trường mình, bố trí phòng làm việc cho ông, đem lại tình thương yêu ấm áp cho ông. Đồng thời người nhà và bạn đồng nghiệp đều hết sức quan tâm giúp đỡ Nash. Ba chục năm sau, huyền thoại xuất hiện: John Nash khỏe mạnh trở lại và năm 1994 được tặng giải Nobel [Kinh tế]. Đây chính là sức thu hút của ĐH Princeton! Câu chuyện của giáo sư John Nash được viết thành tiểu thuyết “Một tâm hồn đẹp” [4] rồi dựng thành phim, phim này đã đoạt giải Oscar.
Cho nên đại học có đại sư rồi lại còn phải có tình yêu lớn. Trường đại học hàng đầu phải là nơi chỗ nào cũng thấy những tâm hồn đẹp. “Tâm hồn đẹp” là nội hàm văn hoá của ĐH Princeton! Nhà trường quan tâm đến thầy giáo của mình, tạo môi trường thoải mái cho thầy, để thầy tự do sáng tạo.
Còn có một giáo sư người Mỹ gốc Hoa là ông Dương Tổ Hựu, hiện là Hiệu trưởng một đại học nổi tiếng ở Mỹ. Trong năm đầu tiên nhậm chức Hiệu trưởng, ông đã hơn 100 lần mời cơm hơn 900 giáo sư. Ông vô cùng quan tâm mọi người, coi người tài là thứ quý giá nhất. Kết quả trong thời gian ông làm Hiệu trưởng, trường này đã có 5 giáo sư được tặng giải Nobel. Ông vẫn kiên trì lên lớp giảng dạy cho sinh viên và 13 năm liền hướng dẫn nghiên cứu sinh.
Tại Học viện Y khoa ĐH Harvard, tôi có gặp một vị giáo sư già làm phụ đạo cho sinh viên. Tôi hỏi ông phụ đạo bao nhiêu học trò, ông đáp hơn 160 người. Lúc đó quả thực tôi không dám tin vào con số ấy. Hơn nữa, điều càng làm tôi khó có thể tưởng tượng là ông nắm vững tình hình mọi mặt của từng sinh viên như trong lòng bàn tay. Vì thế mọi người gọi ông là “Chuẩn cha mẹ”. Đây là tình yêu thầy trò. Ba nghìn năm trước, một triết gia từng nói: “Đầu óc không phải là cái vật chứa đựng mà nên là bó đuốc được đốt cháy”.
3. Giáo dục đại học phải bồi dưỡng cho sinh viên quan niệm giá trị, quan niệm đạo đức, quan niệm tư duy, phương thức làm người và năng lực công tác xã hội
Vì sao ĐH Yale có thể đào tạo được nhiều lãnh tụ như thế cho nước Mỹ và cho thế giới?
Trường này có một quy chế yêu quý sinh viên, – cái này họ học được từ chế độ trọ học viện và chế độ thầy hướng dẫn của Anh Quốc. Hiệu trưởng ĐH Yale khiêm tốn nói, “Tất cả những người sau này trở thành Tổng thống đều là những sinh viên từng đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo các đoàn thể trong ký túc xá, dưới sự chỉ đạo của thầy hướng dẫn”.
Công tác xã hội cũng là một công việc học tập và rèn luyện quan trọng, là “giảng đường thứ hai” quan trọng! Các nhân vật kiểu Tổng thống, lãnh tụ đều được đào tạo từ các tổ chức này.
Một sinh viên tốt nghiệp ĐH Yale cho biết, nhà trường chẳng những bồi dưỡng cho anh những thứ có liên quan tới tri thức cụ thể, mà còn dạy cho anh giá trị quan, quan niệm đạo đức, cách làm người, thói quen suy nghĩ v.v... – những điều đó vô cùng quan trọng đối với cuộc đời anh. Tất cả những thứ ấy không phải là do một người nào dạy cho anh, mà là anh học được trong bầu không khí văn hoá tồn tại ở ĐH Yale. “Thế giới của chúng ta cần phải khác đi vì có sự tồn tại của bạn. Phấn đấu vì chân lý có nghĩa là tiếp thụ văn hoá tinh thần; tinh thần có thể làm cuộc sống con người trở nên phong phú”. Câu này chưa ai từng nói rõ cho sinh viên ĐH Yale, song tinh thần đó tràn trề trong bầu không khí khuôn viên nhà trường, vì thế nó thấm vào tới chỗ sâu kín nhất trong đầu óc mỗi sinh viên, sục sôi trong huyết quản của họ.
4. Nhiệm vụ của giáo dục đại học là phát huy thiên tài của sinh viên
ĐH Oxford có câu nói: “Thầy hướng dẫn có nhiệm vụ thổi lửa cho các học trò, cho tới khi ngọn đuốc trong lòng họ rực cháy”.
Trường Cao đẳng Sư phạm Paris đã không gọi là Học viện, lại cũng không gọi là đại học, mà chỉ gọi là trường học thôi, một cái tên chúng ta rất coi thường, thế mà họ giữ lại cái tên đó, không đồng ý thay đổi. Nhưng Cao đẳng Sư phạm Paris cũng là một đại học hàng đầu thế giới. Ông Hiệu trưởng trường này từng nói tại Bắc Kinh một câu như sau: “Nhiệm vụ của trường học là phát huy thiên tài của sinh viên”.
Trong Lễ kỷ niệm 350 năm ngày thành lập ĐH Harvard, vị Hiệu trưởng trường này nói: “Thứ Harvard đáng khoe nhất không phải là giành được bao nhiêu giải Nobel, đào tạo được bao nhiêu Tổng thống, mà là làm cho mỗi viên ngọc khi đã vào Harvard rồi thì đều tỏa sáng”. Trước hết, ông thừa nhận mỗi người vào Harvard đều là một viên ngọc (nguyên văn: cục vàng), ông có nhiệm vụ làm cho tất cả họ đều tỏa sáng. Ý tưởng tổ chức học tập của ĐH Oxford, Cambridge cũng đều nhằm khai thác phát huy tiềm năng của sinh viên, khích lệ tinh thần sáng tạo của mỗi người.
Chỉ cần ngòi lửa trong bộ não của mỗi người đều được cháy lên thì dù người ấy học đại học hay cao đẳng, họ đều có thể tỏa sáng. Những thí dụ như vậy ở đâu cũng có.
5. Chớ nên coi đào tạo người tài trình độ cao là mục tiêu duy nhất của giáo dục đại học
Các vị phụ huynh Trung Quốc chúng ta đều mong muốn con em mình có thể trở thành tiến sĩ. Chế độ nhân sự của ta cũng quy định lương của người có học vị tiến sĩ thì cao hơn người có học vị thạc sĩ.
Gần đây một vị bác sĩ bảo tôi, người làm việc ở bệnh viện nếu không có học vị tiến sĩ thì khó trụ nổi [5]. Cũng vậy, mới đây hai vị thầy thuốc đạo cao đức trọng nói cùng một câu thế này: “Rất lo sẽ có ngày chết trên bàn mổ của học trò mình!” (ý nói các bác sĩ ngoại khoa chỉ có bằng tiến sĩ mà không có kinh nghiệm lâm sàng).
Nhưng tại các bệnh viện ở Anh Quốc, người có học vị tiến sĩ chỉ chiếm khoảng 10% tổng số thầy thuốc. Học viện Y khoa Phân hiệu Los Angeles của ĐH California là y học viện hàng đầu thế giới, sinh viên tốt nghiệp đại học thi vào trường này cứ 5700 thí sinh chỉ có một người trúng tuyển (số liệu năm 2005). Trong 1.185 sinh viên hiện có tại học viện thì 700 người đặt mục tiêu là trở thành bác sĩ y khoa (M.D, tức Medical Doctor); 485 người đặt mục tiêu trở thành tiến sĩ nghiên cứu y học (Ph.D., tức Philosophic Doctor hoặc Doctor of Philosophy, gọi chung là tiến sĩ triết học). Cả hai đều là Doctor cả nhưng hàm nghĩa khác nhau, mục tiêu cũng khác nhau. [Trong tiếng Việt] M.D. dịch là bác sĩ, Ph.D. dịch là tiến sĩ; hai học vị này không có sự phân chia ai cao ai thấp, nhưng lương của bác sĩ nói chung cao hơn tiến sĩ.
Một bà y tá cấp cao hưởng lương cao hơn ông chồng mình có học vị tiến sĩ. Tại một bệnh viện trực thuộc Học viện Y thuộc Phân hiệu ĐH Los Angeles, số người có học vị tiến sĩ là 10 người, chưa bằng 10% tổng số thầy thuốc. Tại một bệnh viện thần kinh khác, số bác sĩ thần kinh là 183 người, số nhà tâm lý học (đều có học vị tiến sĩ) là 122 người nhưng hầu như chẳng có ai vừa là thầy thuốc là vừa là tiến sĩ.
Mỹ là quốc gia phát triển cao, trong số 3.688 trường viện đại học-cao đẳng có 60% là trường chuyên ngành và trường cộng đồng; còn các trường đại học kiểu nghiên cứu chỉ chiếm 3%. Nhưng tại Trung Quốc, số lượng đơn vị được phép cấp học vị tiến sĩ lại nhiều hơn cả nước Mỹ, tuy rằng số lượng trường đại học-cao đẳng chuyên ngành thì kém xa Mỹ. Đồng thời gần đây các trường đại học ở Trung Quốc không ngừng mở rộng tuyển sinh, ngày càng có nhiều bạn trẻ có cơ hội vào đại học. Thế nhưng rất nhiều vị phụ huynh coi thường các trường đại học-cao đẳng chuyên ngành. Chế độ thi đại học-cao đẳng của chúng ta cũng chưa hợp lý, đưa số thí sinh đạt điểm thi thấp vào các trường chuyên ngành.
Một điều đáng suy ngẫm sâu sắc là rất nhiều trường đại học-cao đẳng nước ta theo đuổi mục tiêu “nâng cấp” trường mình thành trường tổng hợp, dẫn đến tình trạng số lượng trường đại học-cao đẳng chuyên ngành ngày một giảm bớt!
Ngành giáo dục của chúng ta không thể chỉ theo đuổi sự biến đổi số lượng sinh viên đại học mà quan trọng hơn là phải luôn luôn nâng chất lượng cơ cấu giáo dục cao đẳng. Có thể ví trường đại học-cao đẳng chuyên ngành và trường tổng hợp như hai loại nhạc cụ trong cùng một dàn nhạc. Khi lập kế hoạch phát triển giáo dục đại học-cao đẳng, nên phối hợp phát triển hài hòa cả hai loại trường này.
(Còn tiếp)
Huy Đường lược dịch
Ghi chú của người dịch:
[1] Trong tiếng Trung, Công đức là đạo đức tồn tại trong quần thể xã hội rộng, phân biệt với Tư đức là đạo đức tồn tại trong quần thể nhỏ hoặc giữa các cá nhân.
[2] Các đại học ở Hồng Công đều được xếp hạng cao hơn các đại học ở Bắc Kinh và Thượng Hải.
[3] Ở đây có lẽ tác giả nhầm lẫn. Thực ra Andrew Wiles không được trao giải Fields vì đã quá giới hạn 40 tuổi (sinh 1953, chứng minh được định lý lớn Fermat năm 1994, khi ấy ông đã 41 tuổi). Ông được tặng Đĩa bạc (Silver Plaque) của International Mathematical Union (IMU) năm 1998; ngoài ra còn được tặng Notable awards Fermat Prize (1995), Wolf Prize (1995/6) và Royal Medal (1996).
[4] Tên bộ phim là "A Beautiful Mind", dịch sang tiếng Trung thành Một tâm hồn đẹp là không sát nghĩa.
[5] Những năm gần đây TQ phát sinh tệ nạn sính bằng cấp tiến sĩ. Các đại học đua nhau tuyển nghiên cứu sinh (NCS) và “lạm phát” cấp bằng tiến sĩ; nạn đạo văn, gian lận trong việc làm luận văn và cấp bằng tiến sĩ rất phổ biến. Một cựu hiệu phó ĐH Bắc Kinh từng nói 70% nữ NCS trường ông bị thầy hướng dẫn “xài” (quấy nhiễu tình dục).
Vì sao nước Mỹ là siêu cường quốc? Trước hết Mỹ là một nước lớn giáo dục, hơn nữa là cường quốc giáo dục. Tỷ lệ học sinh nhập học giáo dục cao đẳng Mỹ hiện nay đã vượt trên 90%.
Trung Quốc chúng ta cũng là một nước lớn giáo dục; tỷ lệ học sinh nhập học giáo dục cao đẳng đã từ 1,4% năm 1978 tăng lên 23% hiện nay; tổng số sinh viên đã vượt quá 20 triệu, thứ nhất thế giới, nhưng chúng ta vẫn chưa phải là một cường quốc giáo dục.
Tư tưởng cơ bản của giáo dục Mỹ là đào tạo công dân tốt. Công dân được đào tạo tốt thì sẽ có người tài. Khẩu hiệu của ngành giáo dục Mỹ viết “Bảo đảm chất lượng giáo dục, bảo đảm giáo dục công bằng”.
Giáo dục phải đào tạo được công dân tốt cho xã hội. Tôi cảm thấy vấn đề làm thế nào để sinh viên đại học ngày nay trở thành công dân tốt là vấn đề rất quan trọng. Một nhà nghiên cứu sử từng nói, nền văn minh 5.000 năm của Trung Quốc rất vẻ vang, rất phong phú, nhưng thiếu một chữ “công”. Nền giáo dục truyền thống của chúng ta chú trọng trung và hiếu, trung là phải trung thành với vua, hiếu là phải hiếu thuận với cha mẹ; kết quả là “công đức” [1], cái không gian rất rộng này bị chúng ta bỏ qua mất.
Có người nói Thượng Hải sắp vượt Hồng Công. Đúng là xét về mặt xây dựng nhà cao tầng thì sẽ nhanh chóng vượt đấy, nhưng tố chất giáo dục thì sao? [2] Tố chất của công dân thế nào? Chúng ta còn phải đi một chặng đường rất dài để đạt được công đức. Điều quan trọng chính hiện nay là phải đào tạo công dân, đào tạo công dân tốt cho xã hội. Điều này nên trở thành nội dung quan trọng trong nội hàm văn hoá đại học.
2. Giáo dục đại học không thể thiếu được “Tình yêu lớn”
Tình yêu lớn là một điểm quan trọng trong nội hàm của văn hoá đại học. Xin nêu vài thí dụ sau đây để giới thiệu qua về chuyện các trường đại học hàng đầu yêu quý giảng viên và sinh viên như thế nào.
Ông Andrew Wiles, người Anh, năm 1985 được đề bạt là giáo sư chính thức của ĐH Princeton, nhưng 9 năm liền sau đó ông không viết một bài báo khoa học nào. Từ Hiệu trưởng cho tới Chủ nhiệm khoa đều không biết trong thời gian ấy ông làm gì và họ cũng chẳng để ý việc ông làm gì. Sau 9 năm trời, ông giải được bài toán khó 360 năm qua giới toán học thế giới chưa giải được – chứng minh được định lý lớn Fermat. Kết quả Andrew Wiles được tặng giải thưởng toán học cao nhất hiện nay – Giải Thành tựu đặc biệt Fields; cho tới nay ông là người duy nhất được trao giải thành tựu đặc biệt này. [3]
Giáo sư John Nash mắc bệnh tâm thần hơn 30 năm, nhưng sau khi ông mắc bệnh thì ĐH Princeton lại mời ông từ Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) về trường mình, bố trí phòng làm việc cho ông, đem lại tình thương yêu ấm áp cho ông. Đồng thời người nhà và bạn đồng nghiệp đều hết sức quan tâm giúp đỡ Nash. Ba chục năm sau, huyền thoại xuất hiện: John Nash khỏe mạnh trở lại và năm 1994 được tặng giải Nobel [Kinh tế]. Đây chính là sức thu hút của ĐH Princeton! Câu chuyện của giáo sư John Nash được viết thành tiểu thuyết “Một tâm hồn đẹp” [4] rồi dựng thành phim, phim này đã đoạt giải Oscar.
Cho nên đại học có đại sư rồi lại còn phải có tình yêu lớn. Trường đại học hàng đầu phải là nơi chỗ nào cũng thấy những tâm hồn đẹp. “Tâm hồn đẹp” là nội hàm văn hoá của ĐH Princeton! Nhà trường quan tâm đến thầy giáo của mình, tạo môi trường thoải mái cho thầy, để thầy tự do sáng tạo.
Còn có một giáo sư người Mỹ gốc Hoa là ông Dương Tổ Hựu, hiện là Hiệu trưởng một đại học nổi tiếng ở Mỹ. Trong năm đầu tiên nhậm chức Hiệu trưởng, ông đã hơn 100 lần mời cơm hơn 900 giáo sư. Ông vô cùng quan tâm mọi người, coi người tài là thứ quý giá nhất. Kết quả trong thời gian ông làm Hiệu trưởng, trường này đã có 5 giáo sư được tặng giải Nobel. Ông vẫn kiên trì lên lớp giảng dạy cho sinh viên và 13 năm liền hướng dẫn nghiên cứu sinh.
Tại Học viện Y khoa ĐH Harvard, tôi có gặp một vị giáo sư già làm phụ đạo cho sinh viên. Tôi hỏi ông phụ đạo bao nhiêu học trò, ông đáp hơn 160 người. Lúc đó quả thực tôi không dám tin vào con số ấy. Hơn nữa, điều càng làm tôi khó có thể tưởng tượng là ông nắm vững tình hình mọi mặt của từng sinh viên như trong lòng bàn tay. Vì thế mọi người gọi ông là “Chuẩn cha mẹ”. Đây là tình yêu thầy trò. Ba nghìn năm trước, một triết gia từng nói: “Đầu óc không phải là cái vật chứa đựng mà nên là bó đuốc được đốt cháy”.
3. Giáo dục đại học phải bồi dưỡng cho sinh viên quan niệm giá trị, quan niệm đạo đức, quan niệm tư duy, phương thức làm người và năng lực công tác xã hội
Vì sao ĐH Yale có thể đào tạo được nhiều lãnh tụ như thế cho nước Mỹ và cho thế giới?
Trường này có một quy chế yêu quý sinh viên, – cái này họ học được từ chế độ trọ học viện và chế độ thầy hướng dẫn của Anh Quốc. Hiệu trưởng ĐH Yale khiêm tốn nói, “Tất cả những người sau này trở thành Tổng thống đều là những sinh viên từng đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo các đoàn thể trong ký túc xá, dưới sự chỉ đạo của thầy hướng dẫn”.
Công tác xã hội cũng là một công việc học tập và rèn luyện quan trọng, là “giảng đường thứ hai” quan trọng! Các nhân vật kiểu Tổng thống, lãnh tụ đều được đào tạo từ các tổ chức này.
Một sinh viên tốt nghiệp ĐH Yale cho biết, nhà trường chẳng những bồi dưỡng cho anh những thứ có liên quan tới tri thức cụ thể, mà còn dạy cho anh giá trị quan, quan niệm đạo đức, cách làm người, thói quen suy nghĩ v.v... – những điều đó vô cùng quan trọng đối với cuộc đời anh. Tất cả những thứ ấy không phải là do một người nào dạy cho anh, mà là anh học được trong bầu không khí văn hoá tồn tại ở ĐH Yale. “Thế giới của chúng ta cần phải khác đi vì có sự tồn tại của bạn. Phấn đấu vì chân lý có nghĩa là tiếp thụ văn hoá tinh thần; tinh thần có thể làm cuộc sống con người trở nên phong phú”. Câu này chưa ai từng nói rõ cho sinh viên ĐH Yale, song tinh thần đó tràn trề trong bầu không khí khuôn viên nhà trường, vì thế nó thấm vào tới chỗ sâu kín nhất trong đầu óc mỗi sinh viên, sục sôi trong huyết quản của họ.
4. Nhiệm vụ của giáo dục đại học là phát huy thiên tài của sinh viên
ĐH Oxford có câu nói: “Thầy hướng dẫn có nhiệm vụ thổi lửa cho các học trò, cho tới khi ngọn đuốc trong lòng họ rực cháy”.
Trường Cao đẳng Sư phạm Paris đã không gọi là Học viện, lại cũng không gọi là đại học, mà chỉ gọi là trường học thôi, một cái tên chúng ta rất coi thường, thế mà họ giữ lại cái tên đó, không đồng ý thay đổi. Nhưng Cao đẳng Sư phạm Paris cũng là một đại học hàng đầu thế giới. Ông Hiệu trưởng trường này từng nói tại Bắc Kinh một câu như sau: “Nhiệm vụ của trường học là phát huy thiên tài của sinh viên”.
Trong Lễ kỷ niệm 350 năm ngày thành lập ĐH Harvard, vị Hiệu trưởng trường này nói: “Thứ Harvard đáng khoe nhất không phải là giành được bao nhiêu giải Nobel, đào tạo được bao nhiêu Tổng thống, mà là làm cho mỗi viên ngọc khi đã vào Harvard rồi thì đều tỏa sáng”. Trước hết, ông thừa nhận mỗi người vào Harvard đều là một viên ngọc (nguyên văn: cục vàng), ông có nhiệm vụ làm cho tất cả họ đều tỏa sáng. Ý tưởng tổ chức học tập của ĐH Oxford, Cambridge cũng đều nhằm khai thác phát huy tiềm năng của sinh viên, khích lệ tinh thần sáng tạo của mỗi người.
Chỉ cần ngòi lửa trong bộ não của mỗi người đều được cháy lên thì dù người ấy học đại học hay cao đẳng, họ đều có thể tỏa sáng. Những thí dụ như vậy ở đâu cũng có.
5. Chớ nên coi đào tạo người tài trình độ cao là mục tiêu duy nhất của giáo dục đại học
Các vị phụ huynh Trung Quốc chúng ta đều mong muốn con em mình có thể trở thành tiến sĩ. Chế độ nhân sự của ta cũng quy định lương của người có học vị tiến sĩ thì cao hơn người có học vị thạc sĩ.
Gần đây một vị bác sĩ bảo tôi, người làm việc ở bệnh viện nếu không có học vị tiến sĩ thì khó trụ nổi [5]. Cũng vậy, mới đây hai vị thầy thuốc đạo cao đức trọng nói cùng một câu thế này: “Rất lo sẽ có ngày chết trên bàn mổ của học trò mình!” (ý nói các bác sĩ ngoại khoa chỉ có bằng tiến sĩ mà không có kinh nghiệm lâm sàng).
Nhưng tại các bệnh viện ở Anh Quốc, người có học vị tiến sĩ chỉ chiếm khoảng 10% tổng số thầy thuốc. Học viện Y khoa Phân hiệu Los Angeles của ĐH California là y học viện hàng đầu thế giới, sinh viên tốt nghiệp đại học thi vào trường này cứ 5700 thí sinh chỉ có một người trúng tuyển (số liệu năm 2005). Trong 1.185 sinh viên hiện có tại học viện thì 700 người đặt mục tiêu là trở thành bác sĩ y khoa (M.D, tức Medical Doctor); 485 người đặt mục tiêu trở thành tiến sĩ nghiên cứu y học (Ph.D., tức Philosophic Doctor hoặc Doctor of Philosophy, gọi chung là tiến sĩ triết học). Cả hai đều là Doctor cả nhưng hàm nghĩa khác nhau, mục tiêu cũng khác nhau. [Trong tiếng Việt] M.D. dịch là bác sĩ, Ph.D. dịch là tiến sĩ; hai học vị này không có sự phân chia ai cao ai thấp, nhưng lương của bác sĩ nói chung cao hơn tiến sĩ.
Một bà y tá cấp cao hưởng lương cao hơn ông chồng mình có học vị tiến sĩ. Tại một bệnh viện trực thuộc Học viện Y thuộc Phân hiệu ĐH Los Angeles, số người có học vị tiến sĩ là 10 người, chưa bằng 10% tổng số thầy thuốc. Tại một bệnh viện thần kinh khác, số bác sĩ thần kinh là 183 người, số nhà tâm lý học (đều có học vị tiến sĩ) là 122 người nhưng hầu như chẳng có ai vừa là thầy thuốc là vừa là tiến sĩ.
Mỹ là quốc gia phát triển cao, trong số 3.688 trường viện đại học-cao đẳng có 60% là trường chuyên ngành và trường cộng đồng; còn các trường đại học kiểu nghiên cứu chỉ chiếm 3%. Nhưng tại Trung Quốc, số lượng đơn vị được phép cấp học vị tiến sĩ lại nhiều hơn cả nước Mỹ, tuy rằng số lượng trường đại học-cao đẳng chuyên ngành thì kém xa Mỹ. Đồng thời gần đây các trường đại học ở Trung Quốc không ngừng mở rộng tuyển sinh, ngày càng có nhiều bạn trẻ có cơ hội vào đại học. Thế nhưng rất nhiều vị phụ huynh coi thường các trường đại học-cao đẳng chuyên ngành. Chế độ thi đại học-cao đẳng của chúng ta cũng chưa hợp lý, đưa số thí sinh đạt điểm thi thấp vào các trường chuyên ngành.
Một điều đáng suy ngẫm sâu sắc là rất nhiều trường đại học-cao đẳng nước ta theo đuổi mục tiêu “nâng cấp” trường mình thành trường tổng hợp, dẫn đến tình trạng số lượng trường đại học-cao đẳng chuyên ngành ngày một giảm bớt!
Ngành giáo dục của chúng ta không thể chỉ theo đuổi sự biến đổi số lượng sinh viên đại học mà quan trọng hơn là phải luôn luôn nâng chất lượng cơ cấu giáo dục cao đẳng. Có thể ví trường đại học-cao đẳng chuyên ngành và trường tổng hợp như hai loại nhạc cụ trong cùng một dàn nhạc. Khi lập kế hoạch phát triển giáo dục đại học-cao đẳng, nên phối hợp phát triển hài hòa cả hai loại trường này.
(Còn tiếp)
Huy Đường lược dịch
Ghi chú của người dịch:
[1] Trong tiếng Trung, Công đức là đạo đức tồn tại trong quần thể xã hội rộng, phân biệt với Tư đức là đạo đức tồn tại trong quần thể nhỏ hoặc giữa các cá nhân.
[2] Các đại học ở Hồng Công đều được xếp hạng cao hơn các đại học ở Bắc Kinh và Thượng Hải.
[3] Ở đây có lẽ tác giả nhầm lẫn. Thực ra Andrew Wiles không được trao giải Fields vì đã quá giới hạn 40 tuổi (sinh 1953, chứng minh được định lý lớn Fermat năm 1994, khi ấy ông đã 41 tuổi). Ông được tặng Đĩa bạc (Silver Plaque) của International Mathematical Union (IMU) năm 1998; ngoài ra còn được tặng Notable awards Fermat Prize (1995), Wolf Prize (1995/6) và Royal Medal (1996).
[4] Tên bộ phim là "A Beautiful Mind", dịch sang tiếng Trung thành Một tâm hồn đẹp là không sát nghĩa.
[5] Những năm gần đây TQ phát sinh tệ nạn sính bằng cấp tiến sĩ. Các đại học đua nhau tuyển nghiên cứu sinh (NCS) và “lạm phát” cấp bằng tiến sĩ; nạn đạo văn, gian lận trong việc làm luận văn và cấp bằng tiến sĩ rất phổ biến. Một cựu hiệu phó ĐH Bắc Kinh từng nói 70% nữ NCS trường ông bị thầy hướng dẫn “xài” (quấy nhiễu tình dục).
Thứ Năm, 9 tháng 12, 2010
Ngồi trên núi vàng, sao Việt Nam vẫn nghèo?
Nhìn về Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu và người dân quốc đảo Singapore thường đặt câu hỏi, tại sao Việt Nam ngồi trên nhiều núi vàng mà vẫn nghèo?
Đó là câu hỏi mà Ts Vũ Minh Khương, giảng viên trường Đại học Quốc gia Singapore thường xuyên nhận được từ đồng nghiệp hay những người dân Singapore mà ông có dịp tiếp xúc.
Họ so sánh: Singapore chỉ cần một cảng biển, một đảo Sentosa cũng có thể làm nên sự thịnh vượng giàu có, vậy mà trên khắp Việt Nam này, có bao nhiêu những Phú Quốc, Hạ Long, bao nhiêu Vân Phong.... mà vẫn không cách gì khai thác được. Việt Nam vẫn bị xếp vào hàng các quốc gia phát triển trung bình thấp và năng lực cạnh tranh thấp ngay cả so với các quốc gia láng giềng ít tiềm năng hơn.
Thực tế như một sự thách đố sự hiểu biết của người Singapore lại không quá khó hiểu với những người có chút kinh nghiệm làm việc ở xứ này. Người ta có thể tìm thấy lời giải đáp từ bất kì một quan sát nhỏ nào trong nền kinh tế đất nước.
Triệt tiêu sức cạnh tranh của chính mình
Nhìn vào thực tế phát triển ở Việt Nam, TS Vũ Minh Khương cho rằng, vấn đề của Việt Nam không phải ở chỗ chúng ta không có tiềm năng mà có lẽ vì chúng ta có nhiều tiềm năng quá, những nguồn lực xung đột, mà lại không biết lựa chọn chính xác hướng đi nào cho mình.
Giống như người ta được trời phú cho nhan sắc, lại có thông minh cộng tài năng âm nhạc, lại thêm vẽ tranh... nhưng lại không biết mình thực sự muốn gì, muốn phát triển theo hướng nào. Thôi thì, lúc này đi làm nghiên cứu khoa học, lúc khác chơi một chút nhạc, lúc khác nữa làm hội họa...., tận dụng mỗi thứ một chút, để rồi không thành ông, cũng chẳng thành thằng.
Đơn cử, tỉnh Quảng Ninh đã được trời phú một vịnh Hạ Long lại được trao thêm trữ lượng than dồi dào. Bỏ cái gì cũng tiếc, rút cuộc, chúng ta khai thác hết, nhưng đầu tư vào lĩnh vực nào cũng nửa vời. Khai thác than tàn phá môi trường Quảng Ninh, gây hại cho việc làm giàu từ Vịnh Hạ Long.
Quảng Ninh đã giàu tài nguyên than
Cách làm du lịch, trong khi đó, lại mới dừng ở mức "thu bạc lẻ", lo thu hút cho đông khách, mà quên mất, vấn đề không phải ở việc thu hút thêm được bao nhiêu khách, mà là mỗi ngày, du khách sẽ tiêu bao nhiêu tiền. "Người ta chỉ tiêu dùng nhiều khi Việt Nam có sẵn nhiều hoạt động chất lượng cao, dịch vụ tốt, nhiều sản phẩm hay để họ mua", chuyên gia về năng lực cạnh tranh, GS Michael Porter phân tích. Thế nhưng, đó lại là điều Việt Nam hoàn toàn thiếu sự đầu tư.
lại có thêm Vịnh Hạ Long.
Câu chuyện Quảng Ninh không phải là ngoại lệ ở Việt Nam. Đến ngay cả các tỉnh đồng bằng sông Hồng bây giờ cũng ngồi lo suy tính làm thế nào để khai thác được bể than sông Hồng nằm ngay dưới vựa lúa, điều nhiều nơi khác thèm được sở hữu trong bối cảnh an ninh lương thực đang là mối nguy, mà không cân nhắc hết thiệt hơn, mạnh yếu.
Định hướng bởi cách nghĩ làm thế nào để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, tỉ trọng công nghiệp lớn cho cái gọi là "nền kinh tế GDP tỉnh", các địa phương mải mê vận động để xin được nhiều tiền ngân sách, thêm được nhiều vốn đầu tư vào tỉnh, có được các dự án... nhưng lại chưa suy tính xem thực sự mình mạnh gì và nên phát triển theo hướng nào.
Các quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển của các tỉnh thành là một sự sao chép lẫn nhau, không dựa trên đặc thù riêng của địa phương mình, cả về lợi thế và vị trí riêng. Thế mạnh địa phương không được phát huy, trong khi đó, "bạn không thể ra sức để trở thành mọi thứ", GS Michael Porter đã đúc kết quy luật chung trong phát triển như vậy.
Và triệt tiêu sức cạnh tranh lẫn nhau
Không chỉ triệt tiêu sức cạnh tranh của chính mình, các địa phương còn khai thác tiềm năng theo kiểu triệt tiêu sức cạnh tranh lẫn nhau, khi chính sách phát triển của các địa phương không được đặt trong mối liên kết với các địa phương khác trong vùng và trong tổng thể phát triển chung của đất nước.
Hãy nhìn câu chuyện phát triển cảng biển Việt Nam. Dọc bờ biển Việt Nam chi chít những dự án cảng biển, tỉnh nào cũng muốn sở hữu cảng biển của riêng mình. 10 năm tới, Việt Nam có kế hoạch phát triển 39 cảng biển với 108 bến được xây dựng mới và nâng cấp, trong đó 32 cảng biển có kế hoạch xây dựng mới.
Chúng ta quên mất một điều: năng lực cạnh tranh chỉ tốt khi doanh nghiệp được sử dụng cảng biển với chi phí thấp nhất, bất kể cảng đó thuộc tỉnh nào. Càng nhiều cảng phân tán, lượng hàng càng bị chia sẻ manh mún, hiệu quả khai thác cảng càng giảm, và chi phí tất yếu tăng lên.
Chúng ta cũng quên mất rằng, ở Mỹ, dọc bờ biển phía Tây dài 1900km cũng chỉ có 3 cảng chính.
Và ta cũng quên hẳn bài học của Malaysia trong phát triển cảng biển. Trước năm 1970 chỉ có 2 cảng chính, sau đó Chính phủ quyết định mở rộng thêm 4 cảng quốc gia và 3 cảng nội địa, điều đó dẫn tới tình trạng dư thừa năng lực và cạnh tranh gay gắt giữa các cảng. Sự cạnh tranh lẫn nhau của các cảng biển làm triệt tiêu năng lực cạnh tranh chung của đất nước, khiến Malaysia rơi vào thế bất lợi.
Dọc bờ biển phía Tây dài 1900km của Mỹ cũng chỉ có 3 cảng chính trong khi 10 năm tới, Việt Nam định phát triển thêm 39 cảng biển.
Không thể phủ nhận, là quốc gia có đường bờ biển dài, ở vị trí địa chiến lược, Việt Nam có lợi thế để làm trung tâm trung chuyển quốc tế. Không phải ngẫu nhiên mà hàng loạt những sáng kiến về kết nối giao thông khu vực đều tính đến Việt Nam như cửa ngõ ra biển. Thế nhưng, tận dụng thế nào điều kiện ấy là câu chuyện Việt Nam cần bàn.
Có một thời, tỉnh nào cũng đua nhau có nhà máy mía đường, xi măng lò đứng, thì nay, cùng với cuộc đua có cho được nhà máy thép..., tỉnh nào cũng lo có cho được cảng biển riêng..., mà cảng nào cũng nhỏ, lại thiếu các điều kiện đi kèm.
Hiện Việt Nam không có cảng container trung chuyển quốc tế. Ta có một số hải cảng quốc tế như Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải Phòng đón nhận được các tàu lớn, song dịch vụ của các cảng này chưa đáp ứng yêu cầu, chi phí dịch vụ cao, thời gian thông quan lâu (từ 3 đến 7 ngày, có khi lên tới 1 tháng trong khi ở Singapore là 10 phút.) Hệ thống đường sắt, đường bộ kết nối liên tuyến với hệ thống cảng không được đầu tư. Các điều kiện hậu cần cho cảng hoàn toàn bỏ ngỏ. Cơ sở hạ tầng không theo kịp tốc độ tăng trưởng xuất khẩu.
Có một ví dụ thường được các chuyên gia dẫn chứng như một minh họa sinh động cho những ràng buộc về lợi ích cục bộ, địa phương gây cản ngại cho một chiến lược đầu tư sáng suốt trong câu chuyện cảng biển. Hiện tại, cảng Cái Mép - Thị Vải của Vũng Tàu đã được một số tàu mẹ các nước đến ăn hàng. Xét về mọi mặt, đây là cảng biển có nhiều lợi thế hơn cả để phát triển thành cảng trung chuyển quốc tế.
Thế nhưng, Tp.HCM và Long An cũng đòi đầu tư để cảng của mình thành trung chuyển quốc tế! Trong khi nguồn lực đầu tư của đất nước vào cơ sở hạ tầng vốn đang vô cùng khan hiếm.
Câu chuyện thu hút đầu tư nước ngoài của các tỉnh cũng là một ví dụ khác. Mặc dù đã có quy định về khuyến khích và ưu đãi đầu tư, thế nhưng, thực tế, các địa phương vẫn làm theo kiểu "mạnh ai nấy làm". Ngoài các chính sách thu hút đầu tư của nhà nước, nhiều tỉnh đã phá rào, đưa thêm nhiều quy định khuyến khích đầu tư, từ ưu đãi đầu tư, miễn giảm thuế và giảm tiền thuê đất.
Cuộc khảo sát do Bộ Tài chính tiến hành năm 2006 tại 48 tỉnh, thành phố cho thấy có tới 32 tỉnh (chiếm 2/3) ban hành thêm các văn bản pháp lý trái luật nhằm quy định các ưu đãi đặc biệt để thu hút các dự án đầu tư. Theo khảo sát này, có 18 tỉnh vi phạm các quy định về ngân sách, 21 tỉnh đưa ra những ưu đãi về đất đai nằm ngoài những quy định của chính sách đất đai quốc gia, 11 tỉnh vi phạm quy định về thuế thu nhập DN và nhiều tỉnh có nhiều hơn 2 vi phạm. Hầu hết các tỉnh đưa ra các khuyến khích rất hào phóng về phí sử dụng đất, mở rộng thời kì miễn giảm thuế lên tới 10-20 năm.
Rút cuộc, cuộc đua của các tỉnh không mang lại lợi ích chung cho cả nền kinh tế. Quy hoạch tổng thể bị xới tung, cày nát. Đến nỗi có chuyên gia đã phải kêu lên rằng: cuộc đua thu hút FDI giữa các tỉnh chẳng khác nào cuộc "chạy đua xuống đáy", khi các tỉnh hoặc là cùng chạy, hoặc là cùng chờ.
Nói như TS Vũ Minh Khương, ĐHQG Singapore, cách làm này tạo nên sự phát đạt cho một vài người nhưng lại gây hại cho sự phát triển chung của đất nước.
Vừa cạnh tranh, vừa hợp tác
"Thay vì cạnh tranh, cần khuyến khích sự phối hợp và hợp tác giữa các địa phương, các ngành", GS Michael Porter khuyến nghị. "Các vùng và địa phương cần được khuyến khích nâng cao năng lực cạnh tranh của mình dựa trên những lợi thế và vị trí đặc thù của địa phương".
Nhìn tổng thể quốc gia, đã tới lúc Việt Nam cần nghiêm túc thảo luận xem mình muốn đứng ở vị trí nào trong nền kinh tế toàn cầu, đâu là những ngành, lĩnh vực và thế mạnh về môi trường kinh doanh của Việt Nam mà thế giới sẽ biết tới.
Vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, đó là mục tiêu mà Việt Nam cần hướng tới, nếu muốn thực sự định vị mình ở một vị trí cao hơn trong xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu.
TG: Phương Loan
Theo .Tuần Việt Nam
Đó là câu hỏi mà Ts Vũ Minh Khương, giảng viên trường Đại học Quốc gia Singapore thường xuyên nhận được từ đồng nghiệp hay những người dân Singapore mà ông có dịp tiếp xúc.
Họ so sánh: Singapore chỉ cần một cảng biển, một đảo Sentosa cũng có thể làm nên sự thịnh vượng giàu có, vậy mà trên khắp Việt Nam này, có bao nhiêu những Phú Quốc, Hạ Long, bao nhiêu Vân Phong.... mà vẫn không cách gì khai thác được. Việt Nam vẫn bị xếp vào hàng các quốc gia phát triển trung bình thấp và năng lực cạnh tranh thấp ngay cả so với các quốc gia láng giềng ít tiềm năng hơn.
Thực tế như một sự thách đố sự hiểu biết của người Singapore lại không quá khó hiểu với những người có chút kinh nghiệm làm việc ở xứ này. Người ta có thể tìm thấy lời giải đáp từ bất kì một quan sát nhỏ nào trong nền kinh tế đất nước.
Triệt tiêu sức cạnh tranh của chính mình
Nhìn vào thực tế phát triển ở Việt Nam, TS Vũ Minh Khương cho rằng, vấn đề của Việt Nam không phải ở chỗ chúng ta không có tiềm năng mà có lẽ vì chúng ta có nhiều tiềm năng quá, những nguồn lực xung đột, mà lại không biết lựa chọn chính xác hướng đi nào cho mình.
Giống như người ta được trời phú cho nhan sắc, lại có thông minh cộng tài năng âm nhạc, lại thêm vẽ tranh... nhưng lại không biết mình thực sự muốn gì, muốn phát triển theo hướng nào. Thôi thì, lúc này đi làm nghiên cứu khoa học, lúc khác chơi một chút nhạc, lúc khác nữa làm hội họa...., tận dụng mỗi thứ một chút, để rồi không thành ông, cũng chẳng thành thằng.
Đơn cử, tỉnh Quảng Ninh đã được trời phú một vịnh Hạ Long lại được trao thêm trữ lượng than dồi dào. Bỏ cái gì cũng tiếc, rút cuộc, chúng ta khai thác hết, nhưng đầu tư vào lĩnh vực nào cũng nửa vời. Khai thác than tàn phá môi trường Quảng Ninh, gây hại cho việc làm giàu từ Vịnh Hạ Long.
Quảng Ninh đã giàu tài nguyên than
Cách làm du lịch, trong khi đó, lại mới dừng ở mức "thu bạc lẻ", lo thu hút cho đông khách, mà quên mất, vấn đề không phải ở việc thu hút thêm được bao nhiêu khách, mà là mỗi ngày, du khách sẽ tiêu bao nhiêu tiền. "Người ta chỉ tiêu dùng nhiều khi Việt Nam có sẵn nhiều hoạt động chất lượng cao, dịch vụ tốt, nhiều sản phẩm hay để họ mua", chuyên gia về năng lực cạnh tranh, GS Michael Porter phân tích. Thế nhưng, đó lại là điều Việt Nam hoàn toàn thiếu sự đầu tư.
lại có thêm Vịnh Hạ Long.
Câu chuyện Quảng Ninh không phải là ngoại lệ ở Việt Nam. Đến ngay cả các tỉnh đồng bằng sông Hồng bây giờ cũng ngồi lo suy tính làm thế nào để khai thác được bể than sông Hồng nằm ngay dưới vựa lúa, điều nhiều nơi khác thèm được sở hữu trong bối cảnh an ninh lương thực đang là mối nguy, mà không cân nhắc hết thiệt hơn, mạnh yếu.
Định hướng bởi cách nghĩ làm thế nào để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, tỉ trọng công nghiệp lớn cho cái gọi là "nền kinh tế GDP tỉnh", các địa phương mải mê vận động để xin được nhiều tiền ngân sách, thêm được nhiều vốn đầu tư vào tỉnh, có được các dự án... nhưng lại chưa suy tính xem thực sự mình mạnh gì và nên phát triển theo hướng nào.
Các quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển của các tỉnh thành là một sự sao chép lẫn nhau, không dựa trên đặc thù riêng của địa phương mình, cả về lợi thế và vị trí riêng. Thế mạnh địa phương không được phát huy, trong khi đó, "bạn không thể ra sức để trở thành mọi thứ", GS Michael Porter đã đúc kết quy luật chung trong phát triển như vậy.
Và triệt tiêu sức cạnh tranh lẫn nhau
Không chỉ triệt tiêu sức cạnh tranh của chính mình, các địa phương còn khai thác tiềm năng theo kiểu triệt tiêu sức cạnh tranh lẫn nhau, khi chính sách phát triển của các địa phương không được đặt trong mối liên kết với các địa phương khác trong vùng và trong tổng thể phát triển chung của đất nước.
Hãy nhìn câu chuyện phát triển cảng biển Việt Nam. Dọc bờ biển Việt Nam chi chít những dự án cảng biển, tỉnh nào cũng muốn sở hữu cảng biển của riêng mình. 10 năm tới, Việt Nam có kế hoạch phát triển 39 cảng biển với 108 bến được xây dựng mới và nâng cấp, trong đó 32 cảng biển có kế hoạch xây dựng mới.
Chúng ta quên mất một điều: năng lực cạnh tranh chỉ tốt khi doanh nghiệp được sử dụng cảng biển với chi phí thấp nhất, bất kể cảng đó thuộc tỉnh nào. Càng nhiều cảng phân tán, lượng hàng càng bị chia sẻ manh mún, hiệu quả khai thác cảng càng giảm, và chi phí tất yếu tăng lên.
Chúng ta cũng quên mất rằng, ở Mỹ, dọc bờ biển phía Tây dài 1900km cũng chỉ có 3 cảng chính.
Và ta cũng quên hẳn bài học của Malaysia trong phát triển cảng biển. Trước năm 1970 chỉ có 2 cảng chính, sau đó Chính phủ quyết định mở rộng thêm 4 cảng quốc gia và 3 cảng nội địa, điều đó dẫn tới tình trạng dư thừa năng lực và cạnh tranh gay gắt giữa các cảng. Sự cạnh tranh lẫn nhau của các cảng biển làm triệt tiêu năng lực cạnh tranh chung của đất nước, khiến Malaysia rơi vào thế bất lợi.
Dọc bờ biển phía Tây dài 1900km của Mỹ cũng chỉ có 3 cảng chính trong khi 10 năm tới, Việt Nam định phát triển thêm 39 cảng biển.
Không thể phủ nhận, là quốc gia có đường bờ biển dài, ở vị trí địa chiến lược, Việt Nam có lợi thế để làm trung tâm trung chuyển quốc tế. Không phải ngẫu nhiên mà hàng loạt những sáng kiến về kết nối giao thông khu vực đều tính đến Việt Nam như cửa ngõ ra biển. Thế nhưng, tận dụng thế nào điều kiện ấy là câu chuyện Việt Nam cần bàn.
Có một thời, tỉnh nào cũng đua nhau có nhà máy mía đường, xi măng lò đứng, thì nay, cùng với cuộc đua có cho được nhà máy thép..., tỉnh nào cũng lo có cho được cảng biển riêng..., mà cảng nào cũng nhỏ, lại thiếu các điều kiện đi kèm.
Hiện Việt Nam không có cảng container trung chuyển quốc tế. Ta có một số hải cảng quốc tế như Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải Phòng đón nhận được các tàu lớn, song dịch vụ của các cảng này chưa đáp ứng yêu cầu, chi phí dịch vụ cao, thời gian thông quan lâu (từ 3 đến 7 ngày, có khi lên tới 1 tháng trong khi ở Singapore là 10 phút.) Hệ thống đường sắt, đường bộ kết nối liên tuyến với hệ thống cảng không được đầu tư. Các điều kiện hậu cần cho cảng hoàn toàn bỏ ngỏ. Cơ sở hạ tầng không theo kịp tốc độ tăng trưởng xuất khẩu.
Có một ví dụ thường được các chuyên gia dẫn chứng như một minh họa sinh động cho những ràng buộc về lợi ích cục bộ, địa phương gây cản ngại cho một chiến lược đầu tư sáng suốt trong câu chuyện cảng biển. Hiện tại, cảng Cái Mép - Thị Vải của Vũng Tàu đã được một số tàu mẹ các nước đến ăn hàng. Xét về mọi mặt, đây là cảng biển có nhiều lợi thế hơn cả để phát triển thành cảng trung chuyển quốc tế.
Thế nhưng, Tp.HCM và Long An cũng đòi đầu tư để cảng của mình thành trung chuyển quốc tế! Trong khi nguồn lực đầu tư của đất nước vào cơ sở hạ tầng vốn đang vô cùng khan hiếm.
Câu chuyện thu hút đầu tư nước ngoài của các tỉnh cũng là một ví dụ khác. Mặc dù đã có quy định về khuyến khích và ưu đãi đầu tư, thế nhưng, thực tế, các địa phương vẫn làm theo kiểu "mạnh ai nấy làm". Ngoài các chính sách thu hút đầu tư của nhà nước, nhiều tỉnh đã phá rào, đưa thêm nhiều quy định khuyến khích đầu tư, từ ưu đãi đầu tư, miễn giảm thuế và giảm tiền thuê đất.
Cuộc khảo sát do Bộ Tài chính tiến hành năm 2006 tại 48 tỉnh, thành phố cho thấy có tới 32 tỉnh (chiếm 2/3) ban hành thêm các văn bản pháp lý trái luật nhằm quy định các ưu đãi đặc biệt để thu hút các dự án đầu tư. Theo khảo sát này, có 18 tỉnh vi phạm các quy định về ngân sách, 21 tỉnh đưa ra những ưu đãi về đất đai nằm ngoài những quy định của chính sách đất đai quốc gia, 11 tỉnh vi phạm quy định về thuế thu nhập DN và nhiều tỉnh có nhiều hơn 2 vi phạm. Hầu hết các tỉnh đưa ra các khuyến khích rất hào phóng về phí sử dụng đất, mở rộng thời kì miễn giảm thuế lên tới 10-20 năm.
Rút cuộc, cuộc đua của các tỉnh không mang lại lợi ích chung cho cả nền kinh tế. Quy hoạch tổng thể bị xới tung, cày nát. Đến nỗi có chuyên gia đã phải kêu lên rằng: cuộc đua thu hút FDI giữa các tỉnh chẳng khác nào cuộc "chạy đua xuống đáy", khi các tỉnh hoặc là cùng chạy, hoặc là cùng chờ.
Nói như TS Vũ Minh Khương, ĐHQG Singapore, cách làm này tạo nên sự phát đạt cho một vài người nhưng lại gây hại cho sự phát triển chung của đất nước.
Vừa cạnh tranh, vừa hợp tác
"Thay vì cạnh tranh, cần khuyến khích sự phối hợp và hợp tác giữa các địa phương, các ngành", GS Michael Porter khuyến nghị. "Các vùng và địa phương cần được khuyến khích nâng cao năng lực cạnh tranh của mình dựa trên những lợi thế và vị trí đặc thù của địa phương".
Nhìn tổng thể quốc gia, đã tới lúc Việt Nam cần nghiêm túc thảo luận xem mình muốn đứng ở vị trí nào trong nền kinh tế toàn cầu, đâu là những ngành, lĩnh vực và thế mạnh về môi trường kinh doanh của Việt Nam mà thế giới sẽ biết tới.
Vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, đó là mục tiêu mà Việt Nam cần hướng tới, nếu muốn thực sự định vị mình ở một vị trí cao hơn trong xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu.
TG: Phương Loan
Theo .Tuần Việt Nam
Thứ Năm, 2 tháng 12, 2010
Nội dung của văn hóa đại học
1. Thế nào là văn hoá đại học?
Trường đại học không chỉ là tồn tại vật chất khách quan mà còn là một dạng tồn tại văn hoá và tinh thần. Tồn tại vật chất của ĐH rất đơn giản: thiết bị, dụng cụ, trường sở v.v... Thế nhưng đại học sở dĩ gọi là đại học, mấu chốt là tồn tại văn hoá và tồn tại tinh thần của nó.
Văn hóa đại học là văn hoá tìm kiếm chân lý, là văn hoá nghiêm chỉnh coi trọng thực tế, là văn hoá theo đuổi sự tìm kiếm lý tưởng và hoài bão của đời người, là văn hoá tôn thờ tự do học thuật, văn hoá đề xướng lý luận gắn với thực tế, văn hoá tôn thờ đạo đức, văn hoá bao dung, là dạng văn hoá có tinh thần phê phán quyết liệt. Văn hóa đại học thể hiện một tính chung, cốt lõi và linh hồn của nó thì thể hiện ở tinh thần đại học.
Lời răn của nhà trường [nguyên văn chữ Hán Việt: “Hiệu huấn”; còn gọi là Khẩu hiệu truyền thống của nhà trường] là thứ tượng trưng cho tinh thần đại học, đó là kết tinh lịch sử và văn hoá nhà trường, là thể hiện tập trung ý tưởng tổ chức học tập của nhà trường, cũng là một biểu đạt ngắn gọn nội dung văn hoá riêng của nhà trường.
Một tờ báo từng tiến hành trưng cầu ý kiến của 4762 người với câu hỏi: “Bạn cho rằng trường đại học nào của Trung Quốc có khẩu hiệu truyền thống tốt nhất?” Kết quả, khẩu hiệu truyền thống của ĐH Thanh Hoa “Tự cường bất tức, hậu đức tải vật” [câu này lấy từ sách Kinh Dịch, ý nói yêu cầu học sinh mãi mãi phấn đấu tự cường tiến lên hàng đầu, có tinh thần đoàn kết hợp tác, nghiêm khác với bản thân, vô tư dâng hiến] được 54% số phiếu, xếp thứ nhất. “Tự cường bất tức” phản ánh tinh thần dân tộc Trung Hoa, câu này cũng được rất nhiều đại học Trung Quốc dùng làm khẩu hiệu truyền thống của mình.
Năm 2006 khi nói chuyện tại ĐH Yale, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào cũng dẫn câu “Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức” [Đạo trời vận hành mạnh mẽ vững bền, kẻ quân tử nên tự giác phấn đấu vươn lên không ngừng] [1] danh ngôn lưu truyền muôn đời này của Trung Quốc nhằm trình bày tinh thần tự cường không ngừng, khai phá sáng tạo bao năm của dân tộc Trung Hoa. 5.000 năm qua, sở dĩ dân tộc Trung Hoa đời đời không ngừng phấn đấu, trải bao trắc trở mà không bị khuất phục chính là nhờ dựa vào tinh thần quyết tâm vươn tới hùng cường, dung nạp bao quát tất cả các mặt, ngày càng tiến lên. Mọi thành tích giành được từ cải cách mở cửa tới nay cũng là sự khắc họa tinh thần đó.
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Phục Đán “Bác học nhi đốc chí, thiết vấn nhi cận tư” [Người có lý tưởng cao xa thì phải có trí thức phong phú, phải luôn nghi ngờ đặt câu hỏi và luôn suy nghĩ sâu sắc] [2] được xếp hạng thứ hai. Giáo sư Lý Chính Đạo [Nobel vật lý 1957 cùng Dương Chấn Ninh] đặc biệt thích chữ thứ hai trong mỗi câu trên: học và vấn (hỏi). Học hỏi [chữ Hán: học vấn] tức là phải hỏi vấn đề chứ không phải là trả lời vấn đề.
Thế nhưng tôi phát hiện ra sự khác biệt văn hoá rất lớn giữa nước ta với phương Tây. Phụ huynh các nước Anh, Mỹ thấy con đi học về đều hỏi: “Hôm nay con hỏi được mấy vấn đề?” Còn ở ta, phụ huynh hỏi: “Hôm nay con được mấy điểm?”
Có lần tôi thấy một người đến cơ quan làm việc với vẻ mặt rất không vui, tôi hỏi: “Hôm nay ông sao thế? ” Ông ta trả lời: “Tôi đang tức điên người vì con bé nhà tôi thi được có 99 điểm”. Tôi bảo: “Tôi làm ngành vật lý cho nên biết là theo lý thuyết sai số, kém 1 điểm vẫn đạt trình độ quốc tế đấy ạ”. Ông ta nói: “Kém 1 điểm liệu có thể được vào ĐH Phục Đán chăng?” Tôi chẳng biết nói gì nữa. Chế độ thi cử của chúng ta hiện nay rất nghiêm ngặt, điều đó có ảnh hưởng sâu sắc tới văn hoá ĐH của chúng ta.
Einstein từng nói: “Tôi không có tài năng gì đặc biệt cả, chẳng qua là thích hỏi cho ra nhẽ mà thôi”. Teller cha đẻ bom khinh khí Mỹ mỗi lần đến phòng thí nghiệm đều đặt ra các câu hỏi này nọ, mỗi ngày ít nhất ông nêu ra 10 vấn đề, nhưng thường thường có 8-9 vấn đề sai. Có điều cái sáng tạo vĩ đại của ông lại chính là ở 1-2 vấn đề đúng kia. N. Bohr, một trong những nhà vật lý vĩ đại nhất thế kỷ XX từng nói: “Không có câu hỏi nào ngu ngốc cả”.
2500 năm trước đây loài người đưa ra câu hỏi “Thế giới cấu tạo như thế nào”, – câu hỏi này đánh dấu sự khởi đầu của khoa học tự nhiên. Bởi vậy, các bạn trẻ cần dũng cảm nêu vấn đề, không nêu ra được vấn đề thì sẽ không có sáng tạo. Điều này nên trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng trong nội dung văn hoá ĐH của chúng ta.
2. Văn hóa đại học là văn hoá tìm kiếm chân lý, nghiêm chỉnh theo đuổi sự thật
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Harvard chỉ có một từ: Truth (chân lý, sự thật; có người dịch là Hãy để sự thật kết bạn với ta). Theo đuổi chân lý mà không mê tin quyền uy. Văn hóa ĐH là văn hoá theo đuổi chân lý, nghiêm chỉnh tìm kiếm sự thật.
Cách đây không lâu tôi có gặp ông hiệu trưởng Harvard vừa mới từ chức. Ông ấy kể là khi ông còn làm hiệu trưởng, có một sinh viên mới vào trường này bảo ông: “Em luôn luôn theo dõi các số liệu của thầy, trong đó có các số liệu sai đấy ạ”. Một sinh viên mới toanh mà có thể bảo thầy hiệu trưởng “Thầy sai rồi”, – đó là văn hoá của ĐH Harvard: ý tưởng thắng quyền uy. Trường ĐH nào có được văn hoá như thế thì trường ấy có thể trở thành đại học hàng đầu thế giới.
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Yale là Light and Truth (Ánh sáng và chân lý). Trong diễn văn đọc tại ĐH Yale ngày 21/4/2006 , Chủ tịch Hồ Cẩm Đào nói: “Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Yale nhấn mạnh sự theo đuổi ánh sáng và chân lý, điều đó phù hợp với phép tắc tiến bộ của loài người, cũng hợp với tâm nguyện của mỗi thanh niên có chí hướng”.
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Washington là “Qua chân lý giành lấy sức mạnh”.
Các khẩu hiệu nói trên đều sử dụng từ chân lý.
Thế nhưng trong các đại học ở nước chúng ta hiện nay lại xuất hiện rất nhiều chuyện gian lận giả dối: hiện tượng dối trá cấm mãi chẳng được, gian lận học thuật thường xuyên xảy ra, các thông tin khai báo dối trá lừa gạt v.v...
Hồi tôi làm hiệu trưởng, việc khiến tôi xấu hổ nhất là gì, các bạn biết không? Là nhận được công văn của các trường đại học bên Mỹ yêu cầu tôi chứng minh bản khai thành tích học tập của các sinh viên Trung Quốc bên ấy họ nhận được là thật hay giả – đây là công văn chuyên gửi sang hỏi Trung Quốc. Ngoài ra còn có chuyện sinh viên Trung Quốc không xin được thẻ tín dụng. Khi sang Anh Quốc, tôi cảm thấy rất tự hào vì tôi là người Trung Quốc đầu tiên được đội mũ vành mạ vàng của nước Anh, nhưng chẳng bao lâu tôi cảm thấy mình thẹn đỏ cả mặt vì có sinh viên Trung Quốc nói với tôi: “Chúng em lxin ngân hàng Anh Quốc cấp thẻ tín dụng nhưng họ không duyệt, vì học sinh Trung Quốc nhiều lần có hạnh kiểm xấu [ý nói có hành vi gian lận trong sử dụng thẻ tín dụng] cho nên họ nhất luật không cấp thẻ tín dụng”.
Ngày hội nhà giáo năm 2005, Thủ tướng Ôn Gia Bảo trích dẫn câu nói của Đào Hành Tri “Dạy muôn nghìn lần, dạy người tìm kiếm sự thực thà; học muôn nghìn lần, học làm người thực thà” [3]. Sở dĩ Thủ tướng chú trọng câu này, tôi cho rằng điều đó có liên quan tới chuyện hiện nay chúng ta thiếu văn hoá theo đuổi chân lý.
3. Văn hóa đại học là văn hoá tôn thờ tự do học thuật
Khẩu hiệu truyền thống của Học viện Caltech “Chân lý làm con người được tự do” chính là sự thể hiện thứ văn hoá đó.
Hiệu trưởng ĐH Yale nói: “Chỉ có tự do khám phá, tự do biểu đạt thì mới có thể thực sự khai thác được tiềm năng của nhân loại”.
Trong buổi gặp gỡ tâm sự với các nhà văn học nghệ thuật ngày 13/11/2006, Thủ tướng Ôn Gia Bảo chín lần nhấn mạnh tự do. Ông còn dẫn lời Marx và Engels viết trong Tuyên ngôn của đảng cộng sản: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọi người” Thủ tướng nói đến tự do trong trường hợp như trên, tôi cảm thấy điều đó có ý nghĩa rất sâu sắc.
4. Văn hóa đại học là văn hoá đề xướng lý luận gắn với thực tế
Học viện Công nghệ Massachusetts tôn thờ phương châm lý luận gắn liền với thực tế. Khẩu hiệu truyền thống của trường này là “Suy nghĩ và bắt tay vào làm" (Mind and Hand).
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Nottingham “Đô thị xây dựng bằng trí tuệ”, dùng ngôn ngữ hiện đại giải thích là “Trường đại học là động cơ của tăng trưởng kinh tế”. Một đô thị muốn trở thành đại đô thị quốc tế hóa thì phải có hậu thuẫn là trường đại học hàng đầu. Trường đại học đem lại cho đô thị không những sự nhảy vọt về vật chất và kinh tế mà còn đem lại sự nâng cấp về văn minh tinh thần và tu dưỡng văn hoá.
5. Văn hóa đại học là văn hoá tôn thờ đạo đức
Nói tới đạo đức, ngôi trường đại học có ý nghĩa đích thực đầu tiên của nước Mỹ – ĐH Pennsylvania – có câu khẩu hiệu truyền thống nói về đạo đức: “Mọi phép tắc không có đạo đức đều uổng công vô ích”.
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Giao thông Thượng Hải cũng thể hiện hàm ý đạo đức hết sức sâu sắc: “Uống nước nhớ nguồn, yêu nước, làm vẻ vang nhà trường”. Uống nước nhớ nguồn, nói theo tiếng Anh là Thanksgiving, tức cảm ơn.
Nhưng hiện nay tại rất nhiều đại học kể cả các đại học danh tiếng ở nước ta lại có những tiếng nói trái tai: một số học sinh đến từ nông thôn không muốn găp cha mẹ mình, cảm thấy việc gặp ấy không đẹp mặt mình. Nhưng nếu cha mẹ giàu có thì lại cảm thấy gặp cha mẹ là chuyện rất vẻ vang. Bởi vậy, tôi nhớ tới một câu nói ĐH Harvard đề xướng: “Một người có thể có thành tích hay không, chẳng những chỉ xem chỉ số thông minh IQ, mà còn nên xem chỉ số tình cảm EQ và hơn nữa, xem chỉ số đạo đức của người đó”. [4]
Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục tiểu học, trung học cho đến đại học là đào tạo người công dân tốt cho xã hội. Tôi rất tán thành câu nói của Viện sĩ Cầu Pháp Tổ: “Muốn làm người thầy thuốc tốt thì phải làm con người tốt”.
Tại Mỹ, sinh viên học xong 4 năm đại học mới được vào Học viện Y khoa. Về sau Anh Quốc thấy được cái hay của việc đó. Cách đây 4 năm, ĐH Nottingham thành lập một học viện Y khoa, chỉ sinh viên đã tốt nghiệp đại học mới được vào học; điều kiện quan trọng đầu tiên trong tuyển sinh là xem phẩm chất con người đó chứ không phải xem thí sinh đã học chuyên ngành sinh vật hay khoa học tự nhiên. Hơn nữa còn đặc biệt nhấn mạnh: “Muốn làm thầy thuốc, trước hết phải biết làm con người như thế nào, biết cách đối xử với con người, lấy con người làm gốc.”
Năm 1998, UNESCO họp “Đại hội đón chào giáo dục cao đẳng thế kỷ XXI”, khi phát biểu tổng kết cuộc họp, Tổng Thư ký UNESCO nói: Nhà trường phải dạy học sinh học cách làm người, học cách sinh tồn (learn to be), học kiến thức (learn to know), học cách nắm được các kiến thức đó (learn how to learn), lại còn phải dạy học sinh học được cách sống chung với người khác (learn to deal with the others).
6. Văn hóa đại học là văn hoá tôn thờ tinh thần yêu nước
Câu “Yêu nước, làm rạng danh nhà trường” trong khẩu hiệu truyền thống của ĐH Giao thông Thượng Hải thể hiện trình độ cao của đạo đức, thể hiện tinh hoa văn hoá Trung Quốc.
Ngày 4/7/2001, tôi chính thức ngồi vào vị trí Hiệu trưởng (Chancellor) ĐH Nottingham. Khi lần đầu tiên lá cờ đỏ 5 sao được kéo lên trên sân trường đại học Anh Quốc, tôi cảm thấy rất đỗi tự hào. Tôi muốn nói với mọi người rằng đây không phải là chuyện cá nhân tôi thế nào, mà là chuyện tổ quốc tôi đã lớn mạnh. Thiết nghĩ 20 năm trước tôi không thể có được vị trí này.
Một bạn người Hoa mắt đẫm lệ nói với tôi: “Chẳng ai ngờ chiếc mũ viền vàng duy nhất của ĐH Nottingham hôm nay được trao cho một người Hoa đích thực”... “Mỗi người Hoa đều có một giấc mơ, mơ ước làm sao cho Trung Quốc 5 nghìn năm văn hiến có thể đứng lên được trên thế giới này. Phải đứng thẳng lên, đứng cho vững!”
Đặng Gia Tiên từng nói: “Đối với một nhà khoa học, còn có gì đáng kiêu hãnh và tự hào hơn là được dâng hiến toàn bộ tri thức và trí tuệ của mình cho tổ quốc, làm cho dân tộc Trung Hoa thoát khỏi số phận bị nước ngoài xâu xé?” Ông là bạn học của Dương Chấn Ninh, hai người cùng lấy bằng tiến sĩ ở Mỹ.
Năm 1971 Dương Chấn Ninh về Trung Quốc có gặp Đặng Gia Tiên và hỏi: “Trung Quốc phát triển vũ khí hạt nhân có người nước ngoài giúp hay không?” Dương hỏi câu này rất tự nhiên, vì hai phần ba nhà khoa học hạt nhân của Mỹ đều là người châu Âu; Liên Xô cũ khi phát triển vũ khí hạt nhân cũng dựa vào sự giúp đỡ của các nhà khoa học châu Âu.
Một tuần sau, khi Dương Chấn Ninh đang ăn cơm tối tại Thượng Hải thì nhận được một mẩu giấy của Đặng Gia Tiên, trong có viết: “Tôi đã điều tra rồi, đúng là kết quả tự lực cánh sinh của Trung Quốc”. Đọc xong mẩu giấy đó, Dương ứa nước mắt vì cảm động.
Vu Mẫn là một nhà vật lý tôi kính trọng nhất, tuy chưa từng học tập ở nước ngoài nhưng ông đã có cống hiến lớn cho nhà nước chúng ta, có người gọi ông là “Cha đẻ bom khinh khí Trung Quốc”. Vu Mẫn từng nói một câu: “Dân tộc Trung Hoa không bắt nạt người khác, cũng quyết không chịu để người khác bắt nạt; vũ khí hạt nhân là một biện pháp bảo đảm điều đó”. Viện sĩ Vu Mẫn nói lên động lực thúc đẩy ông làm việc.
Tình cảm dân tộc và tư tưởng yêu nước chất phác ấy cũng là động lực khiến tôi có được sự tiến bộ trong công việc.
Tinh thần yêu nước là phần rất đặc sắc trong văn minh Trung Hoa cổ xưa, nhưng nó quyết không phải là thứ văn hóa sở hữu riêng của Trung Quốc mà có tính phổ quát trên toàn thế giới. Trong diễn văn đọc tại ĐH Yale ngày 21/4/2006, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào từng nói: “Nathan Hale anh hùng dân tộc Mỹ cựu sinh viên ĐH Yale, có một danh ngôn – “Điều đáng tiếc duy nhất của tôi là không có cuộc đời thứ hai để hiến dâng cho Tổ quốc mình”.
Tôi có một người bạn Mỹ là cựu Tư lệnh Bộ đội chiến lược Mỹ, tướng 4 sao, từng có hơn 5.000 giờ bay, từng lái đủ mọi kiểu máy bay quân sự. Có lần tôi hỏi vợ ông: “Ông nhà bà bay nhiều như thế, bà có sợ gì không”. Bà ấy trả lời rất rõ ràng: “Nói không sợ là giả dối. Dĩ nhiên tôi sợ chứ. Nhưng vì lợi ích của nước Mỹ, ông ấy nhất thiết phải làm như thế”.
Người Mỹ có câu: For the interests of the United States [Vì lợi ích của Hợp Chúng Quốc]. Hồi Tổng thống Nixon sang thăm Trung Quốc, có người hỏi: “Ông đến đây làm gì?” Ông trả lời: “Vì lợi ích của nước Mỹ!”
Gates Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ từng là Hiệu trưởng ĐH Nông nghiệp và Cơ khí; khi nhận được thông báo của Tổng thống đề nghị ông ra làm Bộ trưởng Quốc phòng, ông từng viết thư cho rất nhiều bạn bè, trong đó có câu “Tổng thống Mỹ đã tuyên bố bổ nhiệm tôi làm Bộ trưởng Quốc phòng. Tôi cảm thấy rất hân hạnh, đồng thời cũng cảm thấy một nỗi buồn sâu sắc, bởi lẽ tôi vô cùng yêu mến trường đại học này, yêu mến tiểu bang nơi tôi đang sinh sống này. Nhưng tôi càng yêu Tổ quốc mình hơn. Tôi phải chấp hành chức trách của mình, vì thế tôi phải đi khỏi nơi đây”. [5]
Đấy chính là tình yêu lớn! Tình yêu lớn trước hết phải yêu nồng nàn đất nước mình.
(Còn nữa)
Huy Đường lược dịch
Ghi chú của người dịch:
[1] Toàn văn câu này lấy từ Kinh Dịch: Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức. Địa thế khôn, quân tử dĩ hậu đức tái vật. Nghĩa là kẻ quân tử nên như bầu trởi vận hành không nghỉ, dù gian nan phiêu bạt cũng không chịu khuất phục; kẻ quân tử phải có độ lượng giao tiếp rộng như trái đất, không thứ gì không thể gánh chịu được.
[2] Toàn văn câu này ở sách Luận Ngữ, Tử Trương-19: Bác học nhi đốc chí, thiết vấn nhi cận tư, nhân tại kỳ trung hĩ.
[3] Nguyên văn câu này: Thiên giáo vạn giáo, giáo nhân cầu chân, thiên học vạn học, học tố chân nhân. Ý nghĩa: mục đích căn bản của giáo dục là giúp người ta trở thành người chân chính; một người qua giáo dục cho dù kiến thức uyên bác nhưng thiếu nhân cách thì việc giáo dục người đó là thất bại. Ngày ngày ta học nhiều kiến thức nhưng chỉ khi nào ta học biết cách làm người thì mới thực sự nắm được các tri thức khác, tri thức ấy mới hữu dụng cho xã hội. Đào Hành Tri: (1891-1945), nhà giáo dục nổi tiếng, chiến sĩ dân chủ, một trong các nhà lãnh đạo Hội Cứu nước nhân dân Trung Quốc và Đồng minh Dân chủ Trung Quốc.
[4] Chỉ số đạo đức: Moral Intelligence Quotient (MQ).
[5] Robert Gates, sinh 1943, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ trong chính phủ của cả hai đảng Cộng Hòa (của Tổng thống Bush con) và Dân Chủ (Tổng thống Obama), từng làm việc 26 năm tại CIA, là Giám đốc CIA thời Tổng thống Bush cha; sau khi rời CIA ông làm Hiệu trưởng (president) Texas A&M University
Tiasang.com.vn
Trường đại học không chỉ là tồn tại vật chất khách quan mà còn là một dạng tồn tại văn hoá và tinh thần. Tồn tại vật chất của ĐH rất đơn giản: thiết bị, dụng cụ, trường sở v.v... Thế nhưng đại học sở dĩ gọi là đại học, mấu chốt là tồn tại văn hoá và tồn tại tinh thần của nó.
Văn hóa đại học là văn hoá tìm kiếm chân lý, là văn hoá nghiêm chỉnh coi trọng thực tế, là văn hoá theo đuổi sự tìm kiếm lý tưởng và hoài bão của đời người, là văn hoá tôn thờ tự do học thuật, văn hoá đề xướng lý luận gắn với thực tế, văn hoá tôn thờ đạo đức, văn hoá bao dung, là dạng văn hoá có tinh thần phê phán quyết liệt. Văn hóa đại học thể hiện một tính chung, cốt lõi và linh hồn của nó thì thể hiện ở tinh thần đại học.
Lời răn của nhà trường [nguyên văn chữ Hán Việt: “Hiệu huấn”; còn gọi là Khẩu hiệu truyền thống của nhà trường] là thứ tượng trưng cho tinh thần đại học, đó là kết tinh lịch sử và văn hoá nhà trường, là thể hiện tập trung ý tưởng tổ chức học tập của nhà trường, cũng là một biểu đạt ngắn gọn nội dung văn hoá riêng của nhà trường.
Một tờ báo từng tiến hành trưng cầu ý kiến của 4762 người với câu hỏi: “Bạn cho rằng trường đại học nào của Trung Quốc có khẩu hiệu truyền thống tốt nhất?” Kết quả, khẩu hiệu truyền thống của ĐH Thanh Hoa “Tự cường bất tức, hậu đức tải vật” [câu này lấy từ sách Kinh Dịch, ý nói yêu cầu học sinh mãi mãi phấn đấu tự cường tiến lên hàng đầu, có tinh thần đoàn kết hợp tác, nghiêm khác với bản thân, vô tư dâng hiến] được 54% số phiếu, xếp thứ nhất. “Tự cường bất tức” phản ánh tinh thần dân tộc Trung Hoa, câu này cũng được rất nhiều đại học Trung Quốc dùng làm khẩu hiệu truyền thống của mình.
Năm 2006 khi nói chuyện tại ĐH Yale, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào cũng dẫn câu “Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức” [Đạo trời vận hành mạnh mẽ vững bền, kẻ quân tử nên tự giác phấn đấu vươn lên không ngừng] [1] danh ngôn lưu truyền muôn đời này của Trung Quốc nhằm trình bày tinh thần tự cường không ngừng, khai phá sáng tạo bao năm của dân tộc Trung Hoa. 5.000 năm qua, sở dĩ dân tộc Trung Hoa đời đời không ngừng phấn đấu, trải bao trắc trở mà không bị khuất phục chính là nhờ dựa vào tinh thần quyết tâm vươn tới hùng cường, dung nạp bao quát tất cả các mặt, ngày càng tiến lên. Mọi thành tích giành được từ cải cách mở cửa tới nay cũng là sự khắc họa tinh thần đó.
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Phục Đán “Bác học nhi đốc chí, thiết vấn nhi cận tư” [Người có lý tưởng cao xa thì phải có trí thức phong phú, phải luôn nghi ngờ đặt câu hỏi và luôn suy nghĩ sâu sắc] [2] được xếp hạng thứ hai. Giáo sư Lý Chính Đạo [Nobel vật lý 1957 cùng Dương Chấn Ninh] đặc biệt thích chữ thứ hai trong mỗi câu trên: học và vấn (hỏi). Học hỏi [chữ Hán: học vấn] tức là phải hỏi vấn đề chứ không phải là trả lời vấn đề.
Thế nhưng tôi phát hiện ra sự khác biệt văn hoá rất lớn giữa nước ta với phương Tây. Phụ huynh các nước Anh, Mỹ thấy con đi học về đều hỏi: “Hôm nay con hỏi được mấy vấn đề?” Còn ở ta, phụ huynh hỏi: “Hôm nay con được mấy điểm?”
Có lần tôi thấy một người đến cơ quan làm việc với vẻ mặt rất không vui, tôi hỏi: “Hôm nay ông sao thế? ” Ông ta trả lời: “Tôi đang tức điên người vì con bé nhà tôi thi được có 99 điểm”. Tôi bảo: “Tôi làm ngành vật lý cho nên biết là theo lý thuyết sai số, kém 1 điểm vẫn đạt trình độ quốc tế đấy ạ”. Ông ta nói: “Kém 1 điểm liệu có thể được vào ĐH Phục Đán chăng?” Tôi chẳng biết nói gì nữa. Chế độ thi cử của chúng ta hiện nay rất nghiêm ngặt, điều đó có ảnh hưởng sâu sắc tới văn hoá ĐH của chúng ta.
Einstein từng nói: “Tôi không có tài năng gì đặc biệt cả, chẳng qua là thích hỏi cho ra nhẽ mà thôi”. Teller cha đẻ bom khinh khí Mỹ mỗi lần đến phòng thí nghiệm đều đặt ra các câu hỏi này nọ, mỗi ngày ít nhất ông nêu ra 10 vấn đề, nhưng thường thường có 8-9 vấn đề sai. Có điều cái sáng tạo vĩ đại của ông lại chính là ở 1-2 vấn đề đúng kia. N. Bohr, một trong những nhà vật lý vĩ đại nhất thế kỷ XX từng nói: “Không có câu hỏi nào ngu ngốc cả”.
2500 năm trước đây loài người đưa ra câu hỏi “Thế giới cấu tạo như thế nào”, – câu hỏi này đánh dấu sự khởi đầu của khoa học tự nhiên. Bởi vậy, các bạn trẻ cần dũng cảm nêu vấn đề, không nêu ra được vấn đề thì sẽ không có sáng tạo. Điều này nên trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng trong nội dung văn hoá ĐH của chúng ta.
2. Văn hóa đại học là văn hoá tìm kiếm chân lý, nghiêm chỉnh theo đuổi sự thật
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Harvard chỉ có một từ: Truth (chân lý, sự thật; có người dịch là Hãy để sự thật kết bạn với ta). Theo đuổi chân lý mà không mê tin quyền uy. Văn hóa ĐH là văn hoá theo đuổi chân lý, nghiêm chỉnh tìm kiếm sự thật.
Cách đây không lâu tôi có gặp ông hiệu trưởng Harvard vừa mới từ chức. Ông ấy kể là khi ông còn làm hiệu trưởng, có một sinh viên mới vào trường này bảo ông: “Em luôn luôn theo dõi các số liệu của thầy, trong đó có các số liệu sai đấy ạ”. Một sinh viên mới toanh mà có thể bảo thầy hiệu trưởng “Thầy sai rồi”, – đó là văn hoá của ĐH Harvard: ý tưởng thắng quyền uy. Trường ĐH nào có được văn hoá như thế thì trường ấy có thể trở thành đại học hàng đầu thế giới.
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Yale là Light and Truth (Ánh sáng và chân lý). Trong diễn văn đọc tại ĐH Yale ngày 21/4/2006 , Chủ tịch Hồ Cẩm Đào nói: “Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Yale nhấn mạnh sự theo đuổi ánh sáng và chân lý, điều đó phù hợp với phép tắc tiến bộ của loài người, cũng hợp với tâm nguyện của mỗi thanh niên có chí hướng”.
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Washington là “Qua chân lý giành lấy sức mạnh”.
Các khẩu hiệu nói trên đều sử dụng từ chân lý.
Thế nhưng trong các đại học ở nước chúng ta hiện nay lại xuất hiện rất nhiều chuyện gian lận giả dối: hiện tượng dối trá cấm mãi chẳng được, gian lận học thuật thường xuyên xảy ra, các thông tin khai báo dối trá lừa gạt v.v...
Hồi tôi làm hiệu trưởng, việc khiến tôi xấu hổ nhất là gì, các bạn biết không? Là nhận được công văn của các trường đại học bên Mỹ yêu cầu tôi chứng minh bản khai thành tích học tập của các sinh viên Trung Quốc bên ấy họ nhận được là thật hay giả – đây là công văn chuyên gửi sang hỏi Trung Quốc. Ngoài ra còn có chuyện sinh viên Trung Quốc không xin được thẻ tín dụng. Khi sang Anh Quốc, tôi cảm thấy rất tự hào vì tôi là người Trung Quốc đầu tiên được đội mũ vành mạ vàng của nước Anh, nhưng chẳng bao lâu tôi cảm thấy mình thẹn đỏ cả mặt vì có sinh viên Trung Quốc nói với tôi: “Chúng em lxin ngân hàng Anh Quốc cấp thẻ tín dụng nhưng họ không duyệt, vì học sinh Trung Quốc nhiều lần có hạnh kiểm xấu [ý nói có hành vi gian lận trong sử dụng thẻ tín dụng] cho nên họ nhất luật không cấp thẻ tín dụng”.
Ngày hội nhà giáo năm 2005, Thủ tướng Ôn Gia Bảo trích dẫn câu nói của Đào Hành Tri “Dạy muôn nghìn lần, dạy người tìm kiếm sự thực thà; học muôn nghìn lần, học làm người thực thà” [3]. Sở dĩ Thủ tướng chú trọng câu này, tôi cho rằng điều đó có liên quan tới chuyện hiện nay chúng ta thiếu văn hoá theo đuổi chân lý.
3. Văn hóa đại học là văn hoá tôn thờ tự do học thuật
Khẩu hiệu truyền thống của Học viện Caltech “Chân lý làm con người được tự do” chính là sự thể hiện thứ văn hoá đó.
Hiệu trưởng ĐH Yale nói: “Chỉ có tự do khám phá, tự do biểu đạt thì mới có thể thực sự khai thác được tiềm năng của nhân loại”.
Trong buổi gặp gỡ tâm sự với các nhà văn học nghệ thuật ngày 13/11/2006, Thủ tướng Ôn Gia Bảo chín lần nhấn mạnh tự do. Ông còn dẫn lời Marx và Engels viết trong Tuyên ngôn của đảng cộng sản: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọi người” Thủ tướng nói đến tự do trong trường hợp như trên, tôi cảm thấy điều đó có ý nghĩa rất sâu sắc.
4. Văn hóa đại học là văn hoá đề xướng lý luận gắn với thực tế
Học viện Công nghệ Massachusetts tôn thờ phương châm lý luận gắn liền với thực tế. Khẩu hiệu truyền thống của trường này là “Suy nghĩ và bắt tay vào làm" (Mind and Hand).
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Nottingham “Đô thị xây dựng bằng trí tuệ”, dùng ngôn ngữ hiện đại giải thích là “Trường đại học là động cơ của tăng trưởng kinh tế”. Một đô thị muốn trở thành đại đô thị quốc tế hóa thì phải có hậu thuẫn là trường đại học hàng đầu. Trường đại học đem lại cho đô thị không những sự nhảy vọt về vật chất và kinh tế mà còn đem lại sự nâng cấp về văn minh tinh thần và tu dưỡng văn hoá.
5. Văn hóa đại học là văn hoá tôn thờ đạo đức
Nói tới đạo đức, ngôi trường đại học có ý nghĩa đích thực đầu tiên của nước Mỹ – ĐH Pennsylvania – có câu khẩu hiệu truyền thống nói về đạo đức: “Mọi phép tắc không có đạo đức đều uổng công vô ích”.
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Giao thông Thượng Hải cũng thể hiện hàm ý đạo đức hết sức sâu sắc: “Uống nước nhớ nguồn, yêu nước, làm vẻ vang nhà trường”. Uống nước nhớ nguồn, nói theo tiếng Anh là Thanksgiving, tức cảm ơn.
Nhưng hiện nay tại rất nhiều đại học kể cả các đại học danh tiếng ở nước ta lại có những tiếng nói trái tai: một số học sinh đến từ nông thôn không muốn găp cha mẹ mình, cảm thấy việc gặp ấy không đẹp mặt mình. Nhưng nếu cha mẹ giàu có thì lại cảm thấy gặp cha mẹ là chuyện rất vẻ vang. Bởi vậy, tôi nhớ tới một câu nói ĐH Harvard đề xướng: “Một người có thể có thành tích hay không, chẳng những chỉ xem chỉ số thông minh IQ, mà còn nên xem chỉ số tình cảm EQ và hơn nữa, xem chỉ số đạo đức của người đó”. [4]
Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục tiểu học, trung học cho đến đại học là đào tạo người công dân tốt cho xã hội. Tôi rất tán thành câu nói của Viện sĩ Cầu Pháp Tổ: “Muốn làm người thầy thuốc tốt thì phải làm con người tốt”.
Tại Mỹ, sinh viên học xong 4 năm đại học mới được vào Học viện Y khoa. Về sau Anh Quốc thấy được cái hay của việc đó. Cách đây 4 năm, ĐH Nottingham thành lập một học viện Y khoa, chỉ sinh viên đã tốt nghiệp đại học mới được vào học; điều kiện quan trọng đầu tiên trong tuyển sinh là xem phẩm chất con người đó chứ không phải xem thí sinh đã học chuyên ngành sinh vật hay khoa học tự nhiên. Hơn nữa còn đặc biệt nhấn mạnh: “Muốn làm thầy thuốc, trước hết phải biết làm con người như thế nào, biết cách đối xử với con người, lấy con người làm gốc.”
Năm 1998, UNESCO họp “Đại hội đón chào giáo dục cao đẳng thế kỷ XXI”, khi phát biểu tổng kết cuộc họp, Tổng Thư ký UNESCO nói: Nhà trường phải dạy học sinh học cách làm người, học cách sinh tồn (learn to be), học kiến thức (learn to know), học cách nắm được các kiến thức đó (learn how to learn), lại còn phải dạy học sinh học được cách sống chung với người khác (learn to deal with the others).
6. Văn hóa đại học là văn hoá tôn thờ tinh thần yêu nước
Câu “Yêu nước, làm rạng danh nhà trường” trong khẩu hiệu truyền thống của ĐH Giao thông Thượng Hải thể hiện trình độ cao của đạo đức, thể hiện tinh hoa văn hoá Trung Quốc.
Ngày 4/7/2001, tôi chính thức ngồi vào vị trí Hiệu trưởng (Chancellor) ĐH Nottingham. Khi lần đầu tiên lá cờ đỏ 5 sao được kéo lên trên sân trường đại học Anh Quốc, tôi cảm thấy rất đỗi tự hào. Tôi muốn nói với mọi người rằng đây không phải là chuyện cá nhân tôi thế nào, mà là chuyện tổ quốc tôi đã lớn mạnh. Thiết nghĩ 20 năm trước tôi không thể có được vị trí này.
Một bạn người Hoa mắt đẫm lệ nói với tôi: “Chẳng ai ngờ chiếc mũ viền vàng duy nhất của ĐH Nottingham hôm nay được trao cho một người Hoa đích thực”... “Mỗi người Hoa đều có một giấc mơ, mơ ước làm sao cho Trung Quốc 5 nghìn năm văn hiến có thể đứng lên được trên thế giới này. Phải đứng thẳng lên, đứng cho vững!”
Đặng Gia Tiên từng nói: “Đối với một nhà khoa học, còn có gì đáng kiêu hãnh và tự hào hơn là được dâng hiến toàn bộ tri thức và trí tuệ của mình cho tổ quốc, làm cho dân tộc Trung Hoa thoát khỏi số phận bị nước ngoài xâu xé?” Ông là bạn học của Dương Chấn Ninh, hai người cùng lấy bằng tiến sĩ ở Mỹ.
Năm 1971 Dương Chấn Ninh về Trung Quốc có gặp Đặng Gia Tiên và hỏi: “Trung Quốc phát triển vũ khí hạt nhân có người nước ngoài giúp hay không?” Dương hỏi câu này rất tự nhiên, vì hai phần ba nhà khoa học hạt nhân của Mỹ đều là người châu Âu; Liên Xô cũ khi phát triển vũ khí hạt nhân cũng dựa vào sự giúp đỡ của các nhà khoa học châu Âu.
Một tuần sau, khi Dương Chấn Ninh đang ăn cơm tối tại Thượng Hải thì nhận được một mẩu giấy của Đặng Gia Tiên, trong có viết: “Tôi đã điều tra rồi, đúng là kết quả tự lực cánh sinh của Trung Quốc”. Đọc xong mẩu giấy đó, Dương ứa nước mắt vì cảm động.
Vu Mẫn là một nhà vật lý tôi kính trọng nhất, tuy chưa từng học tập ở nước ngoài nhưng ông đã có cống hiến lớn cho nhà nước chúng ta, có người gọi ông là “Cha đẻ bom khinh khí Trung Quốc”. Vu Mẫn từng nói một câu: “Dân tộc Trung Hoa không bắt nạt người khác, cũng quyết không chịu để người khác bắt nạt; vũ khí hạt nhân là một biện pháp bảo đảm điều đó”. Viện sĩ Vu Mẫn nói lên động lực thúc đẩy ông làm việc.
Tình cảm dân tộc và tư tưởng yêu nước chất phác ấy cũng là động lực khiến tôi có được sự tiến bộ trong công việc.
Tinh thần yêu nước là phần rất đặc sắc trong văn minh Trung Hoa cổ xưa, nhưng nó quyết không phải là thứ văn hóa sở hữu riêng của Trung Quốc mà có tính phổ quát trên toàn thế giới. Trong diễn văn đọc tại ĐH Yale ngày 21/4/2006, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào từng nói: “Nathan Hale anh hùng dân tộc Mỹ cựu sinh viên ĐH Yale, có một danh ngôn – “Điều đáng tiếc duy nhất của tôi là không có cuộc đời thứ hai để hiến dâng cho Tổ quốc mình”.
Tôi có một người bạn Mỹ là cựu Tư lệnh Bộ đội chiến lược Mỹ, tướng 4 sao, từng có hơn 5.000 giờ bay, từng lái đủ mọi kiểu máy bay quân sự. Có lần tôi hỏi vợ ông: “Ông nhà bà bay nhiều như thế, bà có sợ gì không”. Bà ấy trả lời rất rõ ràng: “Nói không sợ là giả dối. Dĩ nhiên tôi sợ chứ. Nhưng vì lợi ích của nước Mỹ, ông ấy nhất thiết phải làm như thế”.
Người Mỹ có câu: For the interests of the United States [Vì lợi ích của Hợp Chúng Quốc]. Hồi Tổng thống Nixon sang thăm Trung Quốc, có người hỏi: “Ông đến đây làm gì?” Ông trả lời: “Vì lợi ích của nước Mỹ!”
Gates Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ từng là Hiệu trưởng ĐH Nông nghiệp và Cơ khí; khi nhận được thông báo của Tổng thống đề nghị ông ra làm Bộ trưởng Quốc phòng, ông từng viết thư cho rất nhiều bạn bè, trong đó có câu “Tổng thống Mỹ đã tuyên bố bổ nhiệm tôi làm Bộ trưởng Quốc phòng. Tôi cảm thấy rất hân hạnh, đồng thời cũng cảm thấy một nỗi buồn sâu sắc, bởi lẽ tôi vô cùng yêu mến trường đại học này, yêu mến tiểu bang nơi tôi đang sinh sống này. Nhưng tôi càng yêu Tổ quốc mình hơn. Tôi phải chấp hành chức trách của mình, vì thế tôi phải đi khỏi nơi đây”. [5]
Đấy chính là tình yêu lớn! Tình yêu lớn trước hết phải yêu nồng nàn đất nước mình.
(Còn nữa)
Huy Đường lược dịch
Ghi chú của người dịch:
[1] Toàn văn câu này lấy từ Kinh Dịch: Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức. Địa thế khôn, quân tử dĩ hậu đức tái vật. Nghĩa là kẻ quân tử nên như bầu trởi vận hành không nghỉ, dù gian nan phiêu bạt cũng không chịu khuất phục; kẻ quân tử phải có độ lượng giao tiếp rộng như trái đất, không thứ gì không thể gánh chịu được.
[2] Toàn văn câu này ở sách Luận Ngữ, Tử Trương-19: Bác học nhi đốc chí, thiết vấn nhi cận tư, nhân tại kỳ trung hĩ.
[3] Nguyên văn câu này: Thiên giáo vạn giáo, giáo nhân cầu chân, thiên học vạn học, học tố chân nhân. Ý nghĩa: mục đích căn bản của giáo dục là giúp người ta trở thành người chân chính; một người qua giáo dục cho dù kiến thức uyên bác nhưng thiếu nhân cách thì việc giáo dục người đó là thất bại. Ngày ngày ta học nhiều kiến thức nhưng chỉ khi nào ta học biết cách làm người thì mới thực sự nắm được các tri thức khác, tri thức ấy mới hữu dụng cho xã hội. Đào Hành Tri: (1891-1945), nhà giáo dục nổi tiếng, chiến sĩ dân chủ, một trong các nhà lãnh đạo Hội Cứu nước nhân dân Trung Quốc và Đồng minh Dân chủ Trung Quốc.
[4] Chỉ số đạo đức: Moral Intelligence Quotient (MQ).
[5] Robert Gates, sinh 1943, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ trong chính phủ của cả hai đảng Cộng Hòa (của Tổng thống Bush con) và Dân Chủ (Tổng thống Obama), từng làm việc 26 năm tại CIA, là Giám đốc CIA thời Tổng thống Bush cha; sau khi rời CIA ông làm Hiệu trưởng (president) Texas A&M University
Tiasang.com.vn
Sứ mệnh của trường đại học
Những năm gần đây, GS Dương Phúc Gia, người Trung Quốc đầu tiên nhậm chức hiệu trưởng một trường ĐH nổi tiếng Anh Quốc (ĐH Nottingham), đã nhiều lần thẳng thắn phát biểu về sự yếu kém của giáo dục đại học Trung Quốc, được lãnh đạo nhà nước và giới chuyên môn rất quan tâm.
Dưới đây là phần lược dịch bài viết “Sứ mệnh và nội hàm văn hoá của trường đại học” của Dương Phúc Gia, đăng trên Thời báo Học tập số ra ngày 27/8/2007.
Bài này gồm 5 phần: - Sứ mệnh của trường ĐH; - Nội hàm văn hóa ĐH; - Gợi ý từ ĐH hàng đầu; - ĐH hàng đầu coi trọng những sinh viên như thế nào; - Trách nhiệm của sinh viên. Các phần ghi trong dấu ngoặc vuông là của người dịch.
I. SỨ MỆNH CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1. Sứ mệnh của trường đại học là gì?
ĐH Yale thuộc nhóm ĐH đứng đầu thế giới, liên tục mấy năm liền xếp thứ 3 trong bảng xếp hạng ĐH Mỹ, chỉ sau ĐH Princeton và ĐH Harvard. ĐH Yale thành lập năm 1701, hiện nay có 11.483 học viên, trong đó có 5.316 sinh viên (ở Học viện Yale) và 2.522 nghiên cứu sinh, 3.552 sinh viên các học viện chuyên ngành (ở 11 học viện, như Học viện Y khoa, Học viện Luật, Học viện Nhạc, v.v... đều tuyển người đã tốt nghiệp ĐH).
Sứ mệnh của ĐH Yale là gì? Điều đó đã được xác định ngay từ khi sáng lập trường, đó là: Đào tạo thủ lĩnh cho nhà nước và thế giới.
ĐH Yale là nơi đào tạo 5-6 Tổng thống Mỹ (Bush cha và con, Clinton ...). Cho tới nay Yale đã đào tạo được 530 nghị sĩ quốc hội Mỹ, còn đào tạo cả Tổng thống cho Mexico và Đức, Thủ tướng cho Hàn Quốc, Bộ trưởng Ngoại giao cho Nhật Bản v.v.... Rất nhiều hiệu trưởng xuất sắc của các ĐH hàng đầu thế giới từng tốt nghiệp tại đây.
Về sau ĐH Yale còn đưa ra các sứ mệnh cơ bản của trường: Bảo vệ, truyền thụ, đẩy mạnh và làm phong phú tri thức và văn hoá.
Thoạt xem có thể có cảm giác tựa như các sứ mệnh đó chỉ là một đống từ ngữ, nhưng suy ngẫm kỹ sẽ có thể hiểu, nếu sứ mệnh chỉ có “truyền thụ tri thức” thì điều đó đều thích hợp với ngót 4000 ĐH Mỹ; nếu thêm “đẩy mạnh và làm phong phú” thì chỉ 3% số trường ĐH có thể đảm đương được nhiệm vụ đó; nếu lại thêm “văn hoá” nữa thì chỉ còn 1%; còn nếu thêm “bảo vệ tri thức và văn hoá” thì e rằng chưa tới 3 phần nghìn.
ĐH Yale có thư viện sách quý hiếm tốt nhất thế giới chính là để gánh vác sứ mệnh đó. Chẳng hạn chỉ ở đây mới có một số sách hoặc tư liệu độc bản trên thế giới.
Tóm lại, sứ mệnh của trường ĐH phải có tính đặc thù, tính khác biệt. Nếu sứ mệnh của ĐH này lại có thể dùng cho bất cứ ĐH nào khác thì cách diễn tả sứ mệnh đó sẽ không xác đáng lắm..
Học viên Công nghệ California [California Institute of Technology, viết tắt Caltech hoặc CIT] là một học viện đơn nhất, nhưng nó nghiên cứu những vấn đề KHKT cơ bản có tính thách thức nhất trong sự giao thoa của các khoa học. Nó đào tạo một loạt sinh viên kiệt xuất trở thành những thành viên có tính sáng tạo trong xã hội. Ở đây tuy không đề cập tới văn hoá ĐH, nhưng không có nghĩa là Caltech không có văn hoá, chỉ có điều nó chú trọng tới cái khác.
Caltech không được gọi là ĐH mà gọi là Học viện [institute], quy mô rất nhỏ. Năm 2005 toàn trường có 386 giáo viên và nghiên cứu viên, 2.172 sinh viên và nghiên cứu sinh. Khi mới thành lập trường này, Hội đồng Quản trị nhà trường đã quy định: “Dù ai làm hiệu trưởng cũng không được mở rộng quy mô nhà trường”. Caltech có sứ mệnh “Kết hợp giảng dạy và nghiên cứu khoa học để mở rộng tri thức nhân loại và đem lại hạnh phúc cho xã hội”.
Chính là dưới ảnh hưởng của nội hàm văn hoá như thế mà tại Caltech xuất hiện 32 giải Nobel, 31 chủ nhân giải Nobel, có đóng góp lớn làm phong phú kho tàng tri thức của loài người. Ngoài 32 giải Nobel, còn có nhiều cựu sinh viên kiệt xuất, trong đó có Chu Bồi Nguyên, nhà nguyên lão vật lý học của Trung Quốc (tiến sĩ Caltech năm 1928), Triệu Trung Nghiêu người đặt nền móng ngành vật lý hạt nhân Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1930), Đàm Gia Trinh người đặt nền móng di truyền học Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1936), Tiền Học Sâm nhà khoa học nổi tiếng Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1939) [cha đẻ tên lửa Trung Quốc]. Tất cả các vị đại sư đó đã đặt nền móng cho địa vị của Caltech trên thế giới. Trên 3 lĩnh vực hàng không-vũ trụ, khoa học sự sống và vật lý, Caltech là hàng đầu của hàng đầu thế giới. Trường nhỏ mà học vấn lớn, thật là đặc sắc!
2. Các yếu tố cơ bản để hoàn thành sứ mệnh của trường đại học.
Ngay từ năm 1931, ông Mai Di Kỳ hiệu trưởng ĐH Thanh Hoa từng nói “Một trường ĐH sở dĩ gọi là ĐH, tất cả là ở chỗ trường ấy có giáo sư giỏi hay không.”
Ông nói câu này vào thời điểm ĐH Thanh Hoa vừa cơ bản xây dựng xong, nhà trường bắt đầu đặt trọng điểm vào việc thu hút các đại sư chứ không quá chú ý tới việc xây dựng trường sở.
Thực ra một trường ĐH chỉ có trường sở to và đại sư thì chưa đủ. Cá nhân tôi cho rằng còn phải có “đại ái [tình yêu lớn]”.
Từ bài viết của chủ nhân giải Nobel James Tobin [Nobel kinh tế 1981], ông Richard C. Levin hiệu trưởng ĐH Yale dẫn ra mấy yếu tố cơ bản để thực hiện sứ mệnh của ĐH như sau: Thứ nhất, phải có tài sản hữu hình (tangible assets); thứ hai, phải có tài nguyên con người (human resources); thứ ba, phải có nội hàm văn hoá (internal culture).
Tài sản hữu hình không chỉ gồm có trường sở mà còn có thiết bị, thư viện. Cũng vậy, tài nguyên con người cũng không chỉ có đại sư mà còn có sinh viên và nhân viên quản lý. Một ĐH không có sinh viên giỏi thì không thể trở thành ĐH hàng đầu được.
3. Trường ĐH sứ mệnh không rõ ràng, không có đặc sắc thì sẽ không có triển vọng
ĐH Princeton 7 năm liền xếp hạng ĐH thứ nhất ở Mỹ. ĐH Harvard 3 năm qua cũng đồng xếp hạng thứ nhất nhưng lần gần đây lại tụt xuống thứ hai, nguyên nhân do Princeton có hai chỉ tiêu vượt trên Harvard. Thứ nhất, số lượng lớp nhỏ dưới 50 sinh nhiều hơn; thứ hai, số lượng cựu sinh viên đền ơn nhà trường nhiều hơn Harvard (không chỉ là tiền, mà nhiều hơn, là sự cảm ơn).
Có người cho rằng ĐH hàng đầu thì phải có số lượng nghiên cứu sinh nhiều hơn sinh viên, nhất định phải có học viện y khoa, nhất thiết phải là ĐH có tính tổng hợp. Nói như vậy không thích hợp với ĐH Princeton – trường này hiện chỉ có 6.677 học sinh, trong đó 4.678 sinh viên, 1999 nghiên cứu sinh. Năm 2006, ĐH Princeton chỉ trao tặng có 277 học vị tiến sĩ, 151 học vị thạc sĩ cuối cùng (không học tiếp); tỷ lệ học sinh với giáo viên (chế độ cả ngày) là 5:1; trường này không có học viện y khoa cũng như học viện luật và học viện quản trị kinh doanh (hiện nay ở Trung Quốc các ĐH hàng đầu hầu như đều có học viện quản trị kinh doanh, y khoa và luật khoa); nghiên cứu sinh chỉ chiếm 30% tổng số học sinh.
Nhưng ĐH Princeton tuyệt đối là ĐH đứng đầu thế giới. Vậy đâu là cái vĩ đại của ĐH Princeton?
Ngoài việc đào tạo 25 chủ nhân giải Nobel (trong đó 17 giải vật lý) và 12 chủ nhân giải Fields (cả nước Mỹ có 24 người được giải này), ĐH Princeton còn nổi tiếng về không khí học thuật tự do, khoan dung.
Rất nhiều trường ĐH Trung Quốc thiếu những đặc sắc như vậy. Trong 4 lần hội nghị giáo dục cao đẳng do Thủ tướng Ôn Gia Bảo triệu tập trong năm 2006, Thủ tướng có nói về 4 nỗi lo của ông: Thứ nhất, sở dĩ hiện nay Trung Quốc chưa hoàn toàn phát triển trong đó có một nguyên nhân là chưa có một ĐH nào có thể tổ chức theo mô hình đào tạo nhân tài phát minh sáng tạo KHKT, chưa có sự sáng tạo độc đáo của mình thì không thể đào tạo được nhân tài kiệt xuất cấp đại sư. Thứ hai, vấn đề chất lượng học tập của các trường ĐH cao đẳng; Thứ ba, vấn đề làm thế nào để trường ĐH có đặc sắc của mình. Thứ tư, các trường công ở Trung Quốc đã vay bao nhiêu tiền? 300 tỷ, 400 tỷ hay là 500 tỷ Nhân dân tệ?
Dương Phúc Gia (Yang Fu-jia, 1936-), tốt nghiệp ĐH Phục Đán (Thượng Hải), nhà vật lý nổi tiếng, Viện sĩ Viện Khoa học Trung Quốc, Phó Chủ tịch Hội KHKT Trung Quốc, Chủ tịch Hội KHKT Thượng Hải (1992-1996), Giám đốc Viện Nghiên cứu hạt nhân nguyên tử Thượng Hải thuộc Viện KH Trung Quốc (1987-2001).
Năm 1984 được bình chọn là chuyên gia có cống hiến kiệt xuất cấp nhà nước.
Năm 1991 được bầu là Viện sĩ Viện KH Trung Quốc, Viện sĩ Viện KH thế giới thứ ba.
Từ 1998 được mời làm GS danh dự ĐH Vanderbilt (Mỹ). Ông cũng là Tiến sĩ KH danh dự ĐH Sōka (Nhật), Tiến sĩ Nhân văn danh dự ĐH bang New York, Tiến sĩ danh dự ĐH Hồng Công, ĐH Nottingham (Anh), và ĐH Connecticut (Mỹ). Dương Phúc Gia từng là Hiệu trưởng ĐH Phục Đán (1993-1998), từ 1996 là Ủy viên chấp hành Hội Hiệu trưởng các trường đại học trên thế giới.
Từ năm 2001 ông được mời làm Hiệu trưởng ĐH Nottingham (hai nhiệm kỳ liền), trở thành người Trung Quốc đầu tiên nhậm chức hiệu trưởng một trường ĐH nổi tiếng Anh Quốc
Dưới đây là phần lược dịch bài viết “Sứ mệnh và nội hàm văn hoá của trường đại học” của Dương Phúc Gia, đăng trên Thời báo Học tập số ra ngày 27/8/2007.
Bài này gồm 5 phần: - Sứ mệnh của trường ĐH; - Nội hàm văn hóa ĐH; - Gợi ý từ ĐH hàng đầu; - ĐH hàng đầu coi trọng những sinh viên như thế nào; - Trách nhiệm của sinh viên. Các phần ghi trong dấu ngoặc vuông là của người dịch.
I. SỨ MỆNH CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1. Sứ mệnh của trường đại học là gì?
ĐH Yale thuộc nhóm ĐH đứng đầu thế giới, liên tục mấy năm liền xếp thứ 3 trong bảng xếp hạng ĐH Mỹ, chỉ sau ĐH Princeton và ĐH Harvard. ĐH Yale thành lập năm 1701, hiện nay có 11.483 học viên, trong đó có 5.316 sinh viên (ở Học viện Yale) và 2.522 nghiên cứu sinh, 3.552 sinh viên các học viện chuyên ngành (ở 11 học viện, như Học viện Y khoa, Học viện Luật, Học viện Nhạc, v.v... đều tuyển người đã tốt nghiệp ĐH).
Sứ mệnh của ĐH Yale là gì? Điều đó đã được xác định ngay từ khi sáng lập trường, đó là: Đào tạo thủ lĩnh cho nhà nước và thế giới.
ĐH Yale là nơi đào tạo 5-6 Tổng thống Mỹ (Bush cha và con, Clinton ...). Cho tới nay Yale đã đào tạo được 530 nghị sĩ quốc hội Mỹ, còn đào tạo cả Tổng thống cho Mexico và Đức, Thủ tướng cho Hàn Quốc, Bộ trưởng Ngoại giao cho Nhật Bản v.v.... Rất nhiều hiệu trưởng xuất sắc của các ĐH hàng đầu thế giới từng tốt nghiệp tại đây.
Về sau ĐH Yale còn đưa ra các sứ mệnh cơ bản của trường: Bảo vệ, truyền thụ, đẩy mạnh và làm phong phú tri thức và văn hoá.
Thoạt xem có thể có cảm giác tựa như các sứ mệnh đó chỉ là một đống từ ngữ, nhưng suy ngẫm kỹ sẽ có thể hiểu, nếu sứ mệnh chỉ có “truyền thụ tri thức” thì điều đó đều thích hợp với ngót 4000 ĐH Mỹ; nếu thêm “đẩy mạnh và làm phong phú” thì chỉ 3% số trường ĐH có thể đảm đương được nhiệm vụ đó; nếu lại thêm “văn hoá” nữa thì chỉ còn 1%; còn nếu thêm “bảo vệ tri thức và văn hoá” thì e rằng chưa tới 3 phần nghìn.
ĐH Yale có thư viện sách quý hiếm tốt nhất thế giới chính là để gánh vác sứ mệnh đó. Chẳng hạn chỉ ở đây mới có một số sách hoặc tư liệu độc bản trên thế giới.
Tóm lại, sứ mệnh của trường ĐH phải có tính đặc thù, tính khác biệt. Nếu sứ mệnh của ĐH này lại có thể dùng cho bất cứ ĐH nào khác thì cách diễn tả sứ mệnh đó sẽ không xác đáng lắm..
Học viên Công nghệ California [California Institute of Technology, viết tắt Caltech hoặc CIT] là một học viện đơn nhất, nhưng nó nghiên cứu những vấn đề KHKT cơ bản có tính thách thức nhất trong sự giao thoa của các khoa học. Nó đào tạo một loạt sinh viên kiệt xuất trở thành những thành viên có tính sáng tạo trong xã hội. Ở đây tuy không đề cập tới văn hoá ĐH, nhưng không có nghĩa là Caltech không có văn hoá, chỉ có điều nó chú trọng tới cái khác.
Caltech không được gọi là ĐH mà gọi là Học viện [institute], quy mô rất nhỏ. Năm 2005 toàn trường có 386 giáo viên và nghiên cứu viên, 2.172 sinh viên và nghiên cứu sinh. Khi mới thành lập trường này, Hội đồng Quản trị nhà trường đã quy định: “Dù ai làm hiệu trưởng cũng không được mở rộng quy mô nhà trường”. Caltech có sứ mệnh “Kết hợp giảng dạy và nghiên cứu khoa học để mở rộng tri thức nhân loại và đem lại hạnh phúc cho xã hội”.
Chính là dưới ảnh hưởng của nội hàm văn hoá như thế mà tại Caltech xuất hiện 32 giải Nobel, 31 chủ nhân giải Nobel, có đóng góp lớn làm phong phú kho tàng tri thức của loài người. Ngoài 32 giải Nobel, còn có nhiều cựu sinh viên kiệt xuất, trong đó có Chu Bồi Nguyên, nhà nguyên lão vật lý học của Trung Quốc (tiến sĩ Caltech năm 1928), Triệu Trung Nghiêu người đặt nền móng ngành vật lý hạt nhân Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1930), Đàm Gia Trinh người đặt nền móng di truyền học Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1936), Tiền Học Sâm nhà khoa học nổi tiếng Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1939) [cha đẻ tên lửa Trung Quốc]. Tất cả các vị đại sư đó đã đặt nền móng cho địa vị của Caltech trên thế giới. Trên 3 lĩnh vực hàng không-vũ trụ, khoa học sự sống và vật lý, Caltech là hàng đầu của hàng đầu thế giới. Trường nhỏ mà học vấn lớn, thật là đặc sắc!
2. Các yếu tố cơ bản để hoàn thành sứ mệnh của trường đại học.
Ngay từ năm 1931, ông Mai Di Kỳ hiệu trưởng ĐH Thanh Hoa từng nói “Một trường ĐH sở dĩ gọi là ĐH, tất cả là ở chỗ trường ấy có giáo sư giỏi hay không.”
Ông nói câu này vào thời điểm ĐH Thanh Hoa vừa cơ bản xây dựng xong, nhà trường bắt đầu đặt trọng điểm vào việc thu hút các đại sư chứ không quá chú ý tới việc xây dựng trường sở.
Thực ra một trường ĐH chỉ có trường sở to và đại sư thì chưa đủ. Cá nhân tôi cho rằng còn phải có “đại ái [tình yêu lớn]”.
Từ bài viết của chủ nhân giải Nobel James Tobin [Nobel kinh tế 1981], ông Richard C. Levin hiệu trưởng ĐH Yale dẫn ra mấy yếu tố cơ bản để thực hiện sứ mệnh của ĐH như sau: Thứ nhất, phải có tài sản hữu hình (tangible assets); thứ hai, phải có tài nguyên con người (human resources); thứ ba, phải có nội hàm văn hoá (internal culture).
Tài sản hữu hình không chỉ gồm có trường sở mà còn có thiết bị, thư viện. Cũng vậy, tài nguyên con người cũng không chỉ có đại sư mà còn có sinh viên và nhân viên quản lý. Một ĐH không có sinh viên giỏi thì không thể trở thành ĐH hàng đầu được.
3. Trường ĐH sứ mệnh không rõ ràng, không có đặc sắc thì sẽ không có triển vọng
ĐH Princeton 7 năm liền xếp hạng ĐH thứ nhất ở Mỹ. ĐH Harvard 3 năm qua cũng đồng xếp hạng thứ nhất nhưng lần gần đây lại tụt xuống thứ hai, nguyên nhân do Princeton có hai chỉ tiêu vượt trên Harvard. Thứ nhất, số lượng lớp nhỏ dưới 50 sinh nhiều hơn; thứ hai, số lượng cựu sinh viên đền ơn nhà trường nhiều hơn Harvard (không chỉ là tiền, mà nhiều hơn, là sự cảm ơn).
Có người cho rằng ĐH hàng đầu thì phải có số lượng nghiên cứu sinh nhiều hơn sinh viên, nhất định phải có học viện y khoa, nhất thiết phải là ĐH có tính tổng hợp. Nói như vậy không thích hợp với ĐH Princeton – trường này hiện chỉ có 6.677 học sinh, trong đó 4.678 sinh viên, 1999 nghiên cứu sinh. Năm 2006, ĐH Princeton chỉ trao tặng có 277 học vị tiến sĩ, 151 học vị thạc sĩ cuối cùng (không học tiếp); tỷ lệ học sinh với giáo viên (chế độ cả ngày) là 5:1; trường này không có học viện y khoa cũng như học viện luật và học viện quản trị kinh doanh (hiện nay ở Trung Quốc các ĐH hàng đầu hầu như đều có học viện quản trị kinh doanh, y khoa và luật khoa); nghiên cứu sinh chỉ chiếm 30% tổng số học sinh.
Nhưng ĐH Princeton tuyệt đối là ĐH đứng đầu thế giới. Vậy đâu là cái vĩ đại của ĐH Princeton?
Ngoài việc đào tạo 25 chủ nhân giải Nobel (trong đó 17 giải vật lý) và 12 chủ nhân giải Fields (cả nước Mỹ có 24 người được giải này), ĐH Princeton còn nổi tiếng về không khí học thuật tự do, khoan dung.
Rất nhiều trường ĐH Trung Quốc thiếu những đặc sắc như vậy. Trong 4 lần hội nghị giáo dục cao đẳng do Thủ tướng Ôn Gia Bảo triệu tập trong năm 2006, Thủ tướng có nói về 4 nỗi lo của ông: Thứ nhất, sở dĩ hiện nay Trung Quốc chưa hoàn toàn phát triển trong đó có một nguyên nhân là chưa có một ĐH nào có thể tổ chức theo mô hình đào tạo nhân tài phát minh sáng tạo KHKT, chưa có sự sáng tạo độc đáo của mình thì không thể đào tạo được nhân tài kiệt xuất cấp đại sư. Thứ hai, vấn đề chất lượng học tập của các trường ĐH cao đẳng; Thứ ba, vấn đề làm thế nào để trường ĐH có đặc sắc của mình. Thứ tư, các trường công ở Trung Quốc đã vay bao nhiêu tiền? 300 tỷ, 400 tỷ hay là 500 tỷ Nhân dân tệ?
Dương Phúc Gia (Yang Fu-jia, 1936-), tốt nghiệp ĐH Phục Đán (Thượng Hải), nhà vật lý nổi tiếng, Viện sĩ Viện Khoa học Trung Quốc, Phó Chủ tịch Hội KHKT Trung Quốc, Chủ tịch Hội KHKT Thượng Hải (1992-1996), Giám đốc Viện Nghiên cứu hạt nhân nguyên tử Thượng Hải thuộc Viện KH Trung Quốc (1987-2001).
Năm 1984 được bình chọn là chuyên gia có cống hiến kiệt xuất cấp nhà nước.
Năm 1991 được bầu là Viện sĩ Viện KH Trung Quốc, Viện sĩ Viện KH thế giới thứ ba.
Từ 1998 được mời làm GS danh dự ĐH Vanderbilt (Mỹ). Ông cũng là Tiến sĩ KH danh dự ĐH Sōka (Nhật), Tiến sĩ Nhân văn danh dự ĐH bang New York, Tiến sĩ danh dự ĐH Hồng Công, ĐH Nottingham (Anh), và ĐH Connecticut (Mỹ). Dương Phúc Gia từng là Hiệu trưởng ĐH Phục Đán (1993-1998), từ 1996 là Ủy viên chấp hành Hội Hiệu trưởng các trường đại học trên thế giới.
Từ năm 2001 ông được mời làm Hiệu trưởng ĐH Nottingham (hai nhiệm kỳ liền), trở thành người Trung Quốc đầu tiên nhậm chức hiệu trưởng một trường ĐH nổi tiếng Anh Quốc
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)