Những năm gần đây giới trí thức Trung Quốc đã nhiều lần cảnh báo về hiểm họa nghiêm trọng của sự phát triển chủ nghĩa tư bản thân quen ở nước này: một số ít người lợi dụng quan hệ thân quen với chính quyền để độc quyền thao túng nền kinh tế, làm thiệt hại quyền lợi của đa số nhân dân; các doanh nghiệp nhà nước độc quyền là công cụ để thực hiện sự thao túng đó. Dưới đây là bài viết của nhà kinh tế nổi tiếng Vương Tắc Kha đăng trên “Đông phương Tảo báo” Trung Quốc số ra ngày 28/10/2010.
Là một nhà kinh tế học, tôi đặc biệt tán thưởng câu nói của Giáo sư Trương Duy Nghênh “Bảo vệ kinh tế thị trường là trách nhiệm cơ bản của các nhà kinh tế” .
Vương Tắc Kha
Giáo sư (GS) Trương Duy Nghênh [1] là người kiên định bảo vệ kinh tế thị trường. Cá nhân ông đã thực sự có những cống hiến cho công cuộc cải cách thể chế kinh tế định hướng thị trường của Trung Quốc. Tác phẩm mới của GS “Lô-gic của thị trường” tập hợp 16 bài viết của ông từng đăng trên báo chí Trung Quốc và nước ngoài trong một phần tư thế kỷ qua. Theo tôi nghĩ, tư tưởng trung tâm của cuốn sách này chính là câu nói của ông: Bảo vệ kinh tế thị trường.
Tư Mã Thiên và Adam Smith
Ngay từ đầu GS Trương đã nêu rõ: “Kinh tế thị trường là sáng tạo vĩ đại nhất của loài người, là Luật chơi tốt nhất trong các tiến bộ của loài người!” “Lô-gic cơ bản của kinh tế thị trường là: Nếu ai muốn được hạnh phúc thì người ấy trước hết phải làm cho người khác được hạnh phúc.”
Cơ chế của kinh tế thị trường hiện đại là để “đồng tiền-phiếu bầu” [2] lên tiếng, giỏi thắng kém thua, nâng cao mức độ phúc lợi toàn xã hội.
Nếu bạn muốn giành được nhiều đồng tiền-phiếu bầu thì bạn phải cung cấp cho thị trường các mặt hàng được người ta thích mua, kể cả các mặt hàng có tính dịch vụ như cắt tóc, du lịch. Trước tiên người ta bằng lòng bỏ tiền mua hàng của bạn, dưới tiền đề món hàng ấy đem lại cái tốt cho người ta, tốt hơn so với việc người ta giữ lại trong túi mình số tiền họ cần trả cho việc mua món hàng ấy của bạn. Thứ hai, người ta bằng lòng bỏ tiền mua hàng của bạn chứ không mua hàng của người khác, nguyên nhân là bỏ ra cùng một số tiền như nhau, hàng của bạn đem lại nhiều cái tốt hơn so với hàng của người khác.
So sánh cái tốt tức là so sánh giá trị. Bởi vậy, GS Trương Duy Nghênh nói: “Bản chất của cạnh tranh thị trường là sự cạnh tranh giá trị tạo ra cho người khác.”
Đó chính là ý tưởng “Bàn tay vô hình” mà Adam Smith [3], ông tổ kinh tế học hiện đại khái quát lại trong danh tác Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân sự giàu có của các dân tộc.
Theo giải thích của GS Trương, Adam Smith nói “Trong nền kinh tế thị trường, mỗi người đều theo đuổi lợi ích của mình – ở đây là lợi ích theo nghĩa rộng, kể cả mưu cầu tài sản, cũng có thể mưu cầu thanh danh cho mình – nhưng có một bàn tay vô hình làm cho bạn, trong khi theo đuổi lợi ích của mình thì lại tạo ra một giá trị cho người khác, cái giá trị ấy lớn hơn giá trị mà ý định chủ quan của bạn muốn đóng góp cho xã hội.” GS Trương cho rằng đây chính là điều kỳ diệu của kinh tế thị trường.
GS Trương Duy Nghênh nói một cách quy nạp: “Thị trường là gì? Thị trường là chế độ trong đó xấu hay tốt là do người khác đánh giá chứ không phải do bạn tự đánh giá. Trên thị trường, bất cứ ai không tạo ra giá trị cho người khác thì sẽ không thể có thu nhập. Cho nên bạn phải cố gắng tạo ra giá trị cho người khác.” “Cái nào có giá trị, cái nào không có giá trị, điều đó phải được thử nghiệm trên thị trường, phải do người mua đánh giá.”
Những kẻ phản đối kinh tế thị trường không những hạ thấp ý tưởng “Bàn tay vô hình” của Adam Smith là “chủ nghĩa độc tôn thị trường” mà còn, trên độ cao ý thức hệ, quy nó vào ảnh hưởng của kinh tế học dung tục của giai cấp tư sản phương Tây – nghe thật là sởn tóc gáy.
Thực ra, trong cuốn Sử Ký của mình, Tư Mã Thiên, nhà văn và nhà tư tưởng nổi tiếng Trung Quốc thời Tây Hán đã thể hiện rõ ràng ý tưởng sau này Adam Smith khái quát lại thành “bàn tay vô hình”.
Trong Sử Ký, Tư Mã Thiên đã viết một đoạn văn ngắn, đại ý có nghĩa là: Nhờ vào sự trồng trọt của nông dân mà người ta có cái ăn, nhờ thợ sơn tràng mà người ta có gỗ ván để làm đồ đạc, nhờ thợ thủ công làm ra đồ dùng mà người ta được thỏa mãn nhu cầu; nhờ các nhà buôn chở và bán mọi thứ vật dụng đó mà người ta có dịp chọn mua. Lẽ nào lại còn phải cần tới nhà nước ra lệnh dạy bảo dân chúng định kỳ họp chợ để thực hiện những việc nói trên hay sao? Mọi người ai nấy làm việc theo khả năng của mình, gắng sức mình làm, qua đó thỏa mãn nhu cầu của mình. Bởi thế, khi vật giá rẻ thì họ tìm cách mua hàng, khi vật giá đắt họ tìm cách bán hàng. Ai nấy cần cù, vui vẻ làm nghề của mình, ví như nước chảy chỗ trũng, ngày đêm chảy mãi không thôi, chẳng cần ai kêu gọi họ cũng làm, chẳng cần ai tuyển mộ thì dân chúng cũng tự sản xuất ra mọi thứ. Điều ấy hợp quy luật và tự nhiên được chứng minh là đúng.
Đoạn văn nói trên của Tư Mã Thiên thể hiện ý tương hầu như hoàn toàn ăn nhập với cách trình bày “Bàn tay vô hình” nổi tiếng của Adam Smith, ông tổ của kinh tế học hiện đại. Nhưng Tư Mã Thiên của Trung Quốc có trước Adam Smith của Anh Quốc hơn 1800 năm!
Đáng tiếc là từ khi “Bãi truất Bách gia, độc tôn Nho thuật” [4] trở đi, chủ trương dùng đạo đức thay cho pháp trị trong việc cai trị quốc gia đã trở thành giấc mộng của giai cấp đại sĩ phu Trung Quốc. Đây là căn nguyên của bao nhiêu vấn đề tồn tại trong xã hội phong kiến, cũng là nguyên nhân quan trọng làm cho Trung Quốc từ sau đời Đường Tống trở nên lạc hậu. Trên ý nghĩa đó, chúng ta cần “trở lại Tư Mã Thiên”, tôn thờ kinh tế thị trường.
Thị trường bị biến dạng cho nên không hoàn mỹ
GS Trương Duy Nghênh chỉ rõ: “Dĩ nhiên, trong thực tế, thị trường bao giờ cũng không hoàn mỹ mà luôn tồn tại vấn đề này vấn đề nọ. Nguyên nhân chính là ở chỗ môi trường pháp lý mà thị trường dựa vào đó để vận hành thường là không hoàn thiện, hiểu biết của con người có giới hạn, thị trường sẽ chịu sự can nhiễu của các lực lượng chống thị trường, nhất là sự can nhiễu từ các nhóm lợi ích và từ chính quyền.”
Nhân tố “môi trường pháp lý mà thị trường dựa vào đó để vận hành thường là không hoàn thiện” có ảnh hưởng rất rõ ràng đối sự vận hành của kinh tế thị trường. Thí dụ, nếu hiện tượng cân thiếu, hàng sai chủng loại mà không bị trừng phạt thì giao dịch thị trường sẽ không thể bảo đảm tạo ra giá trị cho đối phương. “Môi trường pháp lý thường xuyên không hoàn thiện” còn bao gồm mua tranh bán cướp, vơ vét hàng hóa... đều là hậu quả của sự phá hoại điều kiện tiền đề: giao dịch thị trường phải đem lại lợi ích cho cả hai bên giao dịch.
Chính quyền quấy nhiễu thị trường là nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất. Trên thực tế, sự can nhiễu của “môi trường pháp lý không hoàn thiện” và của các nhóm lợi ích đều có thể bao hàm trong sự can nhiễu của chính quyền, bởi lẽ “môi trường pháp lý không hoàn thiện” chính là kết quả công việc của chính quyền; nếu chính quyền hoàn thiện được môi trường pháp lý kinh tế thị trường thì các nhóm lợi ích không thể quấy nhiễu được.
Sau khi khẳng định “Không có chính quyền thì kinh tế không thể phát triển; bản thân chính quyền là một nhu cầu của thị trường”, GS Trương chỉ rõ “Nhưng vấn đề là ở chỗ biện pháp mà chính quyền kiếm được thu nhập thì khác với biện pháp của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp không tạo ra giá trị thì không thể có thu nhập, còn chính quyền thì dù không tạo ra giá trị nhưng vẫn có thu nhập qua biện pháp thu thuế.”
Đây là mấu chốt của vấn đề. GS Trương viết “Cái gọi là cạnh tranh không phải là nói một ngành nghề có nhiều doanh nghiệp, mà là nói chính quyền cho phép tự do làm ngành nghề đó.” Đúng vậy, khi một địa phương nào đấy chỉ có một cửa hàng mằn thắn, xem ra là không có cạnh tranh, nhưng ý nghĩ “người khác cũng có thể mở hiệu mằn thắn” lại là một sức ép cạnh tranh vô hình, nó khiến cho cửa hiệu kia khi nghĩ tới khả năng ấy phải ra sức làm cho cửa hiệu mình có thức ăn ngon, giá rẻ, chứ không được tùy tiện nâng giá vì lý do mình là cửa hiệu duy nhất. Lúc này, nếu chính quyền đặt ra trở ngại bên ngoài tiêu chuẩn mở cửa hiệu mằn thắn mới, thì sẽ xuất hiện không gian để tham nhũng.
Vụ sữa bẩn Tam Lộc là một bài học đau xót. Có người phê phán đó là do kinh tế thị trường để cho các doanh nghiệp theo đuổi lợi nhuận. Nhưng vì sao ở nhiều nước có cạnh tranh thị trường mạnh hơn Trung Quốc lại không có hiện tượng như vậy? Tam Lộc gây thiệt hại lớn cho người tiêu dùng, họ dựa vào cái gì để thành công trên thị trường? Đó chủ yếu là do thị trường Trung Quốc chưa chuẩn hóa.
Đặc biệt, một năm trước khi xảy ra vụ Tam Lộc, dưới sự dàn dựng của Bộ Khoa học kỹ thuật, sữa bột Tam Lộc được tặng “Giải tiến bộ KHKT nhà nước hạng nhì”, một giải thưởng rất cao. Với hào quang như thế, sữa Tam Lộc giành được thành công thị trường ở Trung Quốc.
Doanh nghiệp nhà nước là hình thức quan trọng để chính quyền can thiệp thị trường
GS Trương vạch ra: chính quyền can thiệp thị trường làm cho thị trường không phát triển tốt; lẽ ra việc chính quyền nên làm là bảo vệ quyền sở hữu tài sản, đẩy mạnh cạnh tranh. GS viết: bất cứ biện pháp nào hạn chế cạnh tranh đều chỉ có lợi cho một số ít người. Việc điều động bố trí tài nguyên chỉ có hai cách: hoặc theo thị trường, hoặc theo đặc quyền. Nếu không theo thị trường thì nhất định là theo đặc quyền. Bất cứ biện pháp nào cố ý hạn định giá cả, hạn chế cạnh tranh, cuối cùng chỉ có lợi cho một số ít người có đặc quyền.
Doanh nghiệp nhà nước là hình thức quan trọng để nhà nước can thiệp thị trường, kể cả nhiều đặc quyền miễn phí chiếm dùng tài nguyên nhà nước.
Mới đây Ủy ban Phát triển Cải cách Nhà nước nói: “Mùa đông năm nay việc cung ứng khí đốt chịu nhiều sức ép, Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc bị lỗ nặng.” Loại tiếng nói tạo dư luận cho một đợt tăng giá mới này lập tức bị quần chúng nhân dân phê bình. Họ nói: Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc rõ ràng là tập đoàn kiếm tiền nhiều nhất trên thế giới, nắm độc quyền vững chắc nhất, thế mà ngày nào cũng kêu lỗ, đó chẳng qua là họ muốn kiếm thêm lợi nhuận lấy từ nhân dân cả nước mà thôi.
Vài năm gần đây, một quan chức nhà nước tự khoe là “trung thần” gọi tập đoàn độc quyền ấy là “Con cả của nước Cộng hòa”. Vị này nói nếu không có “Ba Thùng Dầu” như Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc thì chẳng biết nền kinh tế quốc dân nước ta sẽ ra sao đây.
Chúng ta không thể không hỏi: Những mỏ dầu và nhà máy lọc dầu được xây dựng bằng vốn đầu tư lấy từ mấy chục năm tiền thuế của hơn 1 tỷ dân ta đã trở thành tài sản riêng của vị “Con cả nước Cộng hòa” ấy; mấy chục triệu km2 đất đai và vùng biển tài nguyên thiên nhiên của toàn dân hầu như được miễn phí giao cho vị “Con cả nước Cộng hòa” ấy bới tung lên, khai thác với hiệu suất cực thấp... vì sao họ không kiểm điểm trách nhiệm mà ngược lại còn huênh hoang không biết xấu hổ?
Tại các nước lớn trên thế giới, thuế suất đánh vào ngành khai thác dầu đều bằng khoảng mười mấy phần trăm giá dầu. Chỉ có ở Trung Quốc thuế suất loại thuế tài nguyên này chưa tới 1%. Như vậy chẳng phải là hầu như miễn phí giao tài nguyên thiên nhiên cho vị “Con cả nước Cộng hòa” ấy bới tung lên đó sao? Trong tình hình đó tổng giá trị thị trường của doanh nghiệp dầu khí độc quyền Trung Quốc xếp thứ nhất toàn cầu, lợi nhuận ngày một tăng, điều này có gì mà huênh hoang? Họ chẳng đem lại bao nhiêu lợi ích lớn cho đời sống nhân dân, sau này khi tài nguyên khô kiệt sẽ chỉ để lại sự bần cùng và ô nhiễm.
Chính là cái doanh nghiệp độc quyền hiệu suất cực thấp mà lợi nhuận cực cao ấy lại dăm ngày ba bận gây ra sự căng thẳng trong cung cấp dầu khí, không ngại gây thiệt hại cho các doanh nghiệp khác và thúc ép Bộ Tài chính thỉnh thoảng cấp cho họ những khoản “trợ cấp” khổng lồ.
Than ôi! Những vị “Con cả của nước Cộng hòa” có “giá trị thị trường đứng đầu toàn cầu” ấy có hiếu kính cha mẹ của mình – nhà nước – hay không? Có yêu mến hơn một tỷ “em trai em gái” của mình hay không?
Doanh nghiệp quốc doanh là hình thức quan trọng để chính quyền can thiệp thị trường, đặc biệt là các doanh nghiệp quốc doanh độc quyền. Nhân dân nước ta cần cù lao động mà không giàu lên được, tài nguyên nước ta bị khai thác với hiệu suất thấp như vậy – trong việc này các doanh nghiệp quốc doanh độc quyền phải chịu trách nhiệm chủ yếu.
Trong một bài báo của mình, ông Hứa Tiểu Niên [5] viết: Trải qua 30 năm cải cách mở cửa, chính quyền trở thành tập đoàn lợi ích đặc biệt trong thị trường. Quyền thế chuyển hóa thành lợi ích kinh tế; một thị trường như vậy nếu phát triển tiếp sẽ rất nguy hiểm – đây là con đường của Suharto ở Indonesia, của Marcos ở Philippines, con đường áp chế quyền lợi của dân chúng và quyền lợi của các doanh nghiệp, đi ngược lại phương hướng cải cách thị trường hóa của Đặng Tiểu Bình.
Đúng như GS Ngô Kính Liên [6] từng chỉ rõ: đặc điểm bản chất nhất của kinh tế thị trường là sự trao đổi tự do, tự chủ; nếu ở bên trên luôn luôn có sự khống chế của lực lượng hành chính, nếu chính phủ có thế mạnh lại hoạt động mạnh tới mức chủ đạo trình độ điều phối nguồn tài nguyên kinh tế, thế thì không gọi là kinh tế thị trường nữa mà gọi là chủ nghĩa tư bản thân quen [7] mất rồi!
Cần kiên quyết bảo vệ kinh tế thị trường
GS Trương Duy Nghênh viết tiếp: Vì sao phải bảo vệ kinh tế thị trường? Trước hết, kinh tế thị trường không được những kẻ đã giành được quyền lợi và tầng lớp đặc quyền ưa thích lắm. Kinh tế thị trường là chế độ bình đẳng nhất kể từ khi loài người có sử, nó tạo ra cơ hội cho mỗi người, nó từ chối đặc quyền. Nó có thể làm cho người nghèo trở thành giàu và làm cho người giàu trở thành nghèo. Cho nên kẻ có đặc quyền, hoặc kẻ thích đặc quyền, hoặc kẻ muốn qua đặc quyền mà thu được lợi ích đều không muốn chấp nhận sự thách thức của kinh tế thị trường, vì nền kinh tế đó xung đột với lợi ích của họ. Lịch sử cho thấy, lực lượng lớn nhất chống đối kinh tế thị trường chính là tầng lớp đặc quyền và những kẻ đã giành được quyền lợi.
GS Trương viết, kinh tế thị trường có một nhược điểm: khi bạn được hưởng mặt tốt của nó thì bạn có thể thấy nó toàn là khuyết điểm; khi bạn không có dịp hưởng mặt tốt của nó thì bạn lại chẳng thấy đâu là ưu điểm của nó. Nhất là khi do sự can thiệp không thích đáng của chính quyền hoặc của một cường quyền nào đó làm cho sự vận hành bình thường của kinh tế thị trường bị phá hoại, khiến cho nó thể hiện thành một loại kinh tế thị trường bệnh hoạn, khi ấy người ta thường hay tưởng rằng đó là khiếm khuyết bản thân của nó.
Như vậy, cảm giác sai lầm nói trên của mọi người sẽ rất dễ bị bọn theo chủ nghĩa cơ hội lợi dụng.
“Vì rất nhiều người chưa thể nhìn nhận một cách có lý trí các vấn đề xuất hiện trong xã hội, do đó đã tạo cơ hội cho những kẻ quen phỉnh phờ lấy lòng quần chúng. Bọn họ phê bình kinh tế thị trường, không phải vì họ nhất định cho rằng kinh tế thị trường không tốt mà là do họ biết rằng phê bình như thế sẽ được công chúng khen ngợi và ủng hộ. Số người ấy có thể là học giả, cũng có thể là các nhân vật chính trị.
Do nhu cầu chính trị, từ xưa tới nay bao giờ cũng có một số nhà chính trị nói xấu kinh tế thị trường, bởi lẽ họ biết rằng nếu đưa ra các khẩu hiệu và chính sách chống kinh tế thị trường thì họ sẽ được ca ngợi, giành được nhiều phiếu bầu. Các nhà chính trị thích hứa cho mọi người được ăn bữa trưa miễn phí, vì mọi người thích được ăn như thế, nhưng các nhà kinh tế thì lại bảo mọi người là trên thế giới này không bao giờ có bữa trưa miễn phí. Cho nên dù xưa hoặc nay, dù ở Trung Quốc hoặc nước ngoài bao giờ cũng có rất nhiều người phản đối lô-gic của kinh tế học, coi các nhà kinh tế là kẻ thù.”
Đúng vậy, việc các quan chức chính quyền tự giác hoặc không tự giác đổ lỗi cho kinh tế thị trường đã trở thành một hiện tượng phổ biến.
Vì thế chúng ta phải bảo vệ kinh tế thị trường!
Nguồn : tiasang.com.vn
Tìm kiếm
Thứ Ba, 28 tháng 12, 2010
Thứ Ba, 14 tháng 12, 2010
Viên ngọc quý và trái tim ấm áp
Những cống hiến thầm lặng suốt 15 năm qua của một người Hà Nội- PGS.TS.BS Nguyễn Quang Tuấn, Viện Tim mạch Việt Nam- đã góp phần làm thay đổi sâu sắc lĩnh vực Tim mạch can thiệp (TMCT) Việt Nam.
Một con người không nhàm chán
“Tôi biết mình đi qua cuộc đời này chỉ một lần. Vì vậy nếu cần thể hiện tình cảm của mình với ai đó, hoặc làm một điều tốt đẹp cho những người xung quanh, tôi xin làm ngay trong lúc này. Vì rằng tôi sẽ không quay lại cuộc đời này một lần nữa” (William Penn).
PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn đã lấy lời dẫn chân thành, tha thiết ấy để trải lòng mình với cuộc đời và người bệnh trong cuốn “Tự sự của trái tim” của anh- một cuốn sách phản ánh khá rõ con đường khoa học mà anh đang đi và những cảm nhận sâu sắc của trái tim anh với trái tim người bệnh. Nhưng dường ấy những tự sự của anh trong những trang viết cũng chưa đủ để hiểu về con người có sức hấp dẫn đặc biệt này.
Ít ai biết rằng PGS. Tuấn đến với nghề y lại xuất thân từ một học sinh giỏi quốc gia môn vật lý. Trận ốm khá nặng đã làm cậu học trò xuất sắc Nguyễn Quang Tuấn không thể đến Bungari dự kỳ thi Olympic Vật lý quốc tế năm 1983. Số phận đã khiến anh không đi theo lĩnh vực vật lý nguyên tử mà tìm đến con đường của y học.
Nhưng chỉ ít ngày trở thành tân sinh viên Đại học Y Hà Nội, anh nhận được lệnh nhập ngũ lên chiến trường biên giới phía Bắc. Sau 4 năm trận mạc, anh lính trẻ Nguyễn Quang Tuấn trở về giảng đường đại học với niềm háo hức và khát vọng tràn đầy về cuộc sống.
Rất nhanh chóng anh có được một trong những vị trí dẫn đầu thành tích học tập toàn khóa, giải nhất sinh viên thanh lịch Trường Đại học Y Hà Nội, là tín đồ của nhiếp ảnh. Khi bắt đầu đi lâm sàng tại bệnh viện, chứng kiến các bác sĩ tim mạch mang đến sự hồi sinh kỳ diệu cho những trái tim đang dần nguội lạnh đã cuốn hút anh. Và thế rồi cái duyên gắn bó chuyên ngành tim mạch bắt đầu từ đó.
Sự tinh tế trong tâm hồn và nguồn tri thức phong phú trong nhiều lĩnh vực đã khiến những báo cáo khoa học của anh không khô khan, đơn điệu mà có sức hút đặc biệt. Ngay cả khi những lời khuyên của Đức Đại lai Lạt ma cũng có thể biến hóa trong một bài báo cáo, đem đến sự kết hợp độc đáo giữa bằng chứng khoa học và tư duy triết học.
GS. Shigeru Saito, Chủ tịch Hội tim mạch Nhật Bản kể rằng, ấn tượng đầu tiên của ông với BS. Tuấn là một người còn khá trẻ, thanh tú, có phong thái nho nhã phương Đông đặc trưng và rất tự tin. Đó là lần đầu tiên ông nghe BS. Tuấn báo cáo khoa học tại Hồng Kông hoàn toàn bằng tiếng Pháp, giao lưu với mọi người đều bằng tiếng Pháp. Nhưng lần sau ông gặp lại anh ở một hội nghị khoa học quốc tế khác thì rất ngạc nhiên khi nghe BS. Tuấn tham gia báo cáo hoàn toàn bằng tiếng Anh rất nhuần nhuyễn. Mỗi lần đến Hà Nội làm việc, ông được hiểu rất nhiều về nền văn hóa nơi đây, về những con phố, về loài hoa sữa đặc trưng của mùa thu Hà Nội…từ một người con của Hà Nội - BS. Nguyễn Quang Tuấn.
Khi nói về người học trò xuất sắc của mình, GS. Phạm Gia Khải - Chủ tịch Hội tim mạch Việt Nam - đã dành cho anh một câu: “con người này quả thực là không nhàm chán”.
Phía sau ánh hào quang
Giải nhất nhân tài đất Việt năm 2010 lĩnh vực y tế về đề tài “Can thiệp động mạch vành qua đường ống thông” vinh danh PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn và TS. Phạm Mạnh Hùng, khẳng định trình độ làm chủ những kỹ thuật cao trong y tế của các bác sĩ Việt Nam. Giải thưởng là sự ghi nhận của xã hội, là sự động viên khích lệ. Nhưng ngay cả khi không có những giải thưởng đó thì hằng ngày những người bác sĩ như anh vẫn âm thầm làm việc và cống hiến. Bởi đối với họ công việc cũng tự nhiên như hơi thở, như nhịp đập của trái tim.
Vào ngày thứ hai của khoá học nội trú (năm 1994), GS. Phạm Gia Khải đưa BS. Tuấn đến một căn phòng tuềnh toàng của Viện tim mạch, có vài dụng cụ đơn giản, bảo đó là phòng thủ thuật can thiệp. Anh chia sẻ “Lúc bấy giờ tôi mới biết đến TMCT qua đọc sách nên khi đến phòng đó tôi chỉ thấy giống như một cái kho đựng đồ lặt vặt! Nhưng cũng ngay từ giây phút đó tôi cảm nhận được cơ hội tuyệt vời mà thầy Khải dành cho tôi, dù có thể lúc đó nhiều người cho là mạo hiểm vì không hiểu tôi sẽ làm gì để TMCT thực sự hiện diện ở nơi đây”.
GS. Khải kể rằng: “Năm 1995, tôi giới thiệu BS Nội trú Nguyễn Quang Tuấn sang học ở Pháp, đề tài là “Tim mạch học can thiệp”, một chuyên ngành lúc đó Việt Nam còn ở bước sơ khai, mà nhu cầu thì rất nhiều trong điều trị. Tôi được bạn đồng nghiệp ở Pháp cho biết ngoài những giờ làm việc rất hăng say ở phòng thông tim mạch, Tuấn còn tập luyện đều đặn, mỗi sáng chạy 5km và học võ Aikido”.
Sau khi đi du học tại Pháp, Mỹ, BS. Tuấn về nhận công tác tại Viện tim mạch Việt Nam. Anh ám ảnh mãi về ca can thiệp đầu tiên thất bại. Lúc ấy, trình độ kĩ thuật của Việt Nam còn non nớt, trang thiết bị y tế lạc hậu, đội ngũ bác sĩ chưa có nhiều kinh nghiệm, việc điều trị vẫn trông chờ vào may rủi. Thời điểm bắt đầu áp dụng phương pháp điều trị bằng can thiệp đã vấp phải nhiều rào cản. Chi phí trung bình cho mỗi ca can thiệp động mạch vành khoảng 2.000 USD, vào lúc đó là quá lớn đối với nhiều bệnh nhân (năm 1997). Nhiều người vẫn chưa tin tưởng vào khả năng của các bác sĩ Việt Nam và cũng chưa biết nhiều về phương pháp điều trị này. Sự xuất hiện của TMCT cũng không nhận được sự ủng hộ ngay của các đồng nghiệp khác trong nước. Nong động mạch vành bị tắc vì xơ vữa động mạch còn bị cho là quá xa vời, vì nhiều người cho rằng đó là bệnh của riêng các nước phát triển. Bởi thế, thời gian đầu, trung bình mỗi năm chỉ có 8-10 ca tới điều trị. Phải tới năm 1999, phương pháp này mới được ứng dụng rộng rãi.
Sự phát triển mạnh mẽ của TMCT đang thu hút rất nhiều bác sĩ trẻ. Nhưng đó là một công việc không kém phần nghiệt ngã. Hầu hết những bác sĩ làm can thiệp đều bị đứt gãy nhiễm sắc thể vì họ phải tiếp xúc trực tiếp với các tia phóng xạ trong lúc làm can thiệp. Nguy cơ ung thư, vô sinh hay sinh con dị tật là rất lớn. Đối với BS. Tuấn, mỗi lần vợ mang thai, anh vừa hạnh phúc vừa hồi hộp lo lắng, ngay cả khi siêu âm thai biết con đầy đủ chân tay nhưng vẫn chưa hết lo. GS. Khải là người hiểu hơn ai hết điều này, mỗi khi biết vợ anh sinh con, câu đầu tiên GS hỏi là “con cậu sinh ra bình thường chứ?”. Anh bảo nhìn hai đứa con lớn lên khỏe mạnh như những đứa trẻ khác anh như trút được gánh nặng âm thầm trong lòng.
Nơi tình yêu bất diệt
Là người hồi sinh rất nhiều những quả tim ngừng đập, tự tin cứu sống những nhân vật của quốc gia đại sự và là một trong số ít bác sĩ Việt Nam có trình độ chuyên môn ngang tầm với nhiều tên tuổi của lĩnh vực tim mạch thế giới…nhưng trớ trêu thay PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn lại bất lực trước bệnh tật của mẹ mình. Anh như chết lặng khi biết mẹ bị u não giai đoạn cuối! Cuộc sống đôi khi vẫn xảy ra những điều lạnh lùng, tàn nhẫn buộc con người ta phải dũng cảm đối mặt.
Anh nói rằng mình là “khúc ruột thứ 6” của mẹ trong gia đình có 8 anh chị em. Nhà đông con, mỗi đứa một tính nhưng ai cũng được nhận tình yêu thương vô bờ bến và sự bao dung, che chở của mẹ. Người phụ nữ đảm đang và sâu sắc đó không bao giờ đặt mục tiêu, nhiệm vụ nào cho các con nhưng từ bé anh đã cảm nhận sự kỳ vọng lớn lao của mẹ dành cho anh, thấu hiểu những hy sinh vất vả mà bà chịu đựng vì con. 17 tuổi, lần đầu tiên cậu học trò Nguyễn Quang Tuấn rời xa vòng tay mẹ, rời xa Hà Nội một mạch lên chiến trường biên giới phía Bắc. Sau 3 tháng huấn luyện xuất sắc anh lính tên lửa được thưởng mấy ngày phép về thăm nhà, cảm giác lâng lâng khoác trên vai ba lô nhẹ tênh, sải chân trên phố, hình ảnh mẹ với nụ cười đôn hậu và ánh mắt mừng vui nhưng loáng nước đứng đợi anh trước hiên nhà đã khắc sâu trong anh. Mỗi lần nhận được thư anh mẹ đều đọc đi đọc lại, nhiều đêm bà ngồi lặng lẽ một mình và âm thầm khóc vì nhớ thương con… Rồi anh trở thành bác sĩ, làm giảng viên đại học, đi Tây, đi Tàu triền miên nhưng mỗi khi trở về bên mẹ anh vẫn luôn cảm thấy mình bé nhỏ và cần được chở che.
Có câu chuyện kể rằng: Vào một ngày nắng ấm áp, một thiên sứ xuống trần gian dạo chơi. Ngài tìm thấy 3 kỷ vật đẹp đẽ nhất nơi trần thế và quyết định mang về thiên đàng, đó là những bông hoa hồng rực rỡ, nụ cười thơ ngây trong trẻo của cậu bé dành cho mẹ và tình yêu của người mẹ trào dâng như dòng nước từ một con sông đang chảy vào nôi và vào lòng cậu bé. Trước khi bước vào ngọ môn, thiên sứ kiểm tra lại những kỷ vật mang về thì nhận ra những đóa hồng đã héo, nụ cười của cậu bé cũng dần nhạt phai. Kỳ lạ thay chỉ có tình yêu của người mẹ là vẫn giữ được vẻ đẹp tinh khôi trong suốt chặng đường đến thiên đàng. Câu chuyện xúc động và đầy tính triết lý này khiến tôi tin rằng BS. Nguyễn Quang Tuấn vẫn luôn được mẹ dõi theo những bước đi của anh, bà sẽ mãn nguyện và thanh thản biết bao khi thấy con trai đạt nhiều hơn những thành công và vơi dần đi những trở trăn, phiền muộn…Dù rằng bà đã ở một nơi rất xa, nơi tình yêu bất diệt của những người mẹ được trân trọng cất giữ.
Theo : SK&DS
Một con người không nhàm chán
“Tôi biết mình đi qua cuộc đời này chỉ một lần. Vì vậy nếu cần thể hiện tình cảm của mình với ai đó, hoặc làm một điều tốt đẹp cho những người xung quanh, tôi xin làm ngay trong lúc này. Vì rằng tôi sẽ không quay lại cuộc đời này một lần nữa” (William Penn).
PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn đã lấy lời dẫn chân thành, tha thiết ấy để trải lòng mình với cuộc đời và người bệnh trong cuốn “Tự sự của trái tim” của anh- một cuốn sách phản ánh khá rõ con đường khoa học mà anh đang đi và những cảm nhận sâu sắc của trái tim anh với trái tim người bệnh. Nhưng dường ấy những tự sự của anh trong những trang viết cũng chưa đủ để hiểu về con người có sức hấp dẫn đặc biệt này.
Ít ai biết rằng PGS. Tuấn đến với nghề y lại xuất thân từ một học sinh giỏi quốc gia môn vật lý. Trận ốm khá nặng đã làm cậu học trò xuất sắc Nguyễn Quang Tuấn không thể đến Bungari dự kỳ thi Olympic Vật lý quốc tế năm 1983. Số phận đã khiến anh không đi theo lĩnh vực vật lý nguyên tử mà tìm đến con đường của y học.
Nhưng chỉ ít ngày trở thành tân sinh viên Đại học Y Hà Nội, anh nhận được lệnh nhập ngũ lên chiến trường biên giới phía Bắc. Sau 4 năm trận mạc, anh lính trẻ Nguyễn Quang Tuấn trở về giảng đường đại học với niềm háo hức và khát vọng tràn đầy về cuộc sống.
Rất nhanh chóng anh có được một trong những vị trí dẫn đầu thành tích học tập toàn khóa, giải nhất sinh viên thanh lịch Trường Đại học Y Hà Nội, là tín đồ của nhiếp ảnh. Khi bắt đầu đi lâm sàng tại bệnh viện, chứng kiến các bác sĩ tim mạch mang đến sự hồi sinh kỳ diệu cho những trái tim đang dần nguội lạnh đã cuốn hút anh. Và thế rồi cái duyên gắn bó chuyên ngành tim mạch bắt đầu từ đó.
Sự tinh tế trong tâm hồn và nguồn tri thức phong phú trong nhiều lĩnh vực đã khiến những báo cáo khoa học của anh không khô khan, đơn điệu mà có sức hút đặc biệt. Ngay cả khi những lời khuyên của Đức Đại lai Lạt ma cũng có thể biến hóa trong một bài báo cáo, đem đến sự kết hợp độc đáo giữa bằng chứng khoa học và tư duy triết học.
GS. Shigeru Saito, Chủ tịch Hội tim mạch Nhật Bản kể rằng, ấn tượng đầu tiên của ông với BS. Tuấn là một người còn khá trẻ, thanh tú, có phong thái nho nhã phương Đông đặc trưng và rất tự tin. Đó là lần đầu tiên ông nghe BS. Tuấn báo cáo khoa học tại Hồng Kông hoàn toàn bằng tiếng Pháp, giao lưu với mọi người đều bằng tiếng Pháp. Nhưng lần sau ông gặp lại anh ở một hội nghị khoa học quốc tế khác thì rất ngạc nhiên khi nghe BS. Tuấn tham gia báo cáo hoàn toàn bằng tiếng Anh rất nhuần nhuyễn. Mỗi lần đến Hà Nội làm việc, ông được hiểu rất nhiều về nền văn hóa nơi đây, về những con phố, về loài hoa sữa đặc trưng của mùa thu Hà Nội…từ một người con của Hà Nội - BS. Nguyễn Quang Tuấn.
Khi nói về người học trò xuất sắc của mình, GS. Phạm Gia Khải - Chủ tịch Hội tim mạch Việt Nam - đã dành cho anh một câu: “con người này quả thực là không nhàm chán”.
Phía sau ánh hào quang
Giải nhất nhân tài đất Việt năm 2010 lĩnh vực y tế về đề tài “Can thiệp động mạch vành qua đường ống thông” vinh danh PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn và TS. Phạm Mạnh Hùng, khẳng định trình độ làm chủ những kỹ thuật cao trong y tế của các bác sĩ Việt Nam. Giải thưởng là sự ghi nhận của xã hội, là sự động viên khích lệ. Nhưng ngay cả khi không có những giải thưởng đó thì hằng ngày những người bác sĩ như anh vẫn âm thầm làm việc và cống hiến. Bởi đối với họ công việc cũng tự nhiên như hơi thở, như nhịp đập của trái tim.
Vào ngày thứ hai của khoá học nội trú (năm 1994), GS. Phạm Gia Khải đưa BS. Tuấn đến một căn phòng tuềnh toàng của Viện tim mạch, có vài dụng cụ đơn giản, bảo đó là phòng thủ thuật can thiệp. Anh chia sẻ “Lúc bấy giờ tôi mới biết đến TMCT qua đọc sách nên khi đến phòng đó tôi chỉ thấy giống như một cái kho đựng đồ lặt vặt! Nhưng cũng ngay từ giây phút đó tôi cảm nhận được cơ hội tuyệt vời mà thầy Khải dành cho tôi, dù có thể lúc đó nhiều người cho là mạo hiểm vì không hiểu tôi sẽ làm gì để TMCT thực sự hiện diện ở nơi đây”.
GS. Khải kể rằng: “Năm 1995, tôi giới thiệu BS Nội trú Nguyễn Quang Tuấn sang học ở Pháp, đề tài là “Tim mạch học can thiệp”, một chuyên ngành lúc đó Việt Nam còn ở bước sơ khai, mà nhu cầu thì rất nhiều trong điều trị. Tôi được bạn đồng nghiệp ở Pháp cho biết ngoài những giờ làm việc rất hăng say ở phòng thông tim mạch, Tuấn còn tập luyện đều đặn, mỗi sáng chạy 5km và học võ Aikido”.
Sau khi đi du học tại Pháp, Mỹ, BS. Tuấn về nhận công tác tại Viện tim mạch Việt Nam. Anh ám ảnh mãi về ca can thiệp đầu tiên thất bại. Lúc ấy, trình độ kĩ thuật của Việt Nam còn non nớt, trang thiết bị y tế lạc hậu, đội ngũ bác sĩ chưa có nhiều kinh nghiệm, việc điều trị vẫn trông chờ vào may rủi. Thời điểm bắt đầu áp dụng phương pháp điều trị bằng can thiệp đã vấp phải nhiều rào cản. Chi phí trung bình cho mỗi ca can thiệp động mạch vành khoảng 2.000 USD, vào lúc đó là quá lớn đối với nhiều bệnh nhân (năm 1997). Nhiều người vẫn chưa tin tưởng vào khả năng của các bác sĩ Việt Nam và cũng chưa biết nhiều về phương pháp điều trị này. Sự xuất hiện của TMCT cũng không nhận được sự ủng hộ ngay của các đồng nghiệp khác trong nước. Nong động mạch vành bị tắc vì xơ vữa động mạch còn bị cho là quá xa vời, vì nhiều người cho rằng đó là bệnh của riêng các nước phát triển. Bởi thế, thời gian đầu, trung bình mỗi năm chỉ có 8-10 ca tới điều trị. Phải tới năm 1999, phương pháp này mới được ứng dụng rộng rãi.
Sự phát triển mạnh mẽ của TMCT đang thu hút rất nhiều bác sĩ trẻ. Nhưng đó là một công việc không kém phần nghiệt ngã. Hầu hết những bác sĩ làm can thiệp đều bị đứt gãy nhiễm sắc thể vì họ phải tiếp xúc trực tiếp với các tia phóng xạ trong lúc làm can thiệp. Nguy cơ ung thư, vô sinh hay sinh con dị tật là rất lớn. Đối với BS. Tuấn, mỗi lần vợ mang thai, anh vừa hạnh phúc vừa hồi hộp lo lắng, ngay cả khi siêu âm thai biết con đầy đủ chân tay nhưng vẫn chưa hết lo. GS. Khải là người hiểu hơn ai hết điều này, mỗi khi biết vợ anh sinh con, câu đầu tiên GS hỏi là “con cậu sinh ra bình thường chứ?”. Anh bảo nhìn hai đứa con lớn lên khỏe mạnh như những đứa trẻ khác anh như trút được gánh nặng âm thầm trong lòng.
Nơi tình yêu bất diệt
Là người hồi sinh rất nhiều những quả tim ngừng đập, tự tin cứu sống những nhân vật của quốc gia đại sự và là một trong số ít bác sĩ Việt Nam có trình độ chuyên môn ngang tầm với nhiều tên tuổi của lĩnh vực tim mạch thế giới…nhưng trớ trêu thay PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn lại bất lực trước bệnh tật của mẹ mình. Anh như chết lặng khi biết mẹ bị u não giai đoạn cuối! Cuộc sống đôi khi vẫn xảy ra những điều lạnh lùng, tàn nhẫn buộc con người ta phải dũng cảm đối mặt.
Anh nói rằng mình là “khúc ruột thứ 6” của mẹ trong gia đình có 8 anh chị em. Nhà đông con, mỗi đứa một tính nhưng ai cũng được nhận tình yêu thương vô bờ bến và sự bao dung, che chở của mẹ. Người phụ nữ đảm đang và sâu sắc đó không bao giờ đặt mục tiêu, nhiệm vụ nào cho các con nhưng từ bé anh đã cảm nhận sự kỳ vọng lớn lao của mẹ dành cho anh, thấu hiểu những hy sinh vất vả mà bà chịu đựng vì con. 17 tuổi, lần đầu tiên cậu học trò Nguyễn Quang Tuấn rời xa vòng tay mẹ, rời xa Hà Nội một mạch lên chiến trường biên giới phía Bắc. Sau 3 tháng huấn luyện xuất sắc anh lính tên lửa được thưởng mấy ngày phép về thăm nhà, cảm giác lâng lâng khoác trên vai ba lô nhẹ tênh, sải chân trên phố, hình ảnh mẹ với nụ cười đôn hậu và ánh mắt mừng vui nhưng loáng nước đứng đợi anh trước hiên nhà đã khắc sâu trong anh. Mỗi lần nhận được thư anh mẹ đều đọc đi đọc lại, nhiều đêm bà ngồi lặng lẽ một mình và âm thầm khóc vì nhớ thương con… Rồi anh trở thành bác sĩ, làm giảng viên đại học, đi Tây, đi Tàu triền miên nhưng mỗi khi trở về bên mẹ anh vẫn luôn cảm thấy mình bé nhỏ và cần được chở che.
Có câu chuyện kể rằng: Vào một ngày nắng ấm áp, một thiên sứ xuống trần gian dạo chơi. Ngài tìm thấy 3 kỷ vật đẹp đẽ nhất nơi trần thế và quyết định mang về thiên đàng, đó là những bông hoa hồng rực rỡ, nụ cười thơ ngây trong trẻo của cậu bé dành cho mẹ và tình yêu của người mẹ trào dâng như dòng nước từ một con sông đang chảy vào nôi và vào lòng cậu bé. Trước khi bước vào ngọ môn, thiên sứ kiểm tra lại những kỷ vật mang về thì nhận ra những đóa hồng đã héo, nụ cười của cậu bé cũng dần nhạt phai. Kỳ lạ thay chỉ có tình yêu của người mẹ là vẫn giữ được vẻ đẹp tinh khôi trong suốt chặng đường đến thiên đàng. Câu chuyện xúc động và đầy tính triết lý này khiến tôi tin rằng BS. Nguyễn Quang Tuấn vẫn luôn được mẹ dõi theo những bước đi của anh, bà sẽ mãn nguyện và thanh thản biết bao khi thấy con trai đạt nhiều hơn những thành công và vơi dần đi những trở trăn, phiền muộn…Dù rằng bà đã ở một nơi rất xa, nơi tình yêu bất diệt của những người mẹ được trân trọng cất giữ.
Theo : SK&DS
Thứ Sáu, 10 tháng 12, 2010
Gợi ý của đại học hàng đầu
1. Giáo dục đại học phải đào tạo công dân tốt
Vì sao nước Mỹ là siêu cường quốc? Trước hết Mỹ là một nước lớn giáo dục, hơn nữa là cường quốc giáo dục. Tỷ lệ học sinh nhập học giáo dục cao đẳng Mỹ hiện nay đã vượt trên 90%.
Trung Quốc chúng ta cũng là một nước lớn giáo dục; tỷ lệ học sinh nhập học giáo dục cao đẳng đã từ 1,4% năm 1978 tăng lên 23% hiện nay; tổng số sinh viên đã vượt quá 20 triệu, thứ nhất thế giới, nhưng chúng ta vẫn chưa phải là một cường quốc giáo dục.
Tư tưởng cơ bản của giáo dục Mỹ là đào tạo công dân tốt. Công dân được đào tạo tốt thì sẽ có người tài. Khẩu hiệu của ngành giáo dục Mỹ viết “Bảo đảm chất lượng giáo dục, bảo đảm giáo dục công bằng”.
Giáo dục phải đào tạo được công dân tốt cho xã hội. Tôi cảm thấy vấn đề làm thế nào để sinh viên đại học ngày nay trở thành công dân tốt là vấn đề rất quan trọng. Một nhà nghiên cứu sử từng nói, nền văn minh 5.000 năm của Trung Quốc rất vẻ vang, rất phong phú, nhưng thiếu một chữ “công”. Nền giáo dục truyền thống của chúng ta chú trọng trung và hiếu, trung là phải trung thành với vua, hiếu là phải hiếu thuận với cha mẹ; kết quả là “công đức” [1], cái không gian rất rộng này bị chúng ta bỏ qua mất.
Có người nói Thượng Hải sắp vượt Hồng Công. Đúng là xét về mặt xây dựng nhà cao tầng thì sẽ nhanh chóng vượt đấy, nhưng tố chất giáo dục thì sao? [2] Tố chất của công dân thế nào? Chúng ta còn phải đi một chặng đường rất dài để đạt được công đức. Điều quan trọng chính hiện nay là phải đào tạo công dân, đào tạo công dân tốt cho xã hội. Điều này nên trở thành nội dung quan trọng trong nội hàm văn hoá đại học.
2. Giáo dục đại học không thể thiếu được “Tình yêu lớn”
Tình yêu lớn là một điểm quan trọng trong nội hàm của văn hoá đại học. Xin nêu vài thí dụ sau đây để giới thiệu qua về chuyện các trường đại học hàng đầu yêu quý giảng viên và sinh viên như thế nào.
Ông Andrew Wiles, người Anh, năm 1985 được đề bạt là giáo sư chính thức của ĐH Princeton, nhưng 9 năm liền sau đó ông không viết một bài báo khoa học nào. Từ Hiệu trưởng cho tới Chủ nhiệm khoa đều không biết trong thời gian ấy ông làm gì và họ cũng chẳng để ý việc ông làm gì. Sau 9 năm trời, ông giải được bài toán khó 360 năm qua giới toán học thế giới chưa giải được – chứng minh được định lý lớn Fermat. Kết quả Andrew Wiles được tặng giải thưởng toán học cao nhất hiện nay – Giải Thành tựu đặc biệt Fields; cho tới nay ông là người duy nhất được trao giải thành tựu đặc biệt này. [3]
Giáo sư John Nash mắc bệnh tâm thần hơn 30 năm, nhưng sau khi ông mắc bệnh thì ĐH Princeton lại mời ông từ Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) về trường mình, bố trí phòng làm việc cho ông, đem lại tình thương yêu ấm áp cho ông. Đồng thời người nhà và bạn đồng nghiệp đều hết sức quan tâm giúp đỡ Nash. Ba chục năm sau, huyền thoại xuất hiện: John Nash khỏe mạnh trở lại và năm 1994 được tặng giải Nobel [Kinh tế]. Đây chính là sức thu hút của ĐH Princeton! Câu chuyện của giáo sư John Nash được viết thành tiểu thuyết “Một tâm hồn đẹp” [4] rồi dựng thành phim, phim này đã đoạt giải Oscar.
Cho nên đại học có đại sư rồi lại còn phải có tình yêu lớn. Trường đại học hàng đầu phải là nơi chỗ nào cũng thấy những tâm hồn đẹp. “Tâm hồn đẹp” là nội hàm văn hoá của ĐH Princeton! Nhà trường quan tâm đến thầy giáo của mình, tạo môi trường thoải mái cho thầy, để thầy tự do sáng tạo.
Còn có một giáo sư người Mỹ gốc Hoa là ông Dương Tổ Hựu, hiện là Hiệu trưởng một đại học nổi tiếng ở Mỹ. Trong năm đầu tiên nhậm chức Hiệu trưởng, ông đã hơn 100 lần mời cơm hơn 900 giáo sư. Ông vô cùng quan tâm mọi người, coi người tài là thứ quý giá nhất. Kết quả trong thời gian ông làm Hiệu trưởng, trường này đã có 5 giáo sư được tặng giải Nobel. Ông vẫn kiên trì lên lớp giảng dạy cho sinh viên và 13 năm liền hướng dẫn nghiên cứu sinh.
Tại Học viện Y khoa ĐH Harvard, tôi có gặp một vị giáo sư già làm phụ đạo cho sinh viên. Tôi hỏi ông phụ đạo bao nhiêu học trò, ông đáp hơn 160 người. Lúc đó quả thực tôi không dám tin vào con số ấy. Hơn nữa, điều càng làm tôi khó có thể tưởng tượng là ông nắm vững tình hình mọi mặt của từng sinh viên như trong lòng bàn tay. Vì thế mọi người gọi ông là “Chuẩn cha mẹ”. Đây là tình yêu thầy trò. Ba nghìn năm trước, một triết gia từng nói: “Đầu óc không phải là cái vật chứa đựng mà nên là bó đuốc được đốt cháy”.
3. Giáo dục đại học phải bồi dưỡng cho sinh viên quan niệm giá trị, quan niệm đạo đức, quan niệm tư duy, phương thức làm người và năng lực công tác xã hội
Vì sao ĐH Yale có thể đào tạo được nhiều lãnh tụ như thế cho nước Mỹ và cho thế giới?
Trường này có một quy chế yêu quý sinh viên, – cái này họ học được từ chế độ trọ học viện và chế độ thầy hướng dẫn của Anh Quốc. Hiệu trưởng ĐH Yale khiêm tốn nói, “Tất cả những người sau này trở thành Tổng thống đều là những sinh viên từng đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo các đoàn thể trong ký túc xá, dưới sự chỉ đạo của thầy hướng dẫn”.
Công tác xã hội cũng là một công việc học tập và rèn luyện quan trọng, là “giảng đường thứ hai” quan trọng! Các nhân vật kiểu Tổng thống, lãnh tụ đều được đào tạo từ các tổ chức này.
Một sinh viên tốt nghiệp ĐH Yale cho biết, nhà trường chẳng những bồi dưỡng cho anh những thứ có liên quan tới tri thức cụ thể, mà còn dạy cho anh giá trị quan, quan niệm đạo đức, cách làm người, thói quen suy nghĩ v.v... – những điều đó vô cùng quan trọng đối với cuộc đời anh. Tất cả những thứ ấy không phải là do một người nào dạy cho anh, mà là anh học được trong bầu không khí văn hoá tồn tại ở ĐH Yale. “Thế giới của chúng ta cần phải khác đi vì có sự tồn tại của bạn. Phấn đấu vì chân lý có nghĩa là tiếp thụ văn hoá tinh thần; tinh thần có thể làm cuộc sống con người trở nên phong phú”. Câu này chưa ai từng nói rõ cho sinh viên ĐH Yale, song tinh thần đó tràn trề trong bầu không khí khuôn viên nhà trường, vì thế nó thấm vào tới chỗ sâu kín nhất trong đầu óc mỗi sinh viên, sục sôi trong huyết quản của họ.
4. Nhiệm vụ của giáo dục đại học là phát huy thiên tài của sinh viên
ĐH Oxford có câu nói: “Thầy hướng dẫn có nhiệm vụ thổi lửa cho các học trò, cho tới khi ngọn đuốc trong lòng họ rực cháy”.
Trường Cao đẳng Sư phạm Paris đã không gọi là Học viện, lại cũng không gọi là đại học, mà chỉ gọi là trường học thôi, một cái tên chúng ta rất coi thường, thế mà họ giữ lại cái tên đó, không đồng ý thay đổi. Nhưng Cao đẳng Sư phạm Paris cũng là một đại học hàng đầu thế giới. Ông Hiệu trưởng trường này từng nói tại Bắc Kinh một câu như sau: “Nhiệm vụ của trường học là phát huy thiên tài của sinh viên”.
Trong Lễ kỷ niệm 350 năm ngày thành lập ĐH Harvard, vị Hiệu trưởng trường này nói: “Thứ Harvard đáng khoe nhất không phải là giành được bao nhiêu giải Nobel, đào tạo được bao nhiêu Tổng thống, mà là làm cho mỗi viên ngọc khi đã vào Harvard rồi thì đều tỏa sáng”. Trước hết, ông thừa nhận mỗi người vào Harvard đều là một viên ngọc (nguyên văn: cục vàng), ông có nhiệm vụ làm cho tất cả họ đều tỏa sáng. Ý tưởng tổ chức học tập của ĐH Oxford, Cambridge cũng đều nhằm khai thác phát huy tiềm năng của sinh viên, khích lệ tinh thần sáng tạo của mỗi người.
Chỉ cần ngòi lửa trong bộ não của mỗi người đều được cháy lên thì dù người ấy học đại học hay cao đẳng, họ đều có thể tỏa sáng. Những thí dụ như vậy ở đâu cũng có.
5. Chớ nên coi đào tạo người tài trình độ cao là mục tiêu duy nhất của giáo dục đại học
Các vị phụ huynh Trung Quốc chúng ta đều mong muốn con em mình có thể trở thành tiến sĩ. Chế độ nhân sự của ta cũng quy định lương của người có học vị tiến sĩ thì cao hơn người có học vị thạc sĩ.
Gần đây một vị bác sĩ bảo tôi, người làm việc ở bệnh viện nếu không có học vị tiến sĩ thì khó trụ nổi [5]. Cũng vậy, mới đây hai vị thầy thuốc đạo cao đức trọng nói cùng một câu thế này: “Rất lo sẽ có ngày chết trên bàn mổ của học trò mình!” (ý nói các bác sĩ ngoại khoa chỉ có bằng tiến sĩ mà không có kinh nghiệm lâm sàng).
Nhưng tại các bệnh viện ở Anh Quốc, người có học vị tiến sĩ chỉ chiếm khoảng 10% tổng số thầy thuốc. Học viện Y khoa Phân hiệu Los Angeles của ĐH California là y học viện hàng đầu thế giới, sinh viên tốt nghiệp đại học thi vào trường này cứ 5700 thí sinh chỉ có một người trúng tuyển (số liệu năm 2005). Trong 1.185 sinh viên hiện có tại học viện thì 700 người đặt mục tiêu là trở thành bác sĩ y khoa (M.D, tức Medical Doctor); 485 người đặt mục tiêu trở thành tiến sĩ nghiên cứu y học (Ph.D., tức Philosophic Doctor hoặc Doctor of Philosophy, gọi chung là tiến sĩ triết học). Cả hai đều là Doctor cả nhưng hàm nghĩa khác nhau, mục tiêu cũng khác nhau. [Trong tiếng Việt] M.D. dịch là bác sĩ, Ph.D. dịch là tiến sĩ; hai học vị này không có sự phân chia ai cao ai thấp, nhưng lương của bác sĩ nói chung cao hơn tiến sĩ.
Một bà y tá cấp cao hưởng lương cao hơn ông chồng mình có học vị tiến sĩ. Tại một bệnh viện trực thuộc Học viện Y thuộc Phân hiệu ĐH Los Angeles, số người có học vị tiến sĩ là 10 người, chưa bằng 10% tổng số thầy thuốc. Tại một bệnh viện thần kinh khác, số bác sĩ thần kinh là 183 người, số nhà tâm lý học (đều có học vị tiến sĩ) là 122 người nhưng hầu như chẳng có ai vừa là thầy thuốc là vừa là tiến sĩ.
Mỹ là quốc gia phát triển cao, trong số 3.688 trường viện đại học-cao đẳng có 60% là trường chuyên ngành và trường cộng đồng; còn các trường đại học kiểu nghiên cứu chỉ chiếm 3%. Nhưng tại Trung Quốc, số lượng đơn vị được phép cấp học vị tiến sĩ lại nhiều hơn cả nước Mỹ, tuy rằng số lượng trường đại học-cao đẳng chuyên ngành thì kém xa Mỹ. Đồng thời gần đây các trường đại học ở Trung Quốc không ngừng mở rộng tuyển sinh, ngày càng có nhiều bạn trẻ có cơ hội vào đại học. Thế nhưng rất nhiều vị phụ huynh coi thường các trường đại học-cao đẳng chuyên ngành. Chế độ thi đại học-cao đẳng của chúng ta cũng chưa hợp lý, đưa số thí sinh đạt điểm thi thấp vào các trường chuyên ngành.
Một điều đáng suy ngẫm sâu sắc là rất nhiều trường đại học-cao đẳng nước ta theo đuổi mục tiêu “nâng cấp” trường mình thành trường tổng hợp, dẫn đến tình trạng số lượng trường đại học-cao đẳng chuyên ngành ngày một giảm bớt!
Ngành giáo dục của chúng ta không thể chỉ theo đuổi sự biến đổi số lượng sinh viên đại học mà quan trọng hơn là phải luôn luôn nâng chất lượng cơ cấu giáo dục cao đẳng. Có thể ví trường đại học-cao đẳng chuyên ngành và trường tổng hợp như hai loại nhạc cụ trong cùng một dàn nhạc. Khi lập kế hoạch phát triển giáo dục đại học-cao đẳng, nên phối hợp phát triển hài hòa cả hai loại trường này.
(Còn tiếp)
Huy Đường lược dịch
Ghi chú của người dịch:
[1] Trong tiếng Trung, Công đức là đạo đức tồn tại trong quần thể xã hội rộng, phân biệt với Tư đức là đạo đức tồn tại trong quần thể nhỏ hoặc giữa các cá nhân.
[2] Các đại học ở Hồng Công đều được xếp hạng cao hơn các đại học ở Bắc Kinh và Thượng Hải.
[3] Ở đây có lẽ tác giả nhầm lẫn. Thực ra Andrew Wiles không được trao giải Fields vì đã quá giới hạn 40 tuổi (sinh 1953, chứng minh được định lý lớn Fermat năm 1994, khi ấy ông đã 41 tuổi). Ông được tặng Đĩa bạc (Silver Plaque) của International Mathematical Union (IMU) năm 1998; ngoài ra còn được tặng Notable awards Fermat Prize (1995), Wolf Prize (1995/6) và Royal Medal (1996).
[4] Tên bộ phim là "A Beautiful Mind", dịch sang tiếng Trung thành Một tâm hồn đẹp là không sát nghĩa.
[5] Những năm gần đây TQ phát sinh tệ nạn sính bằng cấp tiến sĩ. Các đại học đua nhau tuyển nghiên cứu sinh (NCS) và “lạm phát” cấp bằng tiến sĩ; nạn đạo văn, gian lận trong việc làm luận văn và cấp bằng tiến sĩ rất phổ biến. Một cựu hiệu phó ĐH Bắc Kinh từng nói 70% nữ NCS trường ông bị thầy hướng dẫn “xài” (quấy nhiễu tình dục).
Vì sao nước Mỹ là siêu cường quốc? Trước hết Mỹ là một nước lớn giáo dục, hơn nữa là cường quốc giáo dục. Tỷ lệ học sinh nhập học giáo dục cao đẳng Mỹ hiện nay đã vượt trên 90%.
Trung Quốc chúng ta cũng là một nước lớn giáo dục; tỷ lệ học sinh nhập học giáo dục cao đẳng đã từ 1,4% năm 1978 tăng lên 23% hiện nay; tổng số sinh viên đã vượt quá 20 triệu, thứ nhất thế giới, nhưng chúng ta vẫn chưa phải là một cường quốc giáo dục.
Tư tưởng cơ bản của giáo dục Mỹ là đào tạo công dân tốt. Công dân được đào tạo tốt thì sẽ có người tài. Khẩu hiệu của ngành giáo dục Mỹ viết “Bảo đảm chất lượng giáo dục, bảo đảm giáo dục công bằng”.
Giáo dục phải đào tạo được công dân tốt cho xã hội. Tôi cảm thấy vấn đề làm thế nào để sinh viên đại học ngày nay trở thành công dân tốt là vấn đề rất quan trọng. Một nhà nghiên cứu sử từng nói, nền văn minh 5.000 năm của Trung Quốc rất vẻ vang, rất phong phú, nhưng thiếu một chữ “công”. Nền giáo dục truyền thống của chúng ta chú trọng trung và hiếu, trung là phải trung thành với vua, hiếu là phải hiếu thuận với cha mẹ; kết quả là “công đức” [1], cái không gian rất rộng này bị chúng ta bỏ qua mất.
Có người nói Thượng Hải sắp vượt Hồng Công. Đúng là xét về mặt xây dựng nhà cao tầng thì sẽ nhanh chóng vượt đấy, nhưng tố chất giáo dục thì sao? [2] Tố chất của công dân thế nào? Chúng ta còn phải đi một chặng đường rất dài để đạt được công đức. Điều quan trọng chính hiện nay là phải đào tạo công dân, đào tạo công dân tốt cho xã hội. Điều này nên trở thành nội dung quan trọng trong nội hàm văn hoá đại học.
2. Giáo dục đại học không thể thiếu được “Tình yêu lớn”
Tình yêu lớn là một điểm quan trọng trong nội hàm của văn hoá đại học. Xin nêu vài thí dụ sau đây để giới thiệu qua về chuyện các trường đại học hàng đầu yêu quý giảng viên và sinh viên như thế nào.
Ông Andrew Wiles, người Anh, năm 1985 được đề bạt là giáo sư chính thức của ĐH Princeton, nhưng 9 năm liền sau đó ông không viết một bài báo khoa học nào. Từ Hiệu trưởng cho tới Chủ nhiệm khoa đều không biết trong thời gian ấy ông làm gì và họ cũng chẳng để ý việc ông làm gì. Sau 9 năm trời, ông giải được bài toán khó 360 năm qua giới toán học thế giới chưa giải được – chứng minh được định lý lớn Fermat. Kết quả Andrew Wiles được tặng giải thưởng toán học cao nhất hiện nay – Giải Thành tựu đặc biệt Fields; cho tới nay ông là người duy nhất được trao giải thành tựu đặc biệt này. [3]
Giáo sư John Nash mắc bệnh tâm thần hơn 30 năm, nhưng sau khi ông mắc bệnh thì ĐH Princeton lại mời ông từ Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) về trường mình, bố trí phòng làm việc cho ông, đem lại tình thương yêu ấm áp cho ông. Đồng thời người nhà và bạn đồng nghiệp đều hết sức quan tâm giúp đỡ Nash. Ba chục năm sau, huyền thoại xuất hiện: John Nash khỏe mạnh trở lại và năm 1994 được tặng giải Nobel [Kinh tế]. Đây chính là sức thu hút của ĐH Princeton! Câu chuyện của giáo sư John Nash được viết thành tiểu thuyết “Một tâm hồn đẹp” [4] rồi dựng thành phim, phim này đã đoạt giải Oscar.
Cho nên đại học có đại sư rồi lại còn phải có tình yêu lớn. Trường đại học hàng đầu phải là nơi chỗ nào cũng thấy những tâm hồn đẹp. “Tâm hồn đẹp” là nội hàm văn hoá của ĐH Princeton! Nhà trường quan tâm đến thầy giáo của mình, tạo môi trường thoải mái cho thầy, để thầy tự do sáng tạo.
Còn có một giáo sư người Mỹ gốc Hoa là ông Dương Tổ Hựu, hiện là Hiệu trưởng một đại học nổi tiếng ở Mỹ. Trong năm đầu tiên nhậm chức Hiệu trưởng, ông đã hơn 100 lần mời cơm hơn 900 giáo sư. Ông vô cùng quan tâm mọi người, coi người tài là thứ quý giá nhất. Kết quả trong thời gian ông làm Hiệu trưởng, trường này đã có 5 giáo sư được tặng giải Nobel. Ông vẫn kiên trì lên lớp giảng dạy cho sinh viên và 13 năm liền hướng dẫn nghiên cứu sinh.
Tại Học viện Y khoa ĐH Harvard, tôi có gặp một vị giáo sư già làm phụ đạo cho sinh viên. Tôi hỏi ông phụ đạo bao nhiêu học trò, ông đáp hơn 160 người. Lúc đó quả thực tôi không dám tin vào con số ấy. Hơn nữa, điều càng làm tôi khó có thể tưởng tượng là ông nắm vững tình hình mọi mặt của từng sinh viên như trong lòng bàn tay. Vì thế mọi người gọi ông là “Chuẩn cha mẹ”. Đây là tình yêu thầy trò. Ba nghìn năm trước, một triết gia từng nói: “Đầu óc không phải là cái vật chứa đựng mà nên là bó đuốc được đốt cháy”.
3. Giáo dục đại học phải bồi dưỡng cho sinh viên quan niệm giá trị, quan niệm đạo đức, quan niệm tư duy, phương thức làm người và năng lực công tác xã hội
Vì sao ĐH Yale có thể đào tạo được nhiều lãnh tụ như thế cho nước Mỹ và cho thế giới?
Trường này có một quy chế yêu quý sinh viên, – cái này họ học được từ chế độ trọ học viện và chế độ thầy hướng dẫn của Anh Quốc. Hiệu trưởng ĐH Yale khiêm tốn nói, “Tất cả những người sau này trở thành Tổng thống đều là những sinh viên từng đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo các đoàn thể trong ký túc xá, dưới sự chỉ đạo của thầy hướng dẫn”.
Công tác xã hội cũng là một công việc học tập và rèn luyện quan trọng, là “giảng đường thứ hai” quan trọng! Các nhân vật kiểu Tổng thống, lãnh tụ đều được đào tạo từ các tổ chức này.
Một sinh viên tốt nghiệp ĐH Yale cho biết, nhà trường chẳng những bồi dưỡng cho anh những thứ có liên quan tới tri thức cụ thể, mà còn dạy cho anh giá trị quan, quan niệm đạo đức, cách làm người, thói quen suy nghĩ v.v... – những điều đó vô cùng quan trọng đối với cuộc đời anh. Tất cả những thứ ấy không phải là do một người nào dạy cho anh, mà là anh học được trong bầu không khí văn hoá tồn tại ở ĐH Yale. “Thế giới của chúng ta cần phải khác đi vì có sự tồn tại của bạn. Phấn đấu vì chân lý có nghĩa là tiếp thụ văn hoá tinh thần; tinh thần có thể làm cuộc sống con người trở nên phong phú”. Câu này chưa ai từng nói rõ cho sinh viên ĐH Yale, song tinh thần đó tràn trề trong bầu không khí khuôn viên nhà trường, vì thế nó thấm vào tới chỗ sâu kín nhất trong đầu óc mỗi sinh viên, sục sôi trong huyết quản của họ.
4. Nhiệm vụ của giáo dục đại học là phát huy thiên tài của sinh viên
ĐH Oxford có câu nói: “Thầy hướng dẫn có nhiệm vụ thổi lửa cho các học trò, cho tới khi ngọn đuốc trong lòng họ rực cháy”.
Trường Cao đẳng Sư phạm Paris đã không gọi là Học viện, lại cũng không gọi là đại học, mà chỉ gọi là trường học thôi, một cái tên chúng ta rất coi thường, thế mà họ giữ lại cái tên đó, không đồng ý thay đổi. Nhưng Cao đẳng Sư phạm Paris cũng là một đại học hàng đầu thế giới. Ông Hiệu trưởng trường này từng nói tại Bắc Kinh một câu như sau: “Nhiệm vụ của trường học là phát huy thiên tài của sinh viên”.
Trong Lễ kỷ niệm 350 năm ngày thành lập ĐH Harvard, vị Hiệu trưởng trường này nói: “Thứ Harvard đáng khoe nhất không phải là giành được bao nhiêu giải Nobel, đào tạo được bao nhiêu Tổng thống, mà là làm cho mỗi viên ngọc khi đã vào Harvard rồi thì đều tỏa sáng”. Trước hết, ông thừa nhận mỗi người vào Harvard đều là một viên ngọc (nguyên văn: cục vàng), ông có nhiệm vụ làm cho tất cả họ đều tỏa sáng. Ý tưởng tổ chức học tập của ĐH Oxford, Cambridge cũng đều nhằm khai thác phát huy tiềm năng của sinh viên, khích lệ tinh thần sáng tạo của mỗi người.
Chỉ cần ngòi lửa trong bộ não của mỗi người đều được cháy lên thì dù người ấy học đại học hay cao đẳng, họ đều có thể tỏa sáng. Những thí dụ như vậy ở đâu cũng có.
5. Chớ nên coi đào tạo người tài trình độ cao là mục tiêu duy nhất của giáo dục đại học
Các vị phụ huynh Trung Quốc chúng ta đều mong muốn con em mình có thể trở thành tiến sĩ. Chế độ nhân sự của ta cũng quy định lương của người có học vị tiến sĩ thì cao hơn người có học vị thạc sĩ.
Gần đây một vị bác sĩ bảo tôi, người làm việc ở bệnh viện nếu không có học vị tiến sĩ thì khó trụ nổi [5]. Cũng vậy, mới đây hai vị thầy thuốc đạo cao đức trọng nói cùng một câu thế này: “Rất lo sẽ có ngày chết trên bàn mổ của học trò mình!” (ý nói các bác sĩ ngoại khoa chỉ có bằng tiến sĩ mà không có kinh nghiệm lâm sàng).
Nhưng tại các bệnh viện ở Anh Quốc, người có học vị tiến sĩ chỉ chiếm khoảng 10% tổng số thầy thuốc. Học viện Y khoa Phân hiệu Los Angeles của ĐH California là y học viện hàng đầu thế giới, sinh viên tốt nghiệp đại học thi vào trường này cứ 5700 thí sinh chỉ có một người trúng tuyển (số liệu năm 2005). Trong 1.185 sinh viên hiện có tại học viện thì 700 người đặt mục tiêu là trở thành bác sĩ y khoa (M.D, tức Medical Doctor); 485 người đặt mục tiêu trở thành tiến sĩ nghiên cứu y học (Ph.D., tức Philosophic Doctor hoặc Doctor of Philosophy, gọi chung là tiến sĩ triết học). Cả hai đều là Doctor cả nhưng hàm nghĩa khác nhau, mục tiêu cũng khác nhau. [Trong tiếng Việt] M.D. dịch là bác sĩ, Ph.D. dịch là tiến sĩ; hai học vị này không có sự phân chia ai cao ai thấp, nhưng lương của bác sĩ nói chung cao hơn tiến sĩ.
Một bà y tá cấp cao hưởng lương cao hơn ông chồng mình có học vị tiến sĩ. Tại một bệnh viện trực thuộc Học viện Y thuộc Phân hiệu ĐH Los Angeles, số người có học vị tiến sĩ là 10 người, chưa bằng 10% tổng số thầy thuốc. Tại một bệnh viện thần kinh khác, số bác sĩ thần kinh là 183 người, số nhà tâm lý học (đều có học vị tiến sĩ) là 122 người nhưng hầu như chẳng có ai vừa là thầy thuốc là vừa là tiến sĩ.
Mỹ là quốc gia phát triển cao, trong số 3.688 trường viện đại học-cao đẳng có 60% là trường chuyên ngành và trường cộng đồng; còn các trường đại học kiểu nghiên cứu chỉ chiếm 3%. Nhưng tại Trung Quốc, số lượng đơn vị được phép cấp học vị tiến sĩ lại nhiều hơn cả nước Mỹ, tuy rằng số lượng trường đại học-cao đẳng chuyên ngành thì kém xa Mỹ. Đồng thời gần đây các trường đại học ở Trung Quốc không ngừng mở rộng tuyển sinh, ngày càng có nhiều bạn trẻ có cơ hội vào đại học. Thế nhưng rất nhiều vị phụ huynh coi thường các trường đại học-cao đẳng chuyên ngành. Chế độ thi đại học-cao đẳng của chúng ta cũng chưa hợp lý, đưa số thí sinh đạt điểm thi thấp vào các trường chuyên ngành.
Một điều đáng suy ngẫm sâu sắc là rất nhiều trường đại học-cao đẳng nước ta theo đuổi mục tiêu “nâng cấp” trường mình thành trường tổng hợp, dẫn đến tình trạng số lượng trường đại học-cao đẳng chuyên ngành ngày một giảm bớt!
Ngành giáo dục của chúng ta không thể chỉ theo đuổi sự biến đổi số lượng sinh viên đại học mà quan trọng hơn là phải luôn luôn nâng chất lượng cơ cấu giáo dục cao đẳng. Có thể ví trường đại học-cao đẳng chuyên ngành và trường tổng hợp như hai loại nhạc cụ trong cùng một dàn nhạc. Khi lập kế hoạch phát triển giáo dục đại học-cao đẳng, nên phối hợp phát triển hài hòa cả hai loại trường này.
(Còn tiếp)
Huy Đường lược dịch
Ghi chú của người dịch:
[1] Trong tiếng Trung, Công đức là đạo đức tồn tại trong quần thể xã hội rộng, phân biệt với Tư đức là đạo đức tồn tại trong quần thể nhỏ hoặc giữa các cá nhân.
[2] Các đại học ở Hồng Công đều được xếp hạng cao hơn các đại học ở Bắc Kinh và Thượng Hải.
[3] Ở đây có lẽ tác giả nhầm lẫn. Thực ra Andrew Wiles không được trao giải Fields vì đã quá giới hạn 40 tuổi (sinh 1953, chứng minh được định lý lớn Fermat năm 1994, khi ấy ông đã 41 tuổi). Ông được tặng Đĩa bạc (Silver Plaque) của International Mathematical Union (IMU) năm 1998; ngoài ra còn được tặng Notable awards Fermat Prize (1995), Wolf Prize (1995/6) và Royal Medal (1996).
[4] Tên bộ phim là "A Beautiful Mind", dịch sang tiếng Trung thành Một tâm hồn đẹp là không sát nghĩa.
[5] Những năm gần đây TQ phát sinh tệ nạn sính bằng cấp tiến sĩ. Các đại học đua nhau tuyển nghiên cứu sinh (NCS) và “lạm phát” cấp bằng tiến sĩ; nạn đạo văn, gian lận trong việc làm luận văn và cấp bằng tiến sĩ rất phổ biến. Một cựu hiệu phó ĐH Bắc Kinh từng nói 70% nữ NCS trường ông bị thầy hướng dẫn “xài” (quấy nhiễu tình dục).
Thứ Năm, 9 tháng 12, 2010
Ngồi trên núi vàng, sao Việt Nam vẫn nghèo?
Nhìn về Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu và người dân quốc đảo Singapore thường đặt câu hỏi, tại sao Việt Nam ngồi trên nhiều núi vàng mà vẫn nghèo?
Đó là câu hỏi mà Ts Vũ Minh Khương, giảng viên trường Đại học Quốc gia Singapore thường xuyên nhận được từ đồng nghiệp hay những người dân Singapore mà ông có dịp tiếp xúc.
Họ so sánh: Singapore chỉ cần một cảng biển, một đảo Sentosa cũng có thể làm nên sự thịnh vượng giàu có, vậy mà trên khắp Việt Nam này, có bao nhiêu những Phú Quốc, Hạ Long, bao nhiêu Vân Phong.... mà vẫn không cách gì khai thác được. Việt Nam vẫn bị xếp vào hàng các quốc gia phát triển trung bình thấp và năng lực cạnh tranh thấp ngay cả so với các quốc gia láng giềng ít tiềm năng hơn.
Thực tế như một sự thách đố sự hiểu biết của người Singapore lại không quá khó hiểu với những người có chút kinh nghiệm làm việc ở xứ này. Người ta có thể tìm thấy lời giải đáp từ bất kì một quan sát nhỏ nào trong nền kinh tế đất nước.
Triệt tiêu sức cạnh tranh của chính mình
Nhìn vào thực tế phát triển ở Việt Nam, TS Vũ Minh Khương cho rằng, vấn đề của Việt Nam không phải ở chỗ chúng ta không có tiềm năng mà có lẽ vì chúng ta có nhiều tiềm năng quá, những nguồn lực xung đột, mà lại không biết lựa chọn chính xác hướng đi nào cho mình.
Giống như người ta được trời phú cho nhan sắc, lại có thông minh cộng tài năng âm nhạc, lại thêm vẽ tranh... nhưng lại không biết mình thực sự muốn gì, muốn phát triển theo hướng nào. Thôi thì, lúc này đi làm nghiên cứu khoa học, lúc khác chơi một chút nhạc, lúc khác nữa làm hội họa...., tận dụng mỗi thứ một chút, để rồi không thành ông, cũng chẳng thành thằng.
Đơn cử, tỉnh Quảng Ninh đã được trời phú một vịnh Hạ Long lại được trao thêm trữ lượng than dồi dào. Bỏ cái gì cũng tiếc, rút cuộc, chúng ta khai thác hết, nhưng đầu tư vào lĩnh vực nào cũng nửa vời. Khai thác than tàn phá môi trường Quảng Ninh, gây hại cho việc làm giàu từ Vịnh Hạ Long.
Quảng Ninh đã giàu tài nguyên than
Cách làm du lịch, trong khi đó, lại mới dừng ở mức "thu bạc lẻ", lo thu hút cho đông khách, mà quên mất, vấn đề không phải ở việc thu hút thêm được bao nhiêu khách, mà là mỗi ngày, du khách sẽ tiêu bao nhiêu tiền. "Người ta chỉ tiêu dùng nhiều khi Việt Nam có sẵn nhiều hoạt động chất lượng cao, dịch vụ tốt, nhiều sản phẩm hay để họ mua", chuyên gia về năng lực cạnh tranh, GS Michael Porter phân tích. Thế nhưng, đó lại là điều Việt Nam hoàn toàn thiếu sự đầu tư.
lại có thêm Vịnh Hạ Long.
Câu chuyện Quảng Ninh không phải là ngoại lệ ở Việt Nam. Đến ngay cả các tỉnh đồng bằng sông Hồng bây giờ cũng ngồi lo suy tính làm thế nào để khai thác được bể than sông Hồng nằm ngay dưới vựa lúa, điều nhiều nơi khác thèm được sở hữu trong bối cảnh an ninh lương thực đang là mối nguy, mà không cân nhắc hết thiệt hơn, mạnh yếu.
Định hướng bởi cách nghĩ làm thế nào để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, tỉ trọng công nghiệp lớn cho cái gọi là "nền kinh tế GDP tỉnh", các địa phương mải mê vận động để xin được nhiều tiền ngân sách, thêm được nhiều vốn đầu tư vào tỉnh, có được các dự án... nhưng lại chưa suy tính xem thực sự mình mạnh gì và nên phát triển theo hướng nào.
Các quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển của các tỉnh thành là một sự sao chép lẫn nhau, không dựa trên đặc thù riêng của địa phương mình, cả về lợi thế và vị trí riêng. Thế mạnh địa phương không được phát huy, trong khi đó, "bạn không thể ra sức để trở thành mọi thứ", GS Michael Porter đã đúc kết quy luật chung trong phát triển như vậy.
Và triệt tiêu sức cạnh tranh lẫn nhau
Không chỉ triệt tiêu sức cạnh tranh của chính mình, các địa phương còn khai thác tiềm năng theo kiểu triệt tiêu sức cạnh tranh lẫn nhau, khi chính sách phát triển của các địa phương không được đặt trong mối liên kết với các địa phương khác trong vùng và trong tổng thể phát triển chung của đất nước.
Hãy nhìn câu chuyện phát triển cảng biển Việt Nam. Dọc bờ biển Việt Nam chi chít những dự án cảng biển, tỉnh nào cũng muốn sở hữu cảng biển của riêng mình. 10 năm tới, Việt Nam có kế hoạch phát triển 39 cảng biển với 108 bến được xây dựng mới và nâng cấp, trong đó 32 cảng biển có kế hoạch xây dựng mới.
Chúng ta quên mất một điều: năng lực cạnh tranh chỉ tốt khi doanh nghiệp được sử dụng cảng biển với chi phí thấp nhất, bất kể cảng đó thuộc tỉnh nào. Càng nhiều cảng phân tán, lượng hàng càng bị chia sẻ manh mún, hiệu quả khai thác cảng càng giảm, và chi phí tất yếu tăng lên.
Chúng ta cũng quên mất rằng, ở Mỹ, dọc bờ biển phía Tây dài 1900km cũng chỉ có 3 cảng chính.
Và ta cũng quên hẳn bài học của Malaysia trong phát triển cảng biển. Trước năm 1970 chỉ có 2 cảng chính, sau đó Chính phủ quyết định mở rộng thêm 4 cảng quốc gia và 3 cảng nội địa, điều đó dẫn tới tình trạng dư thừa năng lực và cạnh tranh gay gắt giữa các cảng. Sự cạnh tranh lẫn nhau của các cảng biển làm triệt tiêu năng lực cạnh tranh chung của đất nước, khiến Malaysia rơi vào thế bất lợi.
Dọc bờ biển phía Tây dài 1900km của Mỹ cũng chỉ có 3 cảng chính trong khi 10 năm tới, Việt Nam định phát triển thêm 39 cảng biển.
Không thể phủ nhận, là quốc gia có đường bờ biển dài, ở vị trí địa chiến lược, Việt Nam có lợi thế để làm trung tâm trung chuyển quốc tế. Không phải ngẫu nhiên mà hàng loạt những sáng kiến về kết nối giao thông khu vực đều tính đến Việt Nam như cửa ngõ ra biển. Thế nhưng, tận dụng thế nào điều kiện ấy là câu chuyện Việt Nam cần bàn.
Có một thời, tỉnh nào cũng đua nhau có nhà máy mía đường, xi măng lò đứng, thì nay, cùng với cuộc đua có cho được nhà máy thép..., tỉnh nào cũng lo có cho được cảng biển riêng..., mà cảng nào cũng nhỏ, lại thiếu các điều kiện đi kèm.
Hiện Việt Nam không có cảng container trung chuyển quốc tế. Ta có một số hải cảng quốc tế như Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải Phòng đón nhận được các tàu lớn, song dịch vụ của các cảng này chưa đáp ứng yêu cầu, chi phí dịch vụ cao, thời gian thông quan lâu (từ 3 đến 7 ngày, có khi lên tới 1 tháng trong khi ở Singapore là 10 phút.) Hệ thống đường sắt, đường bộ kết nối liên tuyến với hệ thống cảng không được đầu tư. Các điều kiện hậu cần cho cảng hoàn toàn bỏ ngỏ. Cơ sở hạ tầng không theo kịp tốc độ tăng trưởng xuất khẩu.
Có một ví dụ thường được các chuyên gia dẫn chứng như một minh họa sinh động cho những ràng buộc về lợi ích cục bộ, địa phương gây cản ngại cho một chiến lược đầu tư sáng suốt trong câu chuyện cảng biển. Hiện tại, cảng Cái Mép - Thị Vải của Vũng Tàu đã được một số tàu mẹ các nước đến ăn hàng. Xét về mọi mặt, đây là cảng biển có nhiều lợi thế hơn cả để phát triển thành cảng trung chuyển quốc tế.
Thế nhưng, Tp.HCM và Long An cũng đòi đầu tư để cảng của mình thành trung chuyển quốc tế! Trong khi nguồn lực đầu tư của đất nước vào cơ sở hạ tầng vốn đang vô cùng khan hiếm.
Câu chuyện thu hút đầu tư nước ngoài của các tỉnh cũng là một ví dụ khác. Mặc dù đã có quy định về khuyến khích và ưu đãi đầu tư, thế nhưng, thực tế, các địa phương vẫn làm theo kiểu "mạnh ai nấy làm". Ngoài các chính sách thu hút đầu tư của nhà nước, nhiều tỉnh đã phá rào, đưa thêm nhiều quy định khuyến khích đầu tư, từ ưu đãi đầu tư, miễn giảm thuế và giảm tiền thuê đất.
Cuộc khảo sát do Bộ Tài chính tiến hành năm 2006 tại 48 tỉnh, thành phố cho thấy có tới 32 tỉnh (chiếm 2/3) ban hành thêm các văn bản pháp lý trái luật nhằm quy định các ưu đãi đặc biệt để thu hút các dự án đầu tư. Theo khảo sát này, có 18 tỉnh vi phạm các quy định về ngân sách, 21 tỉnh đưa ra những ưu đãi về đất đai nằm ngoài những quy định của chính sách đất đai quốc gia, 11 tỉnh vi phạm quy định về thuế thu nhập DN và nhiều tỉnh có nhiều hơn 2 vi phạm. Hầu hết các tỉnh đưa ra các khuyến khích rất hào phóng về phí sử dụng đất, mở rộng thời kì miễn giảm thuế lên tới 10-20 năm.
Rút cuộc, cuộc đua của các tỉnh không mang lại lợi ích chung cho cả nền kinh tế. Quy hoạch tổng thể bị xới tung, cày nát. Đến nỗi có chuyên gia đã phải kêu lên rằng: cuộc đua thu hút FDI giữa các tỉnh chẳng khác nào cuộc "chạy đua xuống đáy", khi các tỉnh hoặc là cùng chạy, hoặc là cùng chờ.
Nói như TS Vũ Minh Khương, ĐHQG Singapore, cách làm này tạo nên sự phát đạt cho một vài người nhưng lại gây hại cho sự phát triển chung của đất nước.
Vừa cạnh tranh, vừa hợp tác
"Thay vì cạnh tranh, cần khuyến khích sự phối hợp và hợp tác giữa các địa phương, các ngành", GS Michael Porter khuyến nghị. "Các vùng và địa phương cần được khuyến khích nâng cao năng lực cạnh tranh của mình dựa trên những lợi thế và vị trí đặc thù của địa phương".
Nhìn tổng thể quốc gia, đã tới lúc Việt Nam cần nghiêm túc thảo luận xem mình muốn đứng ở vị trí nào trong nền kinh tế toàn cầu, đâu là những ngành, lĩnh vực và thế mạnh về môi trường kinh doanh của Việt Nam mà thế giới sẽ biết tới.
Vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, đó là mục tiêu mà Việt Nam cần hướng tới, nếu muốn thực sự định vị mình ở một vị trí cao hơn trong xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu.
TG: Phương Loan
Theo .Tuần Việt Nam
Đó là câu hỏi mà Ts Vũ Minh Khương, giảng viên trường Đại học Quốc gia Singapore thường xuyên nhận được từ đồng nghiệp hay những người dân Singapore mà ông có dịp tiếp xúc.
Họ so sánh: Singapore chỉ cần một cảng biển, một đảo Sentosa cũng có thể làm nên sự thịnh vượng giàu có, vậy mà trên khắp Việt Nam này, có bao nhiêu những Phú Quốc, Hạ Long, bao nhiêu Vân Phong.... mà vẫn không cách gì khai thác được. Việt Nam vẫn bị xếp vào hàng các quốc gia phát triển trung bình thấp và năng lực cạnh tranh thấp ngay cả so với các quốc gia láng giềng ít tiềm năng hơn.
Thực tế như một sự thách đố sự hiểu biết của người Singapore lại không quá khó hiểu với những người có chút kinh nghiệm làm việc ở xứ này. Người ta có thể tìm thấy lời giải đáp từ bất kì một quan sát nhỏ nào trong nền kinh tế đất nước.
Triệt tiêu sức cạnh tranh của chính mình
Nhìn vào thực tế phát triển ở Việt Nam, TS Vũ Minh Khương cho rằng, vấn đề của Việt Nam không phải ở chỗ chúng ta không có tiềm năng mà có lẽ vì chúng ta có nhiều tiềm năng quá, những nguồn lực xung đột, mà lại không biết lựa chọn chính xác hướng đi nào cho mình.
Giống như người ta được trời phú cho nhan sắc, lại có thông minh cộng tài năng âm nhạc, lại thêm vẽ tranh... nhưng lại không biết mình thực sự muốn gì, muốn phát triển theo hướng nào. Thôi thì, lúc này đi làm nghiên cứu khoa học, lúc khác chơi một chút nhạc, lúc khác nữa làm hội họa...., tận dụng mỗi thứ một chút, để rồi không thành ông, cũng chẳng thành thằng.
Đơn cử, tỉnh Quảng Ninh đã được trời phú một vịnh Hạ Long lại được trao thêm trữ lượng than dồi dào. Bỏ cái gì cũng tiếc, rút cuộc, chúng ta khai thác hết, nhưng đầu tư vào lĩnh vực nào cũng nửa vời. Khai thác than tàn phá môi trường Quảng Ninh, gây hại cho việc làm giàu từ Vịnh Hạ Long.
Quảng Ninh đã giàu tài nguyên than
Cách làm du lịch, trong khi đó, lại mới dừng ở mức "thu bạc lẻ", lo thu hút cho đông khách, mà quên mất, vấn đề không phải ở việc thu hút thêm được bao nhiêu khách, mà là mỗi ngày, du khách sẽ tiêu bao nhiêu tiền. "Người ta chỉ tiêu dùng nhiều khi Việt Nam có sẵn nhiều hoạt động chất lượng cao, dịch vụ tốt, nhiều sản phẩm hay để họ mua", chuyên gia về năng lực cạnh tranh, GS Michael Porter phân tích. Thế nhưng, đó lại là điều Việt Nam hoàn toàn thiếu sự đầu tư.
lại có thêm Vịnh Hạ Long.
Câu chuyện Quảng Ninh không phải là ngoại lệ ở Việt Nam. Đến ngay cả các tỉnh đồng bằng sông Hồng bây giờ cũng ngồi lo suy tính làm thế nào để khai thác được bể than sông Hồng nằm ngay dưới vựa lúa, điều nhiều nơi khác thèm được sở hữu trong bối cảnh an ninh lương thực đang là mối nguy, mà không cân nhắc hết thiệt hơn, mạnh yếu.
Định hướng bởi cách nghĩ làm thế nào để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, tỉ trọng công nghiệp lớn cho cái gọi là "nền kinh tế GDP tỉnh", các địa phương mải mê vận động để xin được nhiều tiền ngân sách, thêm được nhiều vốn đầu tư vào tỉnh, có được các dự án... nhưng lại chưa suy tính xem thực sự mình mạnh gì và nên phát triển theo hướng nào.
Các quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển của các tỉnh thành là một sự sao chép lẫn nhau, không dựa trên đặc thù riêng của địa phương mình, cả về lợi thế và vị trí riêng. Thế mạnh địa phương không được phát huy, trong khi đó, "bạn không thể ra sức để trở thành mọi thứ", GS Michael Porter đã đúc kết quy luật chung trong phát triển như vậy.
Và triệt tiêu sức cạnh tranh lẫn nhau
Không chỉ triệt tiêu sức cạnh tranh của chính mình, các địa phương còn khai thác tiềm năng theo kiểu triệt tiêu sức cạnh tranh lẫn nhau, khi chính sách phát triển của các địa phương không được đặt trong mối liên kết với các địa phương khác trong vùng và trong tổng thể phát triển chung của đất nước.
Hãy nhìn câu chuyện phát triển cảng biển Việt Nam. Dọc bờ biển Việt Nam chi chít những dự án cảng biển, tỉnh nào cũng muốn sở hữu cảng biển của riêng mình. 10 năm tới, Việt Nam có kế hoạch phát triển 39 cảng biển với 108 bến được xây dựng mới và nâng cấp, trong đó 32 cảng biển có kế hoạch xây dựng mới.
Chúng ta quên mất một điều: năng lực cạnh tranh chỉ tốt khi doanh nghiệp được sử dụng cảng biển với chi phí thấp nhất, bất kể cảng đó thuộc tỉnh nào. Càng nhiều cảng phân tán, lượng hàng càng bị chia sẻ manh mún, hiệu quả khai thác cảng càng giảm, và chi phí tất yếu tăng lên.
Chúng ta cũng quên mất rằng, ở Mỹ, dọc bờ biển phía Tây dài 1900km cũng chỉ có 3 cảng chính.
Và ta cũng quên hẳn bài học của Malaysia trong phát triển cảng biển. Trước năm 1970 chỉ có 2 cảng chính, sau đó Chính phủ quyết định mở rộng thêm 4 cảng quốc gia và 3 cảng nội địa, điều đó dẫn tới tình trạng dư thừa năng lực và cạnh tranh gay gắt giữa các cảng. Sự cạnh tranh lẫn nhau của các cảng biển làm triệt tiêu năng lực cạnh tranh chung của đất nước, khiến Malaysia rơi vào thế bất lợi.
Dọc bờ biển phía Tây dài 1900km của Mỹ cũng chỉ có 3 cảng chính trong khi 10 năm tới, Việt Nam định phát triển thêm 39 cảng biển.
Không thể phủ nhận, là quốc gia có đường bờ biển dài, ở vị trí địa chiến lược, Việt Nam có lợi thế để làm trung tâm trung chuyển quốc tế. Không phải ngẫu nhiên mà hàng loạt những sáng kiến về kết nối giao thông khu vực đều tính đến Việt Nam như cửa ngõ ra biển. Thế nhưng, tận dụng thế nào điều kiện ấy là câu chuyện Việt Nam cần bàn.
Có một thời, tỉnh nào cũng đua nhau có nhà máy mía đường, xi măng lò đứng, thì nay, cùng với cuộc đua có cho được nhà máy thép..., tỉnh nào cũng lo có cho được cảng biển riêng..., mà cảng nào cũng nhỏ, lại thiếu các điều kiện đi kèm.
Hiện Việt Nam không có cảng container trung chuyển quốc tế. Ta có một số hải cảng quốc tế như Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải Phòng đón nhận được các tàu lớn, song dịch vụ của các cảng này chưa đáp ứng yêu cầu, chi phí dịch vụ cao, thời gian thông quan lâu (từ 3 đến 7 ngày, có khi lên tới 1 tháng trong khi ở Singapore là 10 phút.) Hệ thống đường sắt, đường bộ kết nối liên tuyến với hệ thống cảng không được đầu tư. Các điều kiện hậu cần cho cảng hoàn toàn bỏ ngỏ. Cơ sở hạ tầng không theo kịp tốc độ tăng trưởng xuất khẩu.
Có một ví dụ thường được các chuyên gia dẫn chứng như một minh họa sinh động cho những ràng buộc về lợi ích cục bộ, địa phương gây cản ngại cho một chiến lược đầu tư sáng suốt trong câu chuyện cảng biển. Hiện tại, cảng Cái Mép - Thị Vải của Vũng Tàu đã được một số tàu mẹ các nước đến ăn hàng. Xét về mọi mặt, đây là cảng biển có nhiều lợi thế hơn cả để phát triển thành cảng trung chuyển quốc tế.
Thế nhưng, Tp.HCM và Long An cũng đòi đầu tư để cảng của mình thành trung chuyển quốc tế! Trong khi nguồn lực đầu tư của đất nước vào cơ sở hạ tầng vốn đang vô cùng khan hiếm.
Câu chuyện thu hút đầu tư nước ngoài của các tỉnh cũng là một ví dụ khác. Mặc dù đã có quy định về khuyến khích và ưu đãi đầu tư, thế nhưng, thực tế, các địa phương vẫn làm theo kiểu "mạnh ai nấy làm". Ngoài các chính sách thu hút đầu tư của nhà nước, nhiều tỉnh đã phá rào, đưa thêm nhiều quy định khuyến khích đầu tư, từ ưu đãi đầu tư, miễn giảm thuế và giảm tiền thuê đất.
Cuộc khảo sát do Bộ Tài chính tiến hành năm 2006 tại 48 tỉnh, thành phố cho thấy có tới 32 tỉnh (chiếm 2/3) ban hành thêm các văn bản pháp lý trái luật nhằm quy định các ưu đãi đặc biệt để thu hút các dự án đầu tư. Theo khảo sát này, có 18 tỉnh vi phạm các quy định về ngân sách, 21 tỉnh đưa ra những ưu đãi về đất đai nằm ngoài những quy định của chính sách đất đai quốc gia, 11 tỉnh vi phạm quy định về thuế thu nhập DN và nhiều tỉnh có nhiều hơn 2 vi phạm. Hầu hết các tỉnh đưa ra các khuyến khích rất hào phóng về phí sử dụng đất, mở rộng thời kì miễn giảm thuế lên tới 10-20 năm.
Rút cuộc, cuộc đua của các tỉnh không mang lại lợi ích chung cho cả nền kinh tế. Quy hoạch tổng thể bị xới tung, cày nát. Đến nỗi có chuyên gia đã phải kêu lên rằng: cuộc đua thu hút FDI giữa các tỉnh chẳng khác nào cuộc "chạy đua xuống đáy", khi các tỉnh hoặc là cùng chạy, hoặc là cùng chờ.
Nói như TS Vũ Minh Khương, ĐHQG Singapore, cách làm này tạo nên sự phát đạt cho một vài người nhưng lại gây hại cho sự phát triển chung của đất nước.
Vừa cạnh tranh, vừa hợp tác
"Thay vì cạnh tranh, cần khuyến khích sự phối hợp và hợp tác giữa các địa phương, các ngành", GS Michael Porter khuyến nghị. "Các vùng và địa phương cần được khuyến khích nâng cao năng lực cạnh tranh của mình dựa trên những lợi thế và vị trí đặc thù của địa phương".
Nhìn tổng thể quốc gia, đã tới lúc Việt Nam cần nghiêm túc thảo luận xem mình muốn đứng ở vị trí nào trong nền kinh tế toàn cầu, đâu là những ngành, lĩnh vực và thế mạnh về môi trường kinh doanh của Việt Nam mà thế giới sẽ biết tới.
Vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, đó là mục tiêu mà Việt Nam cần hướng tới, nếu muốn thực sự định vị mình ở một vị trí cao hơn trong xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu.
TG: Phương Loan
Theo .Tuần Việt Nam
Thứ Năm, 2 tháng 12, 2010
Nội dung của văn hóa đại học
1. Thế nào là văn hoá đại học?
Trường đại học không chỉ là tồn tại vật chất khách quan mà còn là một dạng tồn tại văn hoá và tinh thần. Tồn tại vật chất của ĐH rất đơn giản: thiết bị, dụng cụ, trường sở v.v... Thế nhưng đại học sở dĩ gọi là đại học, mấu chốt là tồn tại văn hoá và tồn tại tinh thần của nó.
Văn hóa đại học là văn hoá tìm kiếm chân lý, là văn hoá nghiêm chỉnh coi trọng thực tế, là văn hoá theo đuổi sự tìm kiếm lý tưởng và hoài bão của đời người, là văn hoá tôn thờ tự do học thuật, văn hoá đề xướng lý luận gắn với thực tế, văn hoá tôn thờ đạo đức, văn hoá bao dung, là dạng văn hoá có tinh thần phê phán quyết liệt. Văn hóa đại học thể hiện một tính chung, cốt lõi và linh hồn của nó thì thể hiện ở tinh thần đại học.
Lời răn của nhà trường [nguyên văn chữ Hán Việt: “Hiệu huấn”; còn gọi là Khẩu hiệu truyền thống của nhà trường] là thứ tượng trưng cho tinh thần đại học, đó là kết tinh lịch sử và văn hoá nhà trường, là thể hiện tập trung ý tưởng tổ chức học tập của nhà trường, cũng là một biểu đạt ngắn gọn nội dung văn hoá riêng của nhà trường.
Một tờ báo từng tiến hành trưng cầu ý kiến của 4762 người với câu hỏi: “Bạn cho rằng trường đại học nào của Trung Quốc có khẩu hiệu truyền thống tốt nhất?” Kết quả, khẩu hiệu truyền thống của ĐH Thanh Hoa “Tự cường bất tức, hậu đức tải vật” [câu này lấy từ sách Kinh Dịch, ý nói yêu cầu học sinh mãi mãi phấn đấu tự cường tiến lên hàng đầu, có tinh thần đoàn kết hợp tác, nghiêm khác với bản thân, vô tư dâng hiến] được 54% số phiếu, xếp thứ nhất. “Tự cường bất tức” phản ánh tinh thần dân tộc Trung Hoa, câu này cũng được rất nhiều đại học Trung Quốc dùng làm khẩu hiệu truyền thống của mình.
Năm 2006 khi nói chuyện tại ĐH Yale, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào cũng dẫn câu “Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức” [Đạo trời vận hành mạnh mẽ vững bền, kẻ quân tử nên tự giác phấn đấu vươn lên không ngừng] [1] danh ngôn lưu truyền muôn đời này của Trung Quốc nhằm trình bày tinh thần tự cường không ngừng, khai phá sáng tạo bao năm của dân tộc Trung Hoa. 5.000 năm qua, sở dĩ dân tộc Trung Hoa đời đời không ngừng phấn đấu, trải bao trắc trở mà không bị khuất phục chính là nhờ dựa vào tinh thần quyết tâm vươn tới hùng cường, dung nạp bao quát tất cả các mặt, ngày càng tiến lên. Mọi thành tích giành được từ cải cách mở cửa tới nay cũng là sự khắc họa tinh thần đó.
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Phục Đán “Bác học nhi đốc chí, thiết vấn nhi cận tư” [Người có lý tưởng cao xa thì phải có trí thức phong phú, phải luôn nghi ngờ đặt câu hỏi và luôn suy nghĩ sâu sắc] [2] được xếp hạng thứ hai. Giáo sư Lý Chính Đạo [Nobel vật lý 1957 cùng Dương Chấn Ninh] đặc biệt thích chữ thứ hai trong mỗi câu trên: học và vấn (hỏi). Học hỏi [chữ Hán: học vấn] tức là phải hỏi vấn đề chứ không phải là trả lời vấn đề.
Thế nhưng tôi phát hiện ra sự khác biệt văn hoá rất lớn giữa nước ta với phương Tây. Phụ huynh các nước Anh, Mỹ thấy con đi học về đều hỏi: “Hôm nay con hỏi được mấy vấn đề?” Còn ở ta, phụ huynh hỏi: “Hôm nay con được mấy điểm?”
Có lần tôi thấy một người đến cơ quan làm việc với vẻ mặt rất không vui, tôi hỏi: “Hôm nay ông sao thế? ” Ông ta trả lời: “Tôi đang tức điên người vì con bé nhà tôi thi được có 99 điểm”. Tôi bảo: “Tôi làm ngành vật lý cho nên biết là theo lý thuyết sai số, kém 1 điểm vẫn đạt trình độ quốc tế đấy ạ”. Ông ta nói: “Kém 1 điểm liệu có thể được vào ĐH Phục Đán chăng?” Tôi chẳng biết nói gì nữa. Chế độ thi cử của chúng ta hiện nay rất nghiêm ngặt, điều đó có ảnh hưởng sâu sắc tới văn hoá ĐH của chúng ta.
Einstein từng nói: “Tôi không có tài năng gì đặc biệt cả, chẳng qua là thích hỏi cho ra nhẽ mà thôi”. Teller cha đẻ bom khinh khí Mỹ mỗi lần đến phòng thí nghiệm đều đặt ra các câu hỏi này nọ, mỗi ngày ít nhất ông nêu ra 10 vấn đề, nhưng thường thường có 8-9 vấn đề sai. Có điều cái sáng tạo vĩ đại của ông lại chính là ở 1-2 vấn đề đúng kia. N. Bohr, một trong những nhà vật lý vĩ đại nhất thế kỷ XX từng nói: “Không có câu hỏi nào ngu ngốc cả”.
2500 năm trước đây loài người đưa ra câu hỏi “Thế giới cấu tạo như thế nào”, – câu hỏi này đánh dấu sự khởi đầu của khoa học tự nhiên. Bởi vậy, các bạn trẻ cần dũng cảm nêu vấn đề, không nêu ra được vấn đề thì sẽ không có sáng tạo. Điều này nên trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng trong nội dung văn hoá ĐH của chúng ta.
2. Văn hóa đại học là văn hoá tìm kiếm chân lý, nghiêm chỉnh theo đuổi sự thật
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Harvard chỉ có một từ: Truth (chân lý, sự thật; có người dịch là Hãy để sự thật kết bạn với ta). Theo đuổi chân lý mà không mê tin quyền uy. Văn hóa ĐH là văn hoá theo đuổi chân lý, nghiêm chỉnh tìm kiếm sự thật.
Cách đây không lâu tôi có gặp ông hiệu trưởng Harvard vừa mới từ chức. Ông ấy kể là khi ông còn làm hiệu trưởng, có một sinh viên mới vào trường này bảo ông: “Em luôn luôn theo dõi các số liệu của thầy, trong đó có các số liệu sai đấy ạ”. Một sinh viên mới toanh mà có thể bảo thầy hiệu trưởng “Thầy sai rồi”, – đó là văn hoá của ĐH Harvard: ý tưởng thắng quyền uy. Trường ĐH nào có được văn hoá như thế thì trường ấy có thể trở thành đại học hàng đầu thế giới.
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Yale là Light and Truth (Ánh sáng và chân lý). Trong diễn văn đọc tại ĐH Yale ngày 21/4/2006 , Chủ tịch Hồ Cẩm Đào nói: “Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Yale nhấn mạnh sự theo đuổi ánh sáng và chân lý, điều đó phù hợp với phép tắc tiến bộ của loài người, cũng hợp với tâm nguyện của mỗi thanh niên có chí hướng”.
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Washington là “Qua chân lý giành lấy sức mạnh”.
Các khẩu hiệu nói trên đều sử dụng từ chân lý.
Thế nhưng trong các đại học ở nước chúng ta hiện nay lại xuất hiện rất nhiều chuyện gian lận giả dối: hiện tượng dối trá cấm mãi chẳng được, gian lận học thuật thường xuyên xảy ra, các thông tin khai báo dối trá lừa gạt v.v...
Hồi tôi làm hiệu trưởng, việc khiến tôi xấu hổ nhất là gì, các bạn biết không? Là nhận được công văn của các trường đại học bên Mỹ yêu cầu tôi chứng minh bản khai thành tích học tập của các sinh viên Trung Quốc bên ấy họ nhận được là thật hay giả – đây là công văn chuyên gửi sang hỏi Trung Quốc. Ngoài ra còn có chuyện sinh viên Trung Quốc không xin được thẻ tín dụng. Khi sang Anh Quốc, tôi cảm thấy rất tự hào vì tôi là người Trung Quốc đầu tiên được đội mũ vành mạ vàng của nước Anh, nhưng chẳng bao lâu tôi cảm thấy mình thẹn đỏ cả mặt vì có sinh viên Trung Quốc nói với tôi: “Chúng em lxin ngân hàng Anh Quốc cấp thẻ tín dụng nhưng họ không duyệt, vì học sinh Trung Quốc nhiều lần có hạnh kiểm xấu [ý nói có hành vi gian lận trong sử dụng thẻ tín dụng] cho nên họ nhất luật không cấp thẻ tín dụng”.
Ngày hội nhà giáo năm 2005, Thủ tướng Ôn Gia Bảo trích dẫn câu nói của Đào Hành Tri “Dạy muôn nghìn lần, dạy người tìm kiếm sự thực thà; học muôn nghìn lần, học làm người thực thà” [3]. Sở dĩ Thủ tướng chú trọng câu này, tôi cho rằng điều đó có liên quan tới chuyện hiện nay chúng ta thiếu văn hoá theo đuổi chân lý.
3. Văn hóa đại học là văn hoá tôn thờ tự do học thuật
Khẩu hiệu truyền thống của Học viện Caltech “Chân lý làm con người được tự do” chính là sự thể hiện thứ văn hoá đó.
Hiệu trưởng ĐH Yale nói: “Chỉ có tự do khám phá, tự do biểu đạt thì mới có thể thực sự khai thác được tiềm năng của nhân loại”.
Trong buổi gặp gỡ tâm sự với các nhà văn học nghệ thuật ngày 13/11/2006, Thủ tướng Ôn Gia Bảo chín lần nhấn mạnh tự do. Ông còn dẫn lời Marx và Engels viết trong Tuyên ngôn của đảng cộng sản: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọi người” Thủ tướng nói đến tự do trong trường hợp như trên, tôi cảm thấy điều đó có ý nghĩa rất sâu sắc.
4. Văn hóa đại học là văn hoá đề xướng lý luận gắn với thực tế
Học viện Công nghệ Massachusetts tôn thờ phương châm lý luận gắn liền với thực tế. Khẩu hiệu truyền thống của trường này là “Suy nghĩ và bắt tay vào làm" (Mind and Hand).
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Nottingham “Đô thị xây dựng bằng trí tuệ”, dùng ngôn ngữ hiện đại giải thích là “Trường đại học là động cơ của tăng trưởng kinh tế”. Một đô thị muốn trở thành đại đô thị quốc tế hóa thì phải có hậu thuẫn là trường đại học hàng đầu. Trường đại học đem lại cho đô thị không những sự nhảy vọt về vật chất và kinh tế mà còn đem lại sự nâng cấp về văn minh tinh thần và tu dưỡng văn hoá.
5. Văn hóa đại học là văn hoá tôn thờ đạo đức
Nói tới đạo đức, ngôi trường đại học có ý nghĩa đích thực đầu tiên của nước Mỹ – ĐH Pennsylvania – có câu khẩu hiệu truyền thống nói về đạo đức: “Mọi phép tắc không có đạo đức đều uổng công vô ích”.
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Giao thông Thượng Hải cũng thể hiện hàm ý đạo đức hết sức sâu sắc: “Uống nước nhớ nguồn, yêu nước, làm vẻ vang nhà trường”. Uống nước nhớ nguồn, nói theo tiếng Anh là Thanksgiving, tức cảm ơn.
Nhưng hiện nay tại rất nhiều đại học kể cả các đại học danh tiếng ở nước ta lại có những tiếng nói trái tai: một số học sinh đến từ nông thôn không muốn găp cha mẹ mình, cảm thấy việc gặp ấy không đẹp mặt mình. Nhưng nếu cha mẹ giàu có thì lại cảm thấy gặp cha mẹ là chuyện rất vẻ vang. Bởi vậy, tôi nhớ tới một câu nói ĐH Harvard đề xướng: “Một người có thể có thành tích hay không, chẳng những chỉ xem chỉ số thông minh IQ, mà còn nên xem chỉ số tình cảm EQ và hơn nữa, xem chỉ số đạo đức của người đó”. [4]
Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục tiểu học, trung học cho đến đại học là đào tạo người công dân tốt cho xã hội. Tôi rất tán thành câu nói của Viện sĩ Cầu Pháp Tổ: “Muốn làm người thầy thuốc tốt thì phải làm con người tốt”.
Tại Mỹ, sinh viên học xong 4 năm đại học mới được vào Học viện Y khoa. Về sau Anh Quốc thấy được cái hay của việc đó. Cách đây 4 năm, ĐH Nottingham thành lập một học viện Y khoa, chỉ sinh viên đã tốt nghiệp đại học mới được vào học; điều kiện quan trọng đầu tiên trong tuyển sinh là xem phẩm chất con người đó chứ không phải xem thí sinh đã học chuyên ngành sinh vật hay khoa học tự nhiên. Hơn nữa còn đặc biệt nhấn mạnh: “Muốn làm thầy thuốc, trước hết phải biết làm con người như thế nào, biết cách đối xử với con người, lấy con người làm gốc.”
Năm 1998, UNESCO họp “Đại hội đón chào giáo dục cao đẳng thế kỷ XXI”, khi phát biểu tổng kết cuộc họp, Tổng Thư ký UNESCO nói: Nhà trường phải dạy học sinh học cách làm người, học cách sinh tồn (learn to be), học kiến thức (learn to know), học cách nắm được các kiến thức đó (learn how to learn), lại còn phải dạy học sinh học được cách sống chung với người khác (learn to deal with the others).
6. Văn hóa đại học là văn hoá tôn thờ tinh thần yêu nước
Câu “Yêu nước, làm rạng danh nhà trường” trong khẩu hiệu truyền thống của ĐH Giao thông Thượng Hải thể hiện trình độ cao của đạo đức, thể hiện tinh hoa văn hoá Trung Quốc.
Ngày 4/7/2001, tôi chính thức ngồi vào vị trí Hiệu trưởng (Chancellor) ĐH Nottingham. Khi lần đầu tiên lá cờ đỏ 5 sao được kéo lên trên sân trường đại học Anh Quốc, tôi cảm thấy rất đỗi tự hào. Tôi muốn nói với mọi người rằng đây không phải là chuyện cá nhân tôi thế nào, mà là chuyện tổ quốc tôi đã lớn mạnh. Thiết nghĩ 20 năm trước tôi không thể có được vị trí này.
Một bạn người Hoa mắt đẫm lệ nói với tôi: “Chẳng ai ngờ chiếc mũ viền vàng duy nhất của ĐH Nottingham hôm nay được trao cho một người Hoa đích thực”... “Mỗi người Hoa đều có một giấc mơ, mơ ước làm sao cho Trung Quốc 5 nghìn năm văn hiến có thể đứng lên được trên thế giới này. Phải đứng thẳng lên, đứng cho vững!”
Đặng Gia Tiên từng nói: “Đối với một nhà khoa học, còn có gì đáng kiêu hãnh và tự hào hơn là được dâng hiến toàn bộ tri thức và trí tuệ của mình cho tổ quốc, làm cho dân tộc Trung Hoa thoát khỏi số phận bị nước ngoài xâu xé?” Ông là bạn học của Dương Chấn Ninh, hai người cùng lấy bằng tiến sĩ ở Mỹ.
Năm 1971 Dương Chấn Ninh về Trung Quốc có gặp Đặng Gia Tiên và hỏi: “Trung Quốc phát triển vũ khí hạt nhân có người nước ngoài giúp hay không?” Dương hỏi câu này rất tự nhiên, vì hai phần ba nhà khoa học hạt nhân của Mỹ đều là người châu Âu; Liên Xô cũ khi phát triển vũ khí hạt nhân cũng dựa vào sự giúp đỡ của các nhà khoa học châu Âu.
Một tuần sau, khi Dương Chấn Ninh đang ăn cơm tối tại Thượng Hải thì nhận được một mẩu giấy của Đặng Gia Tiên, trong có viết: “Tôi đã điều tra rồi, đúng là kết quả tự lực cánh sinh của Trung Quốc”. Đọc xong mẩu giấy đó, Dương ứa nước mắt vì cảm động.
Vu Mẫn là một nhà vật lý tôi kính trọng nhất, tuy chưa từng học tập ở nước ngoài nhưng ông đã có cống hiến lớn cho nhà nước chúng ta, có người gọi ông là “Cha đẻ bom khinh khí Trung Quốc”. Vu Mẫn từng nói một câu: “Dân tộc Trung Hoa không bắt nạt người khác, cũng quyết không chịu để người khác bắt nạt; vũ khí hạt nhân là một biện pháp bảo đảm điều đó”. Viện sĩ Vu Mẫn nói lên động lực thúc đẩy ông làm việc.
Tình cảm dân tộc và tư tưởng yêu nước chất phác ấy cũng là động lực khiến tôi có được sự tiến bộ trong công việc.
Tinh thần yêu nước là phần rất đặc sắc trong văn minh Trung Hoa cổ xưa, nhưng nó quyết không phải là thứ văn hóa sở hữu riêng của Trung Quốc mà có tính phổ quát trên toàn thế giới. Trong diễn văn đọc tại ĐH Yale ngày 21/4/2006, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào từng nói: “Nathan Hale anh hùng dân tộc Mỹ cựu sinh viên ĐH Yale, có một danh ngôn – “Điều đáng tiếc duy nhất của tôi là không có cuộc đời thứ hai để hiến dâng cho Tổ quốc mình”.
Tôi có một người bạn Mỹ là cựu Tư lệnh Bộ đội chiến lược Mỹ, tướng 4 sao, từng có hơn 5.000 giờ bay, từng lái đủ mọi kiểu máy bay quân sự. Có lần tôi hỏi vợ ông: “Ông nhà bà bay nhiều như thế, bà có sợ gì không”. Bà ấy trả lời rất rõ ràng: “Nói không sợ là giả dối. Dĩ nhiên tôi sợ chứ. Nhưng vì lợi ích của nước Mỹ, ông ấy nhất thiết phải làm như thế”.
Người Mỹ có câu: For the interests of the United States [Vì lợi ích của Hợp Chúng Quốc]. Hồi Tổng thống Nixon sang thăm Trung Quốc, có người hỏi: “Ông đến đây làm gì?” Ông trả lời: “Vì lợi ích của nước Mỹ!”
Gates Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ từng là Hiệu trưởng ĐH Nông nghiệp và Cơ khí; khi nhận được thông báo của Tổng thống đề nghị ông ra làm Bộ trưởng Quốc phòng, ông từng viết thư cho rất nhiều bạn bè, trong đó có câu “Tổng thống Mỹ đã tuyên bố bổ nhiệm tôi làm Bộ trưởng Quốc phòng. Tôi cảm thấy rất hân hạnh, đồng thời cũng cảm thấy một nỗi buồn sâu sắc, bởi lẽ tôi vô cùng yêu mến trường đại học này, yêu mến tiểu bang nơi tôi đang sinh sống này. Nhưng tôi càng yêu Tổ quốc mình hơn. Tôi phải chấp hành chức trách của mình, vì thế tôi phải đi khỏi nơi đây”. [5]
Đấy chính là tình yêu lớn! Tình yêu lớn trước hết phải yêu nồng nàn đất nước mình.
(Còn nữa)
Huy Đường lược dịch
Ghi chú của người dịch:
[1] Toàn văn câu này lấy từ Kinh Dịch: Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức. Địa thế khôn, quân tử dĩ hậu đức tái vật. Nghĩa là kẻ quân tử nên như bầu trởi vận hành không nghỉ, dù gian nan phiêu bạt cũng không chịu khuất phục; kẻ quân tử phải có độ lượng giao tiếp rộng như trái đất, không thứ gì không thể gánh chịu được.
[2] Toàn văn câu này ở sách Luận Ngữ, Tử Trương-19: Bác học nhi đốc chí, thiết vấn nhi cận tư, nhân tại kỳ trung hĩ.
[3] Nguyên văn câu này: Thiên giáo vạn giáo, giáo nhân cầu chân, thiên học vạn học, học tố chân nhân. Ý nghĩa: mục đích căn bản của giáo dục là giúp người ta trở thành người chân chính; một người qua giáo dục cho dù kiến thức uyên bác nhưng thiếu nhân cách thì việc giáo dục người đó là thất bại. Ngày ngày ta học nhiều kiến thức nhưng chỉ khi nào ta học biết cách làm người thì mới thực sự nắm được các tri thức khác, tri thức ấy mới hữu dụng cho xã hội. Đào Hành Tri: (1891-1945), nhà giáo dục nổi tiếng, chiến sĩ dân chủ, một trong các nhà lãnh đạo Hội Cứu nước nhân dân Trung Quốc và Đồng minh Dân chủ Trung Quốc.
[4] Chỉ số đạo đức: Moral Intelligence Quotient (MQ).
[5] Robert Gates, sinh 1943, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ trong chính phủ của cả hai đảng Cộng Hòa (của Tổng thống Bush con) và Dân Chủ (Tổng thống Obama), từng làm việc 26 năm tại CIA, là Giám đốc CIA thời Tổng thống Bush cha; sau khi rời CIA ông làm Hiệu trưởng (president) Texas A&M University
Tiasang.com.vn
Trường đại học không chỉ là tồn tại vật chất khách quan mà còn là một dạng tồn tại văn hoá và tinh thần. Tồn tại vật chất của ĐH rất đơn giản: thiết bị, dụng cụ, trường sở v.v... Thế nhưng đại học sở dĩ gọi là đại học, mấu chốt là tồn tại văn hoá và tồn tại tinh thần của nó.
Văn hóa đại học là văn hoá tìm kiếm chân lý, là văn hoá nghiêm chỉnh coi trọng thực tế, là văn hoá theo đuổi sự tìm kiếm lý tưởng và hoài bão của đời người, là văn hoá tôn thờ tự do học thuật, văn hoá đề xướng lý luận gắn với thực tế, văn hoá tôn thờ đạo đức, văn hoá bao dung, là dạng văn hoá có tinh thần phê phán quyết liệt. Văn hóa đại học thể hiện một tính chung, cốt lõi và linh hồn của nó thì thể hiện ở tinh thần đại học.
Lời răn của nhà trường [nguyên văn chữ Hán Việt: “Hiệu huấn”; còn gọi là Khẩu hiệu truyền thống của nhà trường] là thứ tượng trưng cho tinh thần đại học, đó là kết tinh lịch sử và văn hoá nhà trường, là thể hiện tập trung ý tưởng tổ chức học tập của nhà trường, cũng là một biểu đạt ngắn gọn nội dung văn hoá riêng của nhà trường.
Một tờ báo từng tiến hành trưng cầu ý kiến của 4762 người với câu hỏi: “Bạn cho rằng trường đại học nào của Trung Quốc có khẩu hiệu truyền thống tốt nhất?” Kết quả, khẩu hiệu truyền thống của ĐH Thanh Hoa “Tự cường bất tức, hậu đức tải vật” [câu này lấy từ sách Kinh Dịch, ý nói yêu cầu học sinh mãi mãi phấn đấu tự cường tiến lên hàng đầu, có tinh thần đoàn kết hợp tác, nghiêm khác với bản thân, vô tư dâng hiến] được 54% số phiếu, xếp thứ nhất. “Tự cường bất tức” phản ánh tinh thần dân tộc Trung Hoa, câu này cũng được rất nhiều đại học Trung Quốc dùng làm khẩu hiệu truyền thống của mình.
Năm 2006 khi nói chuyện tại ĐH Yale, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào cũng dẫn câu “Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức” [Đạo trời vận hành mạnh mẽ vững bền, kẻ quân tử nên tự giác phấn đấu vươn lên không ngừng] [1] danh ngôn lưu truyền muôn đời này của Trung Quốc nhằm trình bày tinh thần tự cường không ngừng, khai phá sáng tạo bao năm của dân tộc Trung Hoa. 5.000 năm qua, sở dĩ dân tộc Trung Hoa đời đời không ngừng phấn đấu, trải bao trắc trở mà không bị khuất phục chính là nhờ dựa vào tinh thần quyết tâm vươn tới hùng cường, dung nạp bao quát tất cả các mặt, ngày càng tiến lên. Mọi thành tích giành được từ cải cách mở cửa tới nay cũng là sự khắc họa tinh thần đó.
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Phục Đán “Bác học nhi đốc chí, thiết vấn nhi cận tư” [Người có lý tưởng cao xa thì phải có trí thức phong phú, phải luôn nghi ngờ đặt câu hỏi và luôn suy nghĩ sâu sắc] [2] được xếp hạng thứ hai. Giáo sư Lý Chính Đạo [Nobel vật lý 1957 cùng Dương Chấn Ninh] đặc biệt thích chữ thứ hai trong mỗi câu trên: học và vấn (hỏi). Học hỏi [chữ Hán: học vấn] tức là phải hỏi vấn đề chứ không phải là trả lời vấn đề.
Thế nhưng tôi phát hiện ra sự khác biệt văn hoá rất lớn giữa nước ta với phương Tây. Phụ huynh các nước Anh, Mỹ thấy con đi học về đều hỏi: “Hôm nay con hỏi được mấy vấn đề?” Còn ở ta, phụ huynh hỏi: “Hôm nay con được mấy điểm?”
Có lần tôi thấy một người đến cơ quan làm việc với vẻ mặt rất không vui, tôi hỏi: “Hôm nay ông sao thế? ” Ông ta trả lời: “Tôi đang tức điên người vì con bé nhà tôi thi được có 99 điểm”. Tôi bảo: “Tôi làm ngành vật lý cho nên biết là theo lý thuyết sai số, kém 1 điểm vẫn đạt trình độ quốc tế đấy ạ”. Ông ta nói: “Kém 1 điểm liệu có thể được vào ĐH Phục Đán chăng?” Tôi chẳng biết nói gì nữa. Chế độ thi cử của chúng ta hiện nay rất nghiêm ngặt, điều đó có ảnh hưởng sâu sắc tới văn hoá ĐH của chúng ta.
Einstein từng nói: “Tôi không có tài năng gì đặc biệt cả, chẳng qua là thích hỏi cho ra nhẽ mà thôi”. Teller cha đẻ bom khinh khí Mỹ mỗi lần đến phòng thí nghiệm đều đặt ra các câu hỏi này nọ, mỗi ngày ít nhất ông nêu ra 10 vấn đề, nhưng thường thường có 8-9 vấn đề sai. Có điều cái sáng tạo vĩ đại của ông lại chính là ở 1-2 vấn đề đúng kia. N. Bohr, một trong những nhà vật lý vĩ đại nhất thế kỷ XX từng nói: “Không có câu hỏi nào ngu ngốc cả”.
2500 năm trước đây loài người đưa ra câu hỏi “Thế giới cấu tạo như thế nào”, – câu hỏi này đánh dấu sự khởi đầu của khoa học tự nhiên. Bởi vậy, các bạn trẻ cần dũng cảm nêu vấn đề, không nêu ra được vấn đề thì sẽ không có sáng tạo. Điều này nên trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng trong nội dung văn hoá ĐH của chúng ta.
2. Văn hóa đại học là văn hoá tìm kiếm chân lý, nghiêm chỉnh theo đuổi sự thật
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Harvard chỉ có một từ: Truth (chân lý, sự thật; có người dịch là Hãy để sự thật kết bạn với ta). Theo đuổi chân lý mà không mê tin quyền uy. Văn hóa ĐH là văn hoá theo đuổi chân lý, nghiêm chỉnh tìm kiếm sự thật.
Cách đây không lâu tôi có gặp ông hiệu trưởng Harvard vừa mới từ chức. Ông ấy kể là khi ông còn làm hiệu trưởng, có một sinh viên mới vào trường này bảo ông: “Em luôn luôn theo dõi các số liệu của thầy, trong đó có các số liệu sai đấy ạ”. Một sinh viên mới toanh mà có thể bảo thầy hiệu trưởng “Thầy sai rồi”, – đó là văn hoá của ĐH Harvard: ý tưởng thắng quyền uy. Trường ĐH nào có được văn hoá như thế thì trường ấy có thể trở thành đại học hàng đầu thế giới.
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Yale là Light and Truth (Ánh sáng và chân lý). Trong diễn văn đọc tại ĐH Yale ngày 21/4/2006 , Chủ tịch Hồ Cẩm Đào nói: “Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Yale nhấn mạnh sự theo đuổi ánh sáng và chân lý, điều đó phù hợp với phép tắc tiến bộ của loài người, cũng hợp với tâm nguyện của mỗi thanh niên có chí hướng”.
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Washington là “Qua chân lý giành lấy sức mạnh”.
Các khẩu hiệu nói trên đều sử dụng từ chân lý.
Thế nhưng trong các đại học ở nước chúng ta hiện nay lại xuất hiện rất nhiều chuyện gian lận giả dối: hiện tượng dối trá cấm mãi chẳng được, gian lận học thuật thường xuyên xảy ra, các thông tin khai báo dối trá lừa gạt v.v...
Hồi tôi làm hiệu trưởng, việc khiến tôi xấu hổ nhất là gì, các bạn biết không? Là nhận được công văn của các trường đại học bên Mỹ yêu cầu tôi chứng minh bản khai thành tích học tập của các sinh viên Trung Quốc bên ấy họ nhận được là thật hay giả – đây là công văn chuyên gửi sang hỏi Trung Quốc. Ngoài ra còn có chuyện sinh viên Trung Quốc không xin được thẻ tín dụng. Khi sang Anh Quốc, tôi cảm thấy rất tự hào vì tôi là người Trung Quốc đầu tiên được đội mũ vành mạ vàng của nước Anh, nhưng chẳng bao lâu tôi cảm thấy mình thẹn đỏ cả mặt vì có sinh viên Trung Quốc nói với tôi: “Chúng em lxin ngân hàng Anh Quốc cấp thẻ tín dụng nhưng họ không duyệt, vì học sinh Trung Quốc nhiều lần có hạnh kiểm xấu [ý nói có hành vi gian lận trong sử dụng thẻ tín dụng] cho nên họ nhất luật không cấp thẻ tín dụng”.
Ngày hội nhà giáo năm 2005, Thủ tướng Ôn Gia Bảo trích dẫn câu nói của Đào Hành Tri “Dạy muôn nghìn lần, dạy người tìm kiếm sự thực thà; học muôn nghìn lần, học làm người thực thà” [3]. Sở dĩ Thủ tướng chú trọng câu này, tôi cho rằng điều đó có liên quan tới chuyện hiện nay chúng ta thiếu văn hoá theo đuổi chân lý.
3. Văn hóa đại học là văn hoá tôn thờ tự do học thuật
Khẩu hiệu truyền thống của Học viện Caltech “Chân lý làm con người được tự do” chính là sự thể hiện thứ văn hoá đó.
Hiệu trưởng ĐH Yale nói: “Chỉ có tự do khám phá, tự do biểu đạt thì mới có thể thực sự khai thác được tiềm năng của nhân loại”.
Trong buổi gặp gỡ tâm sự với các nhà văn học nghệ thuật ngày 13/11/2006, Thủ tướng Ôn Gia Bảo chín lần nhấn mạnh tự do. Ông còn dẫn lời Marx và Engels viết trong Tuyên ngôn của đảng cộng sản: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọi người” Thủ tướng nói đến tự do trong trường hợp như trên, tôi cảm thấy điều đó có ý nghĩa rất sâu sắc.
4. Văn hóa đại học là văn hoá đề xướng lý luận gắn với thực tế
Học viện Công nghệ Massachusetts tôn thờ phương châm lý luận gắn liền với thực tế. Khẩu hiệu truyền thống của trường này là “Suy nghĩ và bắt tay vào làm" (Mind and Hand).
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Nottingham “Đô thị xây dựng bằng trí tuệ”, dùng ngôn ngữ hiện đại giải thích là “Trường đại học là động cơ của tăng trưởng kinh tế”. Một đô thị muốn trở thành đại đô thị quốc tế hóa thì phải có hậu thuẫn là trường đại học hàng đầu. Trường đại học đem lại cho đô thị không những sự nhảy vọt về vật chất và kinh tế mà còn đem lại sự nâng cấp về văn minh tinh thần và tu dưỡng văn hoá.
5. Văn hóa đại học là văn hoá tôn thờ đạo đức
Nói tới đạo đức, ngôi trường đại học có ý nghĩa đích thực đầu tiên của nước Mỹ – ĐH Pennsylvania – có câu khẩu hiệu truyền thống nói về đạo đức: “Mọi phép tắc không có đạo đức đều uổng công vô ích”.
Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Giao thông Thượng Hải cũng thể hiện hàm ý đạo đức hết sức sâu sắc: “Uống nước nhớ nguồn, yêu nước, làm vẻ vang nhà trường”. Uống nước nhớ nguồn, nói theo tiếng Anh là Thanksgiving, tức cảm ơn.
Nhưng hiện nay tại rất nhiều đại học kể cả các đại học danh tiếng ở nước ta lại có những tiếng nói trái tai: một số học sinh đến từ nông thôn không muốn găp cha mẹ mình, cảm thấy việc gặp ấy không đẹp mặt mình. Nhưng nếu cha mẹ giàu có thì lại cảm thấy gặp cha mẹ là chuyện rất vẻ vang. Bởi vậy, tôi nhớ tới một câu nói ĐH Harvard đề xướng: “Một người có thể có thành tích hay không, chẳng những chỉ xem chỉ số thông minh IQ, mà còn nên xem chỉ số tình cảm EQ và hơn nữa, xem chỉ số đạo đức của người đó”. [4]
Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục tiểu học, trung học cho đến đại học là đào tạo người công dân tốt cho xã hội. Tôi rất tán thành câu nói của Viện sĩ Cầu Pháp Tổ: “Muốn làm người thầy thuốc tốt thì phải làm con người tốt”.
Tại Mỹ, sinh viên học xong 4 năm đại học mới được vào Học viện Y khoa. Về sau Anh Quốc thấy được cái hay của việc đó. Cách đây 4 năm, ĐH Nottingham thành lập một học viện Y khoa, chỉ sinh viên đã tốt nghiệp đại học mới được vào học; điều kiện quan trọng đầu tiên trong tuyển sinh là xem phẩm chất con người đó chứ không phải xem thí sinh đã học chuyên ngành sinh vật hay khoa học tự nhiên. Hơn nữa còn đặc biệt nhấn mạnh: “Muốn làm thầy thuốc, trước hết phải biết làm con người như thế nào, biết cách đối xử với con người, lấy con người làm gốc.”
Năm 1998, UNESCO họp “Đại hội đón chào giáo dục cao đẳng thế kỷ XXI”, khi phát biểu tổng kết cuộc họp, Tổng Thư ký UNESCO nói: Nhà trường phải dạy học sinh học cách làm người, học cách sinh tồn (learn to be), học kiến thức (learn to know), học cách nắm được các kiến thức đó (learn how to learn), lại còn phải dạy học sinh học được cách sống chung với người khác (learn to deal with the others).
6. Văn hóa đại học là văn hoá tôn thờ tinh thần yêu nước
Câu “Yêu nước, làm rạng danh nhà trường” trong khẩu hiệu truyền thống của ĐH Giao thông Thượng Hải thể hiện trình độ cao của đạo đức, thể hiện tinh hoa văn hoá Trung Quốc.
Ngày 4/7/2001, tôi chính thức ngồi vào vị trí Hiệu trưởng (Chancellor) ĐH Nottingham. Khi lần đầu tiên lá cờ đỏ 5 sao được kéo lên trên sân trường đại học Anh Quốc, tôi cảm thấy rất đỗi tự hào. Tôi muốn nói với mọi người rằng đây không phải là chuyện cá nhân tôi thế nào, mà là chuyện tổ quốc tôi đã lớn mạnh. Thiết nghĩ 20 năm trước tôi không thể có được vị trí này.
Một bạn người Hoa mắt đẫm lệ nói với tôi: “Chẳng ai ngờ chiếc mũ viền vàng duy nhất của ĐH Nottingham hôm nay được trao cho một người Hoa đích thực”... “Mỗi người Hoa đều có một giấc mơ, mơ ước làm sao cho Trung Quốc 5 nghìn năm văn hiến có thể đứng lên được trên thế giới này. Phải đứng thẳng lên, đứng cho vững!”
Đặng Gia Tiên từng nói: “Đối với một nhà khoa học, còn có gì đáng kiêu hãnh và tự hào hơn là được dâng hiến toàn bộ tri thức và trí tuệ của mình cho tổ quốc, làm cho dân tộc Trung Hoa thoát khỏi số phận bị nước ngoài xâu xé?” Ông là bạn học của Dương Chấn Ninh, hai người cùng lấy bằng tiến sĩ ở Mỹ.
Năm 1971 Dương Chấn Ninh về Trung Quốc có gặp Đặng Gia Tiên và hỏi: “Trung Quốc phát triển vũ khí hạt nhân có người nước ngoài giúp hay không?” Dương hỏi câu này rất tự nhiên, vì hai phần ba nhà khoa học hạt nhân của Mỹ đều là người châu Âu; Liên Xô cũ khi phát triển vũ khí hạt nhân cũng dựa vào sự giúp đỡ của các nhà khoa học châu Âu.
Một tuần sau, khi Dương Chấn Ninh đang ăn cơm tối tại Thượng Hải thì nhận được một mẩu giấy của Đặng Gia Tiên, trong có viết: “Tôi đã điều tra rồi, đúng là kết quả tự lực cánh sinh của Trung Quốc”. Đọc xong mẩu giấy đó, Dương ứa nước mắt vì cảm động.
Vu Mẫn là một nhà vật lý tôi kính trọng nhất, tuy chưa từng học tập ở nước ngoài nhưng ông đã có cống hiến lớn cho nhà nước chúng ta, có người gọi ông là “Cha đẻ bom khinh khí Trung Quốc”. Vu Mẫn từng nói một câu: “Dân tộc Trung Hoa không bắt nạt người khác, cũng quyết không chịu để người khác bắt nạt; vũ khí hạt nhân là một biện pháp bảo đảm điều đó”. Viện sĩ Vu Mẫn nói lên động lực thúc đẩy ông làm việc.
Tình cảm dân tộc và tư tưởng yêu nước chất phác ấy cũng là động lực khiến tôi có được sự tiến bộ trong công việc.
Tinh thần yêu nước là phần rất đặc sắc trong văn minh Trung Hoa cổ xưa, nhưng nó quyết không phải là thứ văn hóa sở hữu riêng của Trung Quốc mà có tính phổ quát trên toàn thế giới. Trong diễn văn đọc tại ĐH Yale ngày 21/4/2006, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào từng nói: “Nathan Hale anh hùng dân tộc Mỹ cựu sinh viên ĐH Yale, có một danh ngôn – “Điều đáng tiếc duy nhất của tôi là không có cuộc đời thứ hai để hiến dâng cho Tổ quốc mình”.
Tôi có một người bạn Mỹ là cựu Tư lệnh Bộ đội chiến lược Mỹ, tướng 4 sao, từng có hơn 5.000 giờ bay, từng lái đủ mọi kiểu máy bay quân sự. Có lần tôi hỏi vợ ông: “Ông nhà bà bay nhiều như thế, bà có sợ gì không”. Bà ấy trả lời rất rõ ràng: “Nói không sợ là giả dối. Dĩ nhiên tôi sợ chứ. Nhưng vì lợi ích của nước Mỹ, ông ấy nhất thiết phải làm như thế”.
Người Mỹ có câu: For the interests of the United States [Vì lợi ích của Hợp Chúng Quốc]. Hồi Tổng thống Nixon sang thăm Trung Quốc, có người hỏi: “Ông đến đây làm gì?” Ông trả lời: “Vì lợi ích của nước Mỹ!”
Gates Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ từng là Hiệu trưởng ĐH Nông nghiệp và Cơ khí; khi nhận được thông báo của Tổng thống đề nghị ông ra làm Bộ trưởng Quốc phòng, ông từng viết thư cho rất nhiều bạn bè, trong đó có câu “Tổng thống Mỹ đã tuyên bố bổ nhiệm tôi làm Bộ trưởng Quốc phòng. Tôi cảm thấy rất hân hạnh, đồng thời cũng cảm thấy một nỗi buồn sâu sắc, bởi lẽ tôi vô cùng yêu mến trường đại học này, yêu mến tiểu bang nơi tôi đang sinh sống này. Nhưng tôi càng yêu Tổ quốc mình hơn. Tôi phải chấp hành chức trách của mình, vì thế tôi phải đi khỏi nơi đây”. [5]
Đấy chính là tình yêu lớn! Tình yêu lớn trước hết phải yêu nồng nàn đất nước mình.
(Còn nữa)
Huy Đường lược dịch
Ghi chú của người dịch:
[1] Toàn văn câu này lấy từ Kinh Dịch: Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức. Địa thế khôn, quân tử dĩ hậu đức tái vật. Nghĩa là kẻ quân tử nên như bầu trởi vận hành không nghỉ, dù gian nan phiêu bạt cũng không chịu khuất phục; kẻ quân tử phải có độ lượng giao tiếp rộng như trái đất, không thứ gì không thể gánh chịu được.
[2] Toàn văn câu này ở sách Luận Ngữ, Tử Trương-19: Bác học nhi đốc chí, thiết vấn nhi cận tư, nhân tại kỳ trung hĩ.
[3] Nguyên văn câu này: Thiên giáo vạn giáo, giáo nhân cầu chân, thiên học vạn học, học tố chân nhân. Ý nghĩa: mục đích căn bản của giáo dục là giúp người ta trở thành người chân chính; một người qua giáo dục cho dù kiến thức uyên bác nhưng thiếu nhân cách thì việc giáo dục người đó là thất bại. Ngày ngày ta học nhiều kiến thức nhưng chỉ khi nào ta học biết cách làm người thì mới thực sự nắm được các tri thức khác, tri thức ấy mới hữu dụng cho xã hội. Đào Hành Tri: (1891-1945), nhà giáo dục nổi tiếng, chiến sĩ dân chủ, một trong các nhà lãnh đạo Hội Cứu nước nhân dân Trung Quốc và Đồng minh Dân chủ Trung Quốc.
[4] Chỉ số đạo đức: Moral Intelligence Quotient (MQ).
[5] Robert Gates, sinh 1943, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ trong chính phủ của cả hai đảng Cộng Hòa (của Tổng thống Bush con) và Dân Chủ (Tổng thống Obama), từng làm việc 26 năm tại CIA, là Giám đốc CIA thời Tổng thống Bush cha; sau khi rời CIA ông làm Hiệu trưởng (president) Texas A&M University
Tiasang.com.vn
Sứ mệnh của trường đại học
Những năm gần đây, GS Dương Phúc Gia, người Trung Quốc đầu tiên nhậm chức hiệu trưởng một trường ĐH nổi tiếng Anh Quốc (ĐH Nottingham), đã nhiều lần thẳng thắn phát biểu về sự yếu kém của giáo dục đại học Trung Quốc, được lãnh đạo nhà nước và giới chuyên môn rất quan tâm.
Dưới đây là phần lược dịch bài viết “Sứ mệnh và nội hàm văn hoá của trường đại học” của Dương Phúc Gia, đăng trên Thời báo Học tập số ra ngày 27/8/2007.
Bài này gồm 5 phần: - Sứ mệnh của trường ĐH; - Nội hàm văn hóa ĐH; - Gợi ý từ ĐH hàng đầu; - ĐH hàng đầu coi trọng những sinh viên như thế nào; - Trách nhiệm của sinh viên. Các phần ghi trong dấu ngoặc vuông là của người dịch.
I. SỨ MỆNH CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1. Sứ mệnh của trường đại học là gì?
ĐH Yale thuộc nhóm ĐH đứng đầu thế giới, liên tục mấy năm liền xếp thứ 3 trong bảng xếp hạng ĐH Mỹ, chỉ sau ĐH Princeton và ĐH Harvard. ĐH Yale thành lập năm 1701, hiện nay có 11.483 học viên, trong đó có 5.316 sinh viên (ở Học viện Yale) và 2.522 nghiên cứu sinh, 3.552 sinh viên các học viện chuyên ngành (ở 11 học viện, như Học viện Y khoa, Học viện Luật, Học viện Nhạc, v.v... đều tuyển người đã tốt nghiệp ĐH).
Sứ mệnh của ĐH Yale là gì? Điều đó đã được xác định ngay từ khi sáng lập trường, đó là: Đào tạo thủ lĩnh cho nhà nước và thế giới.
ĐH Yale là nơi đào tạo 5-6 Tổng thống Mỹ (Bush cha và con, Clinton ...). Cho tới nay Yale đã đào tạo được 530 nghị sĩ quốc hội Mỹ, còn đào tạo cả Tổng thống cho Mexico và Đức, Thủ tướng cho Hàn Quốc, Bộ trưởng Ngoại giao cho Nhật Bản v.v.... Rất nhiều hiệu trưởng xuất sắc của các ĐH hàng đầu thế giới từng tốt nghiệp tại đây.
Về sau ĐH Yale còn đưa ra các sứ mệnh cơ bản của trường: Bảo vệ, truyền thụ, đẩy mạnh và làm phong phú tri thức và văn hoá.
Thoạt xem có thể có cảm giác tựa như các sứ mệnh đó chỉ là một đống từ ngữ, nhưng suy ngẫm kỹ sẽ có thể hiểu, nếu sứ mệnh chỉ có “truyền thụ tri thức” thì điều đó đều thích hợp với ngót 4000 ĐH Mỹ; nếu thêm “đẩy mạnh và làm phong phú” thì chỉ 3% số trường ĐH có thể đảm đương được nhiệm vụ đó; nếu lại thêm “văn hoá” nữa thì chỉ còn 1%; còn nếu thêm “bảo vệ tri thức và văn hoá” thì e rằng chưa tới 3 phần nghìn.
ĐH Yale có thư viện sách quý hiếm tốt nhất thế giới chính là để gánh vác sứ mệnh đó. Chẳng hạn chỉ ở đây mới có một số sách hoặc tư liệu độc bản trên thế giới.
Tóm lại, sứ mệnh của trường ĐH phải có tính đặc thù, tính khác biệt. Nếu sứ mệnh của ĐH này lại có thể dùng cho bất cứ ĐH nào khác thì cách diễn tả sứ mệnh đó sẽ không xác đáng lắm..
Học viên Công nghệ California [California Institute of Technology, viết tắt Caltech hoặc CIT] là một học viện đơn nhất, nhưng nó nghiên cứu những vấn đề KHKT cơ bản có tính thách thức nhất trong sự giao thoa của các khoa học. Nó đào tạo một loạt sinh viên kiệt xuất trở thành những thành viên có tính sáng tạo trong xã hội. Ở đây tuy không đề cập tới văn hoá ĐH, nhưng không có nghĩa là Caltech không có văn hoá, chỉ có điều nó chú trọng tới cái khác.
Caltech không được gọi là ĐH mà gọi là Học viện [institute], quy mô rất nhỏ. Năm 2005 toàn trường có 386 giáo viên và nghiên cứu viên, 2.172 sinh viên và nghiên cứu sinh. Khi mới thành lập trường này, Hội đồng Quản trị nhà trường đã quy định: “Dù ai làm hiệu trưởng cũng không được mở rộng quy mô nhà trường”. Caltech có sứ mệnh “Kết hợp giảng dạy và nghiên cứu khoa học để mở rộng tri thức nhân loại và đem lại hạnh phúc cho xã hội”.
Chính là dưới ảnh hưởng của nội hàm văn hoá như thế mà tại Caltech xuất hiện 32 giải Nobel, 31 chủ nhân giải Nobel, có đóng góp lớn làm phong phú kho tàng tri thức của loài người. Ngoài 32 giải Nobel, còn có nhiều cựu sinh viên kiệt xuất, trong đó có Chu Bồi Nguyên, nhà nguyên lão vật lý học của Trung Quốc (tiến sĩ Caltech năm 1928), Triệu Trung Nghiêu người đặt nền móng ngành vật lý hạt nhân Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1930), Đàm Gia Trinh người đặt nền móng di truyền học Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1936), Tiền Học Sâm nhà khoa học nổi tiếng Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1939) [cha đẻ tên lửa Trung Quốc]. Tất cả các vị đại sư đó đã đặt nền móng cho địa vị của Caltech trên thế giới. Trên 3 lĩnh vực hàng không-vũ trụ, khoa học sự sống và vật lý, Caltech là hàng đầu của hàng đầu thế giới. Trường nhỏ mà học vấn lớn, thật là đặc sắc!
2. Các yếu tố cơ bản để hoàn thành sứ mệnh của trường đại học.
Ngay từ năm 1931, ông Mai Di Kỳ hiệu trưởng ĐH Thanh Hoa từng nói “Một trường ĐH sở dĩ gọi là ĐH, tất cả là ở chỗ trường ấy có giáo sư giỏi hay không.”
Ông nói câu này vào thời điểm ĐH Thanh Hoa vừa cơ bản xây dựng xong, nhà trường bắt đầu đặt trọng điểm vào việc thu hút các đại sư chứ không quá chú ý tới việc xây dựng trường sở.
Thực ra một trường ĐH chỉ có trường sở to và đại sư thì chưa đủ. Cá nhân tôi cho rằng còn phải có “đại ái [tình yêu lớn]”.
Từ bài viết của chủ nhân giải Nobel James Tobin [Nobel kinh tế 1981], ông Richard C. Levin hiệu trưởng ĐH Yale dẫn ra mấy yếu tố cơ bản để thực hiện sứ mệnh của ĐH như sau: Thứ nhất, phải có tài sản hữu hình (tangible assets); thứ hai, phải có tài nguyên con người (human resources); thứ ba, phải có nội hàm văn hoá (internal culture).
Tài sản hữu hình không chỉ gồm có trường sở mà còn có thiết bị, thư viện. Cũng vậy, tài nguyên con người cũng không chỉ có đại sư mà còn có sinh viên và nhân viên quản lý. Một ĐH không có sinh viên giỏi thì không thể trở thành ĐH hàng đầu được.
3. Trường ĐH sứ mệnh không rõ ràng, không có đặc sắc thì sẽ không có triển vọng
ĐH Princeton 7 năm liền xếp hạng ĐH thứ nhất ở Mỹ. ĐH Harvard 3 năm qua cũng đồng xếp hạng thứ nhất nhưng lần gần đây lại tụt xuống thứ hai, nguyên nhân do Princeton có hai chỉ tiêu vượt trên Harvard. Thứ nhất, số lượng lớp nhỏ dưới 50 sinh nhiều hơn; thứ hai, số lượng cựu sinh viên đền ơn nhà trường nhiều hơn Harvard (không chỉ là tiền, mà nhiều hơn, là sự cảm ơn).
Có người cho rằng ĐH hàng đầu thì phải có số lượng nghiên cứu sinh nhiều hơn sinh viên, nhất định phải có học viện y khoa, nhất thiết phải là ĐH có tính tổng hợp. Nói như vậy không thích hợp với ĐH Princeton – trường này hiện chỉ có 6.677 học sinh, trong đó 4.678 sinh viên, 1999 nghiên cứu sinh. Năm 2006, ĐH Princeton chỉ trao tặng có 277 học vị tiến sĩ, 151 học vị thạc sĩ cuối cùng (không học tiếp); tỷ lệ học sinh với giáo viên (chế độ cả ngày) là 5:1; trường này không có học viện y khoa cũng như học viện luật và học viện quản trị kinh doanh (hiện nay ở Trung Quốc các ĐH hàng đầu hầu như đều có học viện quản trị kinh doanh, y khoa và luật khoa); nghiên cứu sinh chỉ chiếm 30% tổng số học sinh.
Nhưng ĐH Princeton tuyệt đối là ĐH đứng đầu thế giới. Vậy đâu là cái vĩ đại của ĐH Princeton?
Ngoài việc đào tạo 25 chủ nhân giải Nobel (trong đó 17 giải vật lý) và 12 chủ nhân giải Fields (cả nước Mỹ có 24 người được giải này), ĐH Princeton còn nổi tiếng về không khí học thuật tự do, khoan dung.
Rất nhiều trường ĐH Trung Quốc thiếu những đặc sắc như vậy. Trong 4 lần hội nghị giáo dục cao đẳng do Thủ tướng Ôn Gia Bảo triệu tập trong năm 2006, Thủ tướng có nói về 4 nỗi lo của ông: Thứ nhất, sở dĩ hiện nay Trung Quốc chưa hoàn toàn phát triển trong đó có một nguyên nhân là chưa có một ĐH nào có thể tổ chức theo mô hình đào tạo nhân tài phát minh sáng tạo KHKT, chưa có sự sáng tạo độc đáo của mình thì không thể đào tạo được nhân tài kiệt xuất cấp đại sư. Thứ hai, vấn đề chất lượng học tập của các trường ĐH cao đẳng; Thứ ba, vấn đề làm thế nào để trường ĐH có đặc sắc của mình. Thứ tư, các trường công ở Trung Quốc đã vay bao nhiêu tiền? 300 tỷ, 400 tỷ hay là 500 tỷ Nhân dân tệ?
Dương Phúc Gia (Yang Fu-jia, 1936-), tốt nghiệp ĐH Phục Đán (Thượng Hải), nhà vật lý nổi tiếng, Viện sĩ Viện Khoa học Trung Quốc, Phó Chủ tịch Hội KHKT Trung Quốc, Chủ tịch Hội KHKT Thượng Hải (1992-1996), Giám đốc Viện Nghiên cứu hạt nhân nguyên tử Thượng Hải thuộc Viện KH Trung Quốc (1987-2001).
Năm 1984 được bình chọn là chuyên gia có cống hiến kiệt xuất cấp nhà nước.
Năm 1991 được bầu là Viện sĩ Viện KH Trung Quốc, Viện sĩ Viện KH thế giới thứ ba.
Từ 1998 được mời làm GS danh dự ĐH Vanderbilt (Mỹ). Ông cũng là Tiến sĩ KH danh dự ĐH Sōka (Nhật), Tiến sĩ Nhân văn danh dự ĐH bang New York, Tiến sĩ danh dự ĐH Hồng Công, ĐH Nottingham (Anh), và ĐH Connecticut (Mỹ). Dương Phúc Gia từng là Hiệu trưởng ĐH Phục Đán (1993-1998), từ 1996 là Ủy viên chấp hành Hội Hiệu trưởng các trường đại học trên thế giới.
Từ năm 2001 ông được mời làm Hiệu trưởng ĐH Nottingham (hai nhiệm kỳ liền), trở thành người Trung Quốc đầu tiên nhậm chức hiệu trưởng một trường ĐH nổi tiếng Anh Quốc
Dưới đây là phần lược dịch bài viết “Sứ mệnh và nội hàm văn hoá của trường đại học” của Dương Phúc Gia, đăng trên Thời báo Học tập số ra ngày 27/8/2007.
Bài này gồm 5 phần: - Sứ mệnh của trường ĐH; - Nội hàm văn hóa ĐH; - Gợi ý từ ĐH hàng đầu; - ĐH hàng đầu coi trọng những sinh viên như thế nào; - Trách nhiệm của sinh viên. Các phần ghi trong dấu ngoặc vuông là của người dịch.
I. SỨ MỆNH CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1. Sứ mệnh của trường đại học là gì?
ĐH Yale thuộc nhóm ĐH đứng đầu thế giới, liên tục mấy năm liền xếp thứ 3 trong bảng xếp hạng ĐH Mỹ, chỉ sau ĐH Princeton và ĐH Harvard. ĐH Yale thành lập năm 1701, hiện nay có 11.483 học viên, trong đó có 5.316 sinh viên (ở Học viện Yale) và 2.522 nghiên cứu sinh, 3.552 sinh viên các học viện chuyên ngành (ở 11 học viện, như Học viện Y khoa, Học viện Luật, Học viện Nhạc, v.v... đều tuyển người đã tốt nghiệp ĐH).
Sứ mệnh của ĐH Yale là gì? Điều đó đã được xác định ngay từ khi sáng lập trường, đó là: Đào tạo thủ lĩnh cho nhà nước và thế giới.
ĐH Yale là nơi đào tạo 5-6 Tổng thống Mỹ (Bush cha và con, Clinton ...). Cho tới nay Yale đã đào tạo được 530 nghị sĩ quốc hội Mỹ, còn đào tạo cả Tổng thống cho Mexico và Đức, Thủ tướng cho Hàn Quốc, Bộ trưởng Ngoại giao cho Nhật Bản v.v.... Rất nhiều hiệu trưởng xuất sắc của các ĐH hàng đầu thế giới từng tốt nghiệp tại đây.
Về sau ĐH Yale còn đưa ra các sứ mệnh cơ bản của trường: Bảo vệ, truyền thụ, đẩy mạnh và làm phong phú tri thức và văn hoá.
Thoạt xem có thể có cảm giác tựa như các sứ mệnh đó chỉ là một đống từ ngữ, nhưng suy ngẫm kỹ sẽ có thể hiểu, nếu sứ mệnh chỉ có “truyền thụ tri thức” thì điều đó đều thích hợp với ngót 4000 ĐH Mỹ; nếu thêm “đẩy mạnh và làm phong phú” thì chỉ 3% số trường ĐH có thể đảm đương được nhiệm vụ đó; nếu lại thêm “văn hoá” nữa thì chỉ còn 1%; còn nếu thêm “bảo vệ tri thức và văn hoá” thì e rằng chưa tới 3 phần nghìn.
ĐH Yale có thư viện sách quý hiếm tốt nhất thế giới chính là để gánh vác sứ mệnh đó. Chẳng hạn chỉ ở đây mới có một số sách hoặc tư liệu độc bản trên thế giới.
Tóm lại, sứ mệnh của trường ĐH phải có tính đặc thù, tính khác biệt. Nếu sứ mệnh của ĐH này lại có thể dùng cho bất cứ ĐH nào khác thì cách diễn tả sứ mệnh đó sẽ không xác đáng lắm..
Học viên Công nghệ California [California Institute of Technology, viết tắt Caltech hoặc CIT] là một học viện đơn nhất, nhưng nó nghiên cứu những vấn đề KHKT cơ bản có tính thách thức nhất trong sự giao thoa của các khoa học. Nó đào tạo một loạt sinh viên kiệt xuất trở thành những thành viên có tính sáng tạo trong xã hội. Ở đây tuy không đề cập tới văn hoá ĐH, nhưng không có nghĩa là Caltech không có văn hoá, chỉ có điều nó chú trọng tới cái khác.
Caltech không được gọi là ĐH mà gọi là Học viện [institute], quy mô rất nhỏ. Năm 2005 toàn trường có 386 giáo viên và nghiên cứu viên, 2.172 sinh viên và nghiên cứu sinh. Khi mới thành lập trường này, Hội đồng Quản trị nhà trường đã quy định: “Dù ai làm hiệu trưởng cũng không được mở rộng quy mô nhà trường”. Caltech có sứ mệnh “Kết hợp giảng dạy và nghiên cứu khoa học để mở rộng tri thức nhân loại và đem lại hạnh phúc cho xã hội”.
Chính là dưới ảnh hưởng của nội hàm văn hoá như thế mà tại Caltech xuất hiện 32 giải Nobel, 31 chủ nhân giải Nobel, có đóng góp lớn làm phong phú kho tàng tri thức của loài người. Ngoài 32 giải Nobel, còn có nhiều cựu sinh viên kiệt xuất, trong đó có Chu Bồi Nguyên, nhà nguyên lão vật lý học của Trung Quốc (tiến sĩ Caltech năm 1928), Triệu Trung Nghiêu người đặt nền móng ngành vật lý hạt nhân Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1930), Đàm Gia Trinh người đặt nền móng di truyền học Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1936), Tiền Học Sâm nhà khoa học nổi tiếng Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1939) [cha đẻ tên lửa Trung Quốc]. Tất cả các vị đại sư đó đã đặt nền móng cho địa vị của Caltech trên thế giới. Trên 3 lĩnh vực hàng không-vũ trụ, khoa học sự sống và vật lý, Caltech là hàng đầu của hàng đầu thế giới. Trường nhỏ mà học vấn lớn, thật là đặc sắc!
2. Các yếu tố cơ bản để hoàn thành sứ mệnh của trường đại học.
Ngay từ năm 1931, ông Mai Di Kỳ hiệu trưởng ĐH Thanh Hoa từng nói “Một trường ĐH sở dĩ gọi là ĐH, tất cả là ở chỗ trường ấy có giáo sư giỏi hay không.”
Ông nói câu này vào thời điểm ĐH Thanh Hoa vừa cơ bản xây dựng xong, nhà trường bắt đầu đặt trọng điểm vào việc thu hút các đại sư chứ không quá chú ý tới việc xây dựng trường sở.
Thực ra một trường ĐH chỉ có trường sở to và đại sư thì chưa đủ. Cá nhân tôi cho rằng còn phải có “đại ái [tình yêu lớn]”.
Từ bài viết của chủ nhân giải Nobel James Tobin [Nobel kinh tế 1981], ông Richard C. Levin hiệu trưởng ĐH Yale dẫn ra mấy yếu tố cơ bản để thực hiện sứ mệnh của ĐH như sau: Thứ nhất, phải có tài sản hữu hình (tangible assets); thứ hai, phải có tài nguyên con người (human resources); thứ ba, phải có nội hàm văn hoá (internal culture).
Tài sản hữu hình không chỉ gồm có trường sở mà còn có thiết bị, thư viện. Cũng vậy, tài nguyên con người cũng không chỉ có đại sư mà còn có sinh viên và nhân viên quản lý. Một ĐH không có sinh viên giỏi thì không thể trở thành ĐH hàng đầu được.
3. Trường ĐH sứ mệnh không rõ ràng, không có đặc sắc thì sẽ không có triển vọng
ĐH Princeton 7 năm liền xếp hạng ĐH thứ nhất ở Mỹ. ĐH Harvard 3 năm qua cũng đồng xếp hạng thứ nhất nhưng lần gần đây lại tụt xuống thứ hai, nguyên nhân do Princeton có hai chỉ tiêu vượt trên Harvard. Thứ nhất, số lượng lớp nhỏ dưới 50 sinh nhiều hơn; thứ hai, số lượng cựu sinh viên đền ơn nhà trường nhiều hơn Harvard (không chỉ là tiền, mà nhiều hơn, là sự cảm ơn).
Có người cho rằng ĐH hàng đầu thì phải có số lượng nghiên cứu sinh nhiều hơn sinh viên, nhất định phải có học viện y khoa, nhất thiết phải là ĐH có tính tổng hợp. Nói như vậy không thích hợp với ĐH Princeton – trường này hiện chỉ có 6.677 học sinh, trong đó 4.678 sinh viên, 1999 nghiên cứu sinh. Năm 2006, ĐH Princeton chỉ trao tặng có 277 học vị tiến sĩ, 151 học vị thạc sĩ cuối cùng (không học tiếp); tỷ lệ học sinh với giáo viên (chế độ cả ngày) là 5:1; trường này không có học viện y khoa cũng như học viện luật và học viện quản trị kinh doanh (hiện nay ở Trung Quốc các ĐH hàng đầu hầu như đều có học viện quản trị kinh doanh, y khoa và luật khoa); nghiên cứu sinh chỉ chiếm 30% tổng số học sinh.
Nhưng ĐH Princeton tuyệt đối là ĐH đứng đầu thế giới. Vậy đâu là cái vĩ đại của ĐH Princeton?
Ngoài việc đào tạo 25 chủ nhân giải Nobel (trong đó 17 giải vật lý) và 12 chủ nhân giải Fields (cả nước Mỹ có 24 người được giải này), ĐH Princeton còn nổi tiếng về không khí học thuật tự do, khoan dung.
Rất nhiều trường ĐH Trung Quốc thiếu những đặc sắc như vậy. Trong 4 lần hội nghị giáo dục cao đẳng do Thủ tướng Ôn Gia Bảo triệu tập trong năm 2006, Thủ tướng có nói về 4 nỗi lo của ông: Thứ nhất, sở dĩ hiện nay Trung Quốc chưa hoàn toàn phát triển trong đó có một nguyên nhân là chưa có một ĐH nào có thể tổ chức theo mô hình đào tạo nhân tài phát minh sáng tạo KHKT, chưa có sự sáng tạo độc đáo của mình thì không thể đào tạo được nhân tài kiệt xuất cấp đại sư. Thứ hai, vấn đề chất lượng học tập của các trường ĐH cao đẳng; Thứ ba, vấn đề làm thế nào để trường ĐH có đặc sắc của mình. Thứ tư, các trường công ở Trung Quốc đã vay bao nhiêu tiền? 300 tỷ, 400 tỷ hay là 500 tỷ Nhân dân tệ?
Dương Phúc Gia (Yang Fu-jia, 1936-), tốt nghiệp ĐH Phục Đán (Thượng Hải), nhà vật lý nổi tiếng, Viện sĩ Viện Khoa học Trung Quốc, Phó Chủ tịch Hội KHKT Trung Quốc, Chủ tịch Hội KHKT Thượng Hải (1992-1996), Giám đốc Viện Nghiên cứu hạt nhân nguyên tử Thượng Hải thuộc Viện KH Trung Quốc (1987-2001).
Năm 1984 được bình chọn là chuyên gia có cống hiến kiệt xuất cấp nhà nước.
Năm 1991 được bầu là Viện sĩ Viện KH Trung Quốc, Viện sĩ Viện KH thế giới thứ ba.
Từ 1998 được mời làm GS danh dự ĐH Vanderbilt (Mỹ). Ông cũng là Tiến sĩ KH danh dự ĐH Sōka (Nhật), Tiến sĩ Nhân văn danh dự ĐH bang New York, Tiến sĩ danh dự ĐH Hồng Công, ĐH Nottingham (Anh), và ĐH Connecticut (Mỹ). Dương Phúc Gia từng là Hiệu trưởng ĐH Phục Đán (1993-1998), từ 1996 là Ủy viên chấp hành Hội Hiệu trưởng các trường đại học trên thế giới.
Từ năm 2001 ông được mời làm Hiệu trưởng ĐH Nottingham (hai nhiệm kỳ liền), trở thành người Trung Quốc đầu tiên nhậm chức hiệu trưởng một trường ĐH nổi tiếng Anh Quốc
Chủ Nhật, 24 tháng 10, 2010
Không có bữa ăn nào miễn phí
Người Mỹ có câu, "trong một sòng bài "phé" (poker) bịp bợm luôn có một nạn nhân. Nếu bạn không biết ai là nạn nhân, thì người đó chính là bạn".
Chuyện ngày xưa kể rằng có một vị vua Hi Lạp được tiếng là thông minh đức độ cai quản một xứ sở thanh bình an khang. Ông có một thư viện thu thập cả chục ngàn cuốn sách suốt lịch sử văn minh loài người và có ước muốn là chia sẻ những kiến thức khôn ngoan này cho trăm họ.
Ông triệu 500 nhà thông thái nhất của quốc gia và yêu cầu họ cùng nhau ngồi xuống tóm lược mọi "tinh túy văn hóa" nhất của nhân loại vào một vài lời dễ hiểu (thay vì một thư viện sách) để mọi người dân cùng thấm thía đạo của trời và của người. Sau hơn một tháng, 500 nhà thông thái đưa lên một văn bản 5 trang là công trình tóm lược. Vị vua thấy vẫn còn quá phức tạp, dân thường không ai có thể thấm nhuần được tư tưởng kiểu này. Sau đó là một tóm lược còn 3 trang, rồi 1 trang rồi 1 phân đoạn. Nhưng vị vua vẫn không vừa ý. Cuối cùng ông cười hả hê khi vị đại diện trao cho ông cái túi khôn ngoan của nhân loại trong một câu văn độc nhất, "Không có bữa ăn nào miễn phí cả" (there is no free meal).
Đây là một thực tế hiển nhiên mà con người thời đồ đá cách đây 10 ngàn năm hiểu rất rõ. Ngày nào mà không săn được con mồi nào đem về hang động, là ngày đó gia đình phải đói. Rồi loài người tiến hóa thành cộng đồng văn minh hơn, tổ chức những xã hội có tầng lớp và phân chia công tác theo khả năng của từng người. Xã hội mới đẻ ra một tầng lớp lãnh đạo có đầu óc và tham vọng.
Từ đế chế Trung Quốc đến Ai cập và sau đó La Mã, Anh, Mỹ... giới quý tộc và chính trị gia giàu có luôn luôn bận rộn suy nghĩ tìm những thủ thuật và phù phép để có "những bữa ăn miễn phí" dâng lên từ tầng lớp nghèo hèn. Nếu nhìn vào cốt lõi, đây là một hình thái "ăn cắp", nhưng được che đậy bằng những mỹ từ cao đẹp và văn hoa, giống như một bộ quần áo thời trang đắt tiền của Louis Vuitton sẽ che đậy những mục nát của thân thể béo phì, làm mờ mắt người qua lại.
Xã hội ngày nay dù có tiến bộ cũng không dễ gạt bỏ nổi lòng tham "ăn free" vốn đã mọc rễ trong lòng người 10 ngàn năm qua. Chuyện kiếm tiền, càng nhanh càng nhiều càng tốt, là một đề tài thời thượng, hấp dẫn và lan tràn khắp mọi mạng truyền thông từ tin thời sự trên báo đến những câu chuyện ở quán cà phê, những bài giảng trong lớp học.
Trong dư luận, không thiếu những chuyện thích bắt chước lẫn nhau không đóng góp một công sức gì cho xã hội nhưng tìm đủ mọi cách để bòn rút ăn cắp. Hiện tượng phổ biến đến nỗi không ai còn cảm giác ngạc nhiên hay phẫn nộ khi bị lộ diện.
Năm 2008, các chính phủ Âu Mỹ (và sau đó toàn thế giới) phát động chương trình kích cầu chống suy thoái, nhưng thực sự đây chỉ là một hình thức ăn cắp tiền của dân để cứu các ngân hàng và các nhà đầu tư lớn, có thế lực chính trị. Khi khó lấy tiền thuế trực tiếp của dân, các chính phủ đã tìm những mánh khóe ly kỳ hơn... như đi vay bừa bãi để thế hệ sau phải gánh nợ chồng chất, hay in thêm tiền để gây lạm phát (anh có 10 đồng, tôi muốn lấy 2, tôi chỉ việc làm cho tiền mất giá 20% là anh đã bị mất tiền mà không hề hay biết).
Chính phủ Trung Quốc còn hay hơn nữa, họ giữ lãi suất ngân hàng dưới 2% trong suốt 30 năm để lấy tiền tiết kiệm của dân cho các tập đoàn nhà nước vay kinh doanh (thực sự các quan làm ăn theo lối OPM (tiền người khác- other people's money; nên mất rất nhiều trong các lỗ lãi, thất thoát và nợ xấu mà không ai phải chịu trách nhiệm). Trò phù phép khác là giữ tỷ giá Yuan (nhân dân tệ) thật thấp để được xuất khẩu cao (nhằm lấy thuế, ngoại tệ và tài sản nhờ giá lao động rẻ mạt của nhân công và không cho họ hưởng thành quả đáng lẽ phải đến từ giá trị cao của đồng tiền).
Các tầng lớp tư nhân giàu có thì lợi dụng những khe hở của pháp luật (ở Mỹ) hay lạm dụng mối quan hệ với các quan chức (ở Trung Quốc) để tìm những dự án "ăn free" như trưng dụng đất đai của nông dân nghèo, lấy hỗ trợ tài chính của chính phủ (tiền dân), chia chác các hợp đồng béo bở về xây dựng hạ tầng hay quân sự (không bị giám sát nhiều). Những vụ đầu cơ, làm giá hay lướt sóng trên các thị trường tiêu thụ hay tài chính chỉ là các hình thức thác của thủ thuật ăn cắp.
Trong khi đó, nhóm bị lợi dụng (những con kiến làm việc chăm chỉ, âm thầm đóng góp cho kinh tế) thì hoa mắt với những đánh bóng hư ảo của các "nhân vật" xã hội, chỉ ước ao bắt chước mọi hành vi lố lăng của họ. Hình ảnh được truyền bá khắp nơi, như một trò ru ngủ khiến mọi người quên đi cái túi tiền của mình.
Người Mỹ có câu, "trong một sòng bài "phé" (poker) bịp bợm luôn có một nạn nhân. Nếu bạn không biết ai là nạn nhân, thì người đó chính là bạn". Ngay cả những sinh viên với một đầu óc tương đối trong sạch, tiến bộ, cũng quan tâm đến chuyện "kiếm tiền" hơn là kiếm kiến thức (năm 2008, một thống kê 3.600 sinh viên năm thứ tư cho thấy 71% sinh viên Mỹ và 84% sinh viên Trung Quốc coi chuyện kiếm tiền sau khi tốt nghiệp là mục tiêu quan trọng nhất).
Người bình dân Việt Nam có câu nói "coi dzậy mà không phải dzậy". Chỉ tiếc là dù nhiều người cũng cảm thấy bị lừa dối, nhưng việc bận rộn mưu sinh và sự đam mê các màn xiếc và trò giác đấu (thời La Mã) hay các giải bóng đá và những cuộc thi hoa hậu, lễ hội (thời nay)... đã làm phần lớn dân chúng quên đi cái giá sẽ phải trả này.
Chuyện ngày xưa kết thúc bằng sự thất bại của vị vua khi truyền bá học thuyết "không có bữa ăn nào miễn phí". Người vi phạm luật đầu tiên là bà hoàng hậu rồi sau đó là các hoàng tử, công chúa, và quần thần. Ông vua thất vọng, bỏ đi tu trên núi xa. Có lẽ để nghiền ngẫm lời đức Phật về "tham, sân, si", ba vấn nạn lớn nhất cho sự giải thoát của tâm hồn.
Còn bây giờ, chúng ta đang sống trong một thời đại mà phần lớn các dân tộc của chủ nghĩa toàn cầu đều chia sẽ quan điểm là... cái gì cũng có thể free cả, cứ việc dùng mọi thủ đoạn để gom góp, và việc duy nhất cần để ý là tránh đừng để bị tố giác. Danh từ thời thượng gọi là "hạ cánh an toàn".
Tôi vừa coi xong cuốn phim mới nhất, Wall Street 2: Money never sleeps. Vai chính Gordon Gekko có một câu nói thú vị, "Ngày xưa, tham lam là một tật xấu cần thiết để tạo động lực cho kinh tế. Bây giờ, tham lam là một hành xử hợp pháp và hợp thời trang".
Chuyện ngày xưa kể rằng có một vị vua Hi Lạp được tiếng là thông minh đức độ cai quản một xứ sở thanh bình an khang. Ông có một thư viện thu thập cả chục ngàn cuốn sách suốt lịch sử văn minh loài người và có ước muốn là chia sẻ những kiến thức khôn ngoan này cho trăm họ.
Ông triệu 500 nhà thông thái nhất của quốc gia và yêu cầu họ cùng nhau ngồi xuống tóm lược mọi "tinh túy văn hóa" nhất của nhân loại vào một vài lời dễ hiểu (thay vì một thư viện sách) để mọi người dân cùng thấm thía đạo của trời và của người. Sau hơn một tháng, 500 nhà thông thái đưa lên một văn bản 5 trang là công trình tóm lược. Vị vua thấy vẫn còn quá phức tạp, dân thường không ai có thể thấm nhuần được tư tưởng kiểu này. Sau đó là một tóm lược còn 3 trang, rồi 1 trang rồi 1 phân đoạn. Nhưng vị vua vẫn không vừa ý. Cuối cùng ông cười hả hê khi vị đại diện trao cho ông cái túi khôn ngoan của nhân loại trong một câu văn độc nhất, "Không có bữa ăn nào miễn phí cả" (there is no free meal).
Đây là một thực tế hiển nhiên mà con người thời đồ đá cách đây 10 ngàn năm hiểu rất rõ. Ngày nào mà không săn được con mồi nào đem về hang động, là ngày đó gia đình phải đói. Rồi loài người tiến hóa thành cộng đồng văn minh hơn, tổ chức những xã hội có tầng lớp và phân chia công tác theo khả năng của từng người. Xã hội mới đẻ ra một tầng lớp lãnh đạo có đầu óc và tham vọng.
Từ đế chế Trung Quốc đến Ai cập và sau đó La Mã, Anh, Mỹ... giới quý tộc và chính trị gia giàu có luôn luôn bận rộn suy nghĩ tìm những thủ thuật và phù phép để có "những bữa ăn miễn phí" dâng lên từ tầng lớp nghèo hèn. Nếu nhìn vào cốt lõi, đây là một hình thái "ăn cắp", nhưng được che đậy bằng những mỹ từ cao đẹp và văn hoa, giống như một bộ quần áo thời trang đắt tiền của Louis Vuitton sẽ che đậy những mục nát của thân thể béo phì, làm mờ mắt người qua lại.
Xã hội ngày nay dù có tiến bộ cũng không dễ gạt bỏ nổi lòng tham "ăn free" vốn đã mọc rễ trong lòng người 10 ngàn năm qua. Chuyện kiếm tiền, càng nhanh càng nhiều càng tốt, là một đề tài thời thượng, hấp dẫn và lan tràn khắp mọi mạng truyền thông từ tin thời sự trên báo đến những câu chuyện ở quán cà phê, những bài giảng trong lớp học.
Trong dư luận, không thiếu những chuyện thích bắt chước lẫn nhau không đóng góp một công sức gì cho xã hội nhưng tìm đủ mọi cách để bòn rút ăn cắp. Hiện tượng phổ biến đến nỗi không ai còn cảm giác ngạc nhiên hay phẫn nộ khi bị lộ diện.
Năm 2008, các chính phủ Âu Mỹ (và sau đó toàn thế giới) phát động chương trình kích cầu chống suy thoái, nhưng thực sự đây chỉ là một hình thức ăn cắp tiền của dân để cứu các ngân hàng và các nhà đầu tư lớn, có thế lực chính trị. Khi khó lấy tiền thuế trực tiếp của dân, các chính phủ đã tìm những mánh khóe ly kỳ hơn... như đi vay bừa bãi để thế hệ sau phải gánh nợ chồng chất, hay in thêm tiền để gây lạm phát (anh có 10 đồng, tôi muốn lấy 2, tôi chỉ việc làm cho tiền mất giá 20% là anh đã bị mất tiền mà không hề hay biết).
Chính phủ Trung Quốc còn hay hơn nữa, họ giữ lãi suất ngân hàng dưới 2% trong suốt 30 năm để lấy tiền tiết kiệm của dân cho các tập đoàn nhà nước vay kinh doanh (thực sự các quan làm ăn theo lối OPM (tiền người khác- other people's money; nên mất rất nhiều trong các lỗ lãi, thất thoát và nợ xấu mà không ai phải chịu trách nhiệm). Trò phù phép khác là giữ tỷ giá Yuan (nhân dân tệ) thật thấp để được xuất khẩu cao (nhằm lấy thuế, ngoại tệ và tài sản nhờ giá lao động rẻ mạt của nhân công và không cho họ hưởng thành quả đáng lẽ phải đến từ giá trị cao của đồng tiền).
Các tầng lớp tư nhân giàu có thì lợi dụng những khe hở của pháp luật (ở Mỹ) hay lạm dụng mối quan hệ với các quan chức (ở Trung Quốc) để tìm những dự án "ăn free" như trưng dụng đất đai của nông dân nghèo, lấy hỗ trợ tài chính của chính phủ (tiền dân), chia chác các hợp đồng béo bở về xây dựng hạ tầng hay quân sự (không bị giám sát nhiều). Những vụ đầu cơ, làm giá hay lướt sóng trên các thị trường tiêu thụ hay tài chính chỉ là các hình thức thác của thủ thuật ăn cắp.
Trong khi đó, nhóm bị lợi dụng (những con kiến làm việc chăm chỉ, âm thầm đóng góp cho kinh tế) thì hoa mắt với những đánh bóng hư ảo của các "nhân vật" xã hội, chỉ ước ao bắt chước mọi hành vi lố lăng của họ. Hình ảnh được truyền bá khắp nơi, như một trò ru ngủ khiến mọi người quên đi cái túi tiền của mình.
Người Mỹ có câu, "trong một sòng bài "phé" (poker) bịp bợm luôn có một nạn nhân. Nếu bạn không biết ai là nạn nhân, thì người đó chính là bạn". Ngay cả những sinh viên với một đầu óc tương đối trong sạch, tiến bộ, cũng quan tâm đến chuyện "kiếm tiền" hơn là kiếm kiến thức (năm 2008, một thống kê 3.600 sinh viên năm thứ tư cho thấy 71% sinh viên Mỹ và 84% sinh viên Trung Quốc coi chuyện kiếm tiền sau khi tốt nghiệp là mục tiêu quan trọng nhất).
Người bình dân Việt Nam có câu nói "coi dzậy mà không phải dzậy". Chỉ tiếc là dù nhiều người cũng cảm thấy bị lừa dối, nhưng việc bận rộn mưu sinh và sự đam mê các màn xiếc và trò giác đấu (thời La Mã) hay các giải bóng đá và những cuộc thi hoa hậu, lễ hội (thời nay)... đã làm phần lớn dân chúng quên đi cái giá sẽ phải trả này.
Chuyện ngày xưa kết thúc bằng sự thất bại của vị vua khi truyền bá học thuyết "không có bữa ăn nào miễn phí". Người vi phạm luật đầu tiên là bà hoàng hậu rồi sau đó là các hoàng tử, công chúa, và quần thần. Ông vua thất vọng, bỏ đi tu trên núi xa. Có lẽ để nghiền ngẫm lời đức Phật về "tham, sân, si", ba vấn nạn lớn nhất cho sự giải thoát của tâm hồn.
Còn bây giờ, chúng ta đang sống trong một thời đại mà phần lớn các dân tộc của chủ nghĩa toàn cầu đều chia sẽ quan điểm là... cái gì cũng có thể free cả, cứ việc dùng mọi thủ đoạn để gom góp, và việc duy nhất cần để ý là tránh đừng để bị tố giác. Danh từ thời thượng gọi là "hạ cánh an toàn".
Tôi vừa coi xong cuốn phim mới nhất, Wall Street 2: Money never sleeps. Vai chính Gordon Gekko có một câu nói thú vị, "Ngày xưa, tham lam là một tật xấu cần thiết để tạo động lực cho kinh tế. Bây giờ, tham lam là một hành xử hợp pháp và hợp thời trang".
Thứ Năm, 14 tháng 10, 2010
Chân dung các nhà đầu tư thành công
Tuy tiếng tăm không lẫy lừng như Warren Buffett hay George Soros, những người luôn là đề tài bàn luận sôi nổi hàng ngày trên các phương tiện truyền thông, nhưng với những “tuyệt chiêu” đầu tư của mình, họ vẫn được đánh giá là những chuyên gia đầu tư hàng đầu của thế kỷ 20.
Chuyên gia về giá trị
1. Foster Friess
Foster Friess ra đời tại một thị trấn nhỏ phía Bắc bang Wisconsin, thích mặc quần bò, đội mũ bò, trông ông “bảnh” như một chàng cao bồi miền Tây trong quảng cáo thuốc lá Marlboro.
Foster từng là phóng viên của một tờ báo nơi ông ra đời, và trong thời gian làm việc tại tòa soạn, ông đã được huấn luyện khả năng thu thập thông tin siêu tốc. Tờ báo có tên gọi “Báo rao vặt Paylake”, Foster chủ yếu phụ trách mảng tin “hiếu hỉ” địa phương.
Ông từng có thời gian làm công việc hành chính tại cục tình báo quân sự, phụ trách điều tra mức độ trung thành của các nhân viên mật. Nhờ vậy, ông đã hình thành cho mình đôi mắt sắc sảo và nhạy bén, vốn là điều kiện tiên quyết của một nhà đầu tư tài năng.
Hiện nay, ông cùng vợ dành trọn tâm huyết cho quỹ hỗ tương Brandywine do hai người đồng sáng lập năm 1992. Lợi nhuận thu được từ công việc kinh doanh này, ông dành phần lớn cho công tác từ thiện.
2. Philip Carret
Philip Carret sinh ra tại thành phố Lynn, bang Massachusetts, cách Boston 10 dặm về phía Bắc.
Hoàn thành khóa học chuyên ngành 4 năm tại đại học Harvard danh tiếng (tốt nghiệp năm 1917), và một năm chuyên tu tại học viện thương mại, khi ấy đang là thời gian của Thế chiến thứ I, Carret gia nhập quân đoàn thông tin lục quân Mỹ, ban không vận hàng không.
Sau khi ra quân vào năm 1919, ông làm việc cho một công ty ở Boston, nhưng vì cảm thấy quy mô công ty quá nhỏ, không có không gian phát triển, ông xin thôi việc.
Carret quyết định “chu du” nước Mỹ. Tháng 11 năm 1920, ông tìm được một công việc kinh doanh trái phiếu ở Seattle, cũng tại đó ông gặp người bạn đời của mình.
Họ đã cùng nhau trở về Boston. Carret gia nhập tạp chí “Tuần san Barron”. Ông làm việc tại tạp chí này đến năm 1927 thì rời đến New York kiến tạo sự nghiệp của riêng mình. Sau đó, ông đã làm việc tại Brush Industries Inc..
Ông đã quan sát tất cả 11 lần nhật thực trong mấy năm gần đây. Để có thể chiêm ngưỡng cảnh tượng ấy, dù phải đi bao xa ông cũng không nề hà, thậm chí ông đã có lần ngắm nhật thực trên sông Amazon. Ngoài thú tiêu khiển ít tiêu tốn thời gian đó, ông thừa nhận mình không hề hứng thú với các hoạt động dã ngoại.
3. Ralp Wanger
Wanger có chiều cao khiêm tốn, khuôn mặt tròn, thích bông đùa, lúc nào trên khuôn mặt ông cũng có biểu cảm của sự hài hước, tuy nhiên vào những thời điểm quan trọng, khuôn mặt đó hết sức lạnh lùng, nghiêm nghị.
Wanger sinh ra tại Chicago, tốt nghiệp cử nhân, lấy bằng thạc sỹ chuyên ngành quản trị doanh nghiệp tại Học viện công nghệ Massachusetts. Theo Wanger, quản lý không phải là một khoa học, trái lại, nó được xây dựng trên nền tảng những tri thức về tâm lý học và một phẩm cách tốt đẹp.
4. George Michaelis
Khi còn là một cậu bé, mọi người đều nhận định Michaelis sẽ trở thành họa sỹ. Nhưng trong thời gian đi học, ông nhận thấy mình có tư chất toán học. Khi ý thức được rằng, vẽ tranh kiếm sống không hề dễ dàng, ông đã từ bỏ ý định làm họa sỹ. Từ năm 1954 đến năm 1957, ông theo học chuyên ngành kỹ thuật tại phân viện của Đại học California ở Los Angeles. Năm 1958, sau khi kết thúc 1 học kỳ tại phân viện Berkeley của đại học California, ông chuyển đến học tại học viện thương mại Harvard, và tốt nghiệp năm 1960. Ông luôn cảm thấy mình chưa học đủ, bởi vì ông đặc biệt coi trọng toán học và kỹ thuật.
Năm 1971, Michaelis gia nhập quỹ Source Capital, một kiểu quỹ đóng có cổ phiếu niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán New York. Năm 1977, ông trở thành giám đốc điều hành Quỹ và công ty mẹ First Pacific Advisors.
Ông đã quản lý rất thành công. Theo bảng thống kê mùa hè năm 1988, trong vòng 15 năm, doanh thu của Quỹ tăng gấp 3 lần chỉ số Standard & Poor’s 500 Index, đạt 1200%, trong khi S&P 500 Index chỉ tăng 400%. Trong suốt thời gian Michaelis giữ chức chủ tịch hội đồng quản trị (từ 1977 đến 1987), Source Capital luôn đứng đầu bảng xếp hạng các Quỹ đóng kinh doanh thành công nhất.
Chuyên gia sách lược
5. Michael Steinhardt
Steinhardt sinh ra tại khu Brooklyn thuộc New York, cha ông là một nhà buôn đá quý. Năm Steinhardt 1 tuổi, cha mẹ ông ly dị. Theo luật lệ của người Do Thái, người cha không cho ông tiền mặt, mà trao cho ông 100 cổ phiếu của Tập đoàn Penn-Dixie Cement Corporation và 100 cổ phiếu của Công ty hệ thống khí đốt The Columbia Gas Systems, Inc.
Với trí tuệ vượt trội, Steinhardt đã tốt nghiệp cấp 3 khi mới 16 tuổi. Ông thi đỗ phân viện tài chính Wharton thuộc đại học Pennsylvania và lấy bằng cử nhân năm 19 tuổi.
Sau đó ông tham gia đội dự bị lục quân Mỹ. Giải ngũ, ông làm phóng viên cho tạp chí “Thế giới tài chính”, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, ông thôi việc.
Ngày 10 tháng 7 năm 1967, cùng với Fine và Berkowitz, Steinhardt thành lập một công ty với số vốn khởi điểm là 7,7 triệu USD. Trong năm đầu tiên kinh doanh, công ty đã hoàn vốn 33%, năm thứ hai đạt 84%.
6. Barr Rosenberg
Barr Rosenberg đã trải qua rất nhiều nghề trong cuộc đời của mình. Ông từng tham gia đóng du thuyền, làm giáo viên, đề xướng phá bỏ những quy định lỗi thời. Ông là nhà kinh tế học, toán học, triết học, y học, là chuyên gia phân tích chứng khoán, là chuyên gia tài chính lỗi lạc, ông cũng gặt hái được rất nhiều thành công trong lĩnh vực kinh doanh và thị trường. Ông còn là một tín đồ Phật giáo tài ba.
Từ nhỏ Barr đã thể hiện trí tuệ thiên bẩm, và đặc biệt chú trọng đến các tiểu tiết. Tính cách đó giúp Barr phát triển tài năng trên rất nhiều lĩnh vực. Cha ông – Marvin Rosenberg là một nhà nghiên cứu Shakespeare nổi tiếng.
Những năm 70 thế kỷ 19, ông đã ứng dụng lý thuyết rủi ro từ tháp Ivory vào thực tiễn đầu tư. Ông thành lập công ty đầu tư đầu tiên của riêng mình với tên gọi Barr Rosenberg & Associates, viết tắt BARRA. Thực ra, tài chính không phải là lựa chọn nghề nghiệp lúc đầu của Barr.
Barr lấy bằng thạc sỹ tại học viện kinh tế London, định hướng chuyên ngành của ông là xây dựng mô hình số hóa cho nghiên cứu xã hội học. Thời gian đó, ông đã tìm đọc rất nhiều tác phẩm học thuật nổi tiếng về mô hình hành vi chính trị và mô hình tác động qua lại của xã hội. Ông theo học tiến sỹ tại đại học Harvard, chủ yếu nghiên cứu về mô hình rủi ro và hành vi quyết sách của con người khi phải đối mặt với rủi ro.
7. Gary Brinson
Brinson thi đỗ đại học năm 1966, sau khi lấy được bằng thạc sỹ, ông mở trường tại Washington và giảng dạy chuyên ngành tài chính kinh tế.
Năm 1970, ông nhận lời mời đến làm việc tại công ty The Travelers Insurance Co. Sau khi cân nhắc, ông quyết định tạm gác lại kế hoạch thi tiếp vào đại học Stanford, để gia nhập công ty bảo hiểm với nghiệp vụ đa dạng và quy mô đầu tư ngày một mở rộng này, bắt đầu con đường tìm tòi và tích lũy kinh nghiệm thực tiễn.
Brison luôn ấp ủ hoài bão thành lập một công ty đầu tư quy mô toàn cầu của riêng mình, và cuối cùng thì năm 1981, ông đã rời công ty bảo hiểm để thực hiện hoài bão đó.
Năm 1995, ông được tạp chí “Fortune” tôn vinh là “cha đẻ của chiến lược phân bổ tài sản toàn cầu”.
8. Peter Lewyn Bernstein
Mùa thu năm 1936, Bernstein thi đỗ vào đại học Harvard. Sau khi tốt nghiệp, ông lần lượt làm việc tại Ngân hàng dự trữ liên bang New York, OSS, Học viện Williams, Ngân hàng liên hợp New York (đầu tiên ông quản lý nhóm đầu tư trái phiếu, sau chuyển sang phụ trách quản lý ngoại hối).
Ông còn có một thời gian làm việc tại công ty quản lý tài chính kiểu cũ của cha mình, rồi mới thành lập công ty quản lý đầu tư của riêng ông.
Năm 1965, cuốn sách “A Primer on Money, Banking and Gold” của ông được xuất bản bởi Random House đã nhận được sự chào đón nồng nhiệt với lượng tiêu thụ hàng trăm ngàn cuốn trong ngày đầu ra mắt. Cho đến nay, nó đã trở thành giáo trình cơ bản được sử dụng trong rất nhiều trường đại học kinh tế.
Năm 1973, ông cùng vợ đứng tên thành lập công ty tư vấn đầu tư mới, chuyên cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư cao cấp cho các quỹ tiền tệ quy mô lớn, các nhà quản lý đầu tư và các quỹ tín thác cá nhân.
Năm 1974, ông sáng lập “Tuần san quản lý tổ hợp đầu tư ”. Năm 1997, ông là người thứ 4 đoạt giải thưởng “Biểu hiện chuyên nghiệp trác việt”. Đây là giải thưởng danh giá nhất dành cho các chuyên gia phân tích chứng khoán và nhà quản lý tổ hợp đầu tư do Hiệp hội quản lý và nghiên cứu đầu tư của Mỹ trao tặng.
Chuyên gia phân tích
9. Laszlo Birinyi
Năm 1976, Laszlo Birinyi gia nhập Salomon Brothers, bắt đầu sự nghiệp với công việc của một giao dịch viên chứng khoán. Trong thời gian làm việc tại đây, Birinyi đã xây dựng chỉ số quốc tế Salomon Russell International Index, và xuất bản sách “The Equity Desk” (Hỏi đáp về cổ phiếu). Cuốn sách này từng là giáo trình đào tạo nhân viên tại Salomon Brothers nhiều năm. Birinyi còn chấp bút cho tuần san cổ phiếu “Stock Week” của công ty với những bài viết đánh giá về thị trường cổ phiếu hàng tuần. Ngoài ra, ông còn phụ trách nghiên cứu các chuyên đề về sự biến động của thị trường, về vốn lưu động, giá gốc giao dịch,…
Năm 1974, công ty Mitchell Hutchins Inc của Birinyi cho ra đời khái niệm lịch giao dịch “Trading calendar”. Năm 1989, Birinyi từ bỏ chức vụ quản lý bộ phận tại Salomon Brothers, thành lập công ty Birinyi Associates Inc chuyên quản lý và nghiên cứu về vốn.
10. Ian McAvity
Ian McAvity là một trong số những người tham gia sáng lập Quỹ trung ương và Quỹ tín thác đầu tư vàng Canada. Ông còn là người phát hành và biên tập những bức thư tin tức “Deliberations on World Markets”. Ông rất giỏi phân tích. Ông cho rằng: “Thị trường luôn luôn đúng. Thị trường khiến chúng ta mắc sai lầm, tìm ra giới hạn đau khổ của chúng ta. Mỗi lần chúng ta thay đổi ý định, đều không thoát khỏi cặp mắt của thị trường. Chúng ta cần rất nhiều năm tôi luyện mới vơi bớt sự bướng bỉnh và cố chấp”.
Kỳ 1. Foster Friess, "Con ong" làm mật nhưng lại... biết bay
Ông là nhà quản lý đầu tư của quỹ giải thưởng Nobel, là một chuyên gia về đầu tư cổ phiếu. Foster Friess được đánh giá cao bởi ông có được “biệt nhãn”, ông chọn ra được những cổ phiếu tiềm năng, và luôn đi trước một bước so với các nhà đầu tư khác, chờ khi mọi người ồ ạt mua vào, ông mới tung cổ phiếu ra với giá cao.
Foster Friess đã thua sạch khi chơi cổ phiếu, nhưng ông lại gây dựng nên sự nghiệp của mình từ lĩnh vực đó. Khi ấy ông mới 19 tuổi và đang là sinh viên năm thứ 2.
Năm 1974, Friess mở một công ty đầu tư, Quỹ giải thưởng Nobel trở thành khách hàng đầu tiên của Friess Associates. Quỹ Brandywine do công ty của Friess quản lý đã gặt hái được những thành công khiến người ta không thể tin nổi.
Từ khi thành lập vào năm 1985 đến ngày 30 tháng 11 năm 1997, lãi suất doanh thu của Brandywine Fund đạt 710,2% (lãi suất bình quân hàng năm là 19,2%) vượt xa S&P 500 Index chỉ với 544,3% (lãi suất bình quân hàng năm 16,9%). Nếu tính bằng USD, thì khoảng cách lợi nhuận của hai công ty này vượt qua mức vốn gốc 1,5 lần.
Nguyên tắc đầu tư
Nguyên tắc đầu tư của Friess có 3 nội dung chính: 1. Không đầu tư vào bản thân cổ phiếu mà đầu tư vào công ty. 2. Khi đã nắm trong tay một cổ phiếu, không bận tâm về những biểu hiện của nó trong quá khứ, mà chỉ quan tâm đến tiềm năng phát triển của nó trong tương lai. 3. Nếu xuất hiện cổ phiếu mà tốc độ tăng giá lớn hơn nhiều lần so với cổ phiếu bạn đang nắm giữ, đừng chần chừ, hãy bán hết cổ phiếu số cổ phiếu đó đi và mua vào cổ phiếu giàu tiềm năng kia.
Tháng 2 năm 1997, trong cuốn “Money”, ông đã tổng kết sách lược đầu tư của bản thân như sau: “Chúng tôi luôn tìm kiếm những công ty mà không lâu sau đó trở thành điểm hẹn của tất cả các nhà đầu tư. ” Vậy họ tìm kiếm những công ty tiềm năng đó như thế nào? Công ty Friess gồm một đội ngũ những nhân viên chuyên nghiệp sành sỏi, họ dồn sự tập trung vào những cổ phiếu mà giá cả và lợi nhuận không ngừng đột phá, sau đó đi sâu nghiên cứu tìm hiểu, đánh giá cổ phiếu đó.
Tìm kiếm đột phá
“Đội ngũ điều tra của chúng tôi theo dõi sát sao các công ty đã lên sàn có giá cổ phiếu và doanh thu đột phá. Chúng tôi đọc chuyên mục thị trường cổ phiếu và xem xét kỹ lưỡng báo cáo tài chính hàng ngày trên Nhật báo phố Wall. Và đặt ra các câu hỏi: Cổ phiếu của công ty nào tăng giá mạnh? Vì sao? Doanh thu của công ty nào vượt kỷ lục? Vì sao?”
“Nếu công ty nào có báo cáo kinh doanh tốt, lượng tiêu thụ tăng 25%, mức lãi suất tăng 30%, chúng tôi sẽ gọi điện đến công ty tìm hiểu nguyên nhân: động lực thúc đẩy tăng lãi suất là gì? Có phải do xây dựng nhà máy mới không? Có phải do tung ra sản phẩm không? Có phải do áp dụng phương thức quản lý mới không? Nội bộ công ty có sự thay đổi? Hay do những nhân tố khách quan bên ngoài tác động đến như: tỷ giá hối đoái biến động, lãi suất biến động, giá cả biến động? Tìm hiểu càng sâu tình hình nội bộ của công ty, cơ hội kiếm tiền của chúng tôi càng lớn. Bởi vì, các nhà đầu tư khác cũng đã bỏ công nghiên cứu và phân tích chán chê những nhân tố ảnh hưởng vĩ mô rồi.”
“Đôi lúc, chúng tôi phải mất rất nhiều chất xám để có được thông tin, thậm chí bị người ta nghi ngờ rằng có ý đồ xấu. Một lần, chúng tôi bán ra một loại cổ phiếu, và lần đó thật xuất sắc, bởi vì, ngay sau khi chúng tôi bán hết số cổ phiếu của mình thì giá cổ phiếu ngay lập tức trượt dốc.”
Do đó, thông tin là vô cùng quan trọng. Mà thông tin có được từ việc chúng ta dành ra thời gian đến các cửa hàng tìm hiểu tình hình tiêu thụ sản phẩm. Phương pháp điều tra đầu tư này, theo Friess, gọi là “điều tra đầu tư ngược.”
Không cầu toàn
Muốn đầu tư lâu dài, bạn phải có sự chuẩn bị hết sức xuất sắc, nhưng không phải vẹn toàn 100% . Friess cho rằng, hai điều này rất khác nhau.
Ông nói: “Người theo chủ nghĩa hoàn mỹ rất ghét xảy ra sự cố, rất ghét mắc sai lầm, họ sẽ loại bỏ triệt để mọi sai lầm. Nhưng người làm việc xuất sắc lại là người có thể chấp nhận sai lầm, rút ra bài học, từ đó thay đổi tình thế. Mỗi khi mắc sai lầm, chúng ta hãy xem đó là một cơ hội để thay đổi, để rồi sau đó chúng ta sẽ làm tốt hơn.”
“Mục tiêu của chúng tôi là: nỗ lực tối đa để có được sự phán đoán chính xác, chứ không phải nỗ lực để không bao giờ sai lầm. Đối với lĩnh vực cổ phiếu, chỉ cần bạn phán đoán chính xác cho 60% hạng mục đầu tư, và chỉ có 40% cổ phiếu bạn lựa chọn bị mất giá là bạn đã có thể kiếm được một khoản lớn rồi. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, 5 loại cổ phiếu kiếm lời nhiều nhất đã có thể hoàn toàn bù đắp cho những tổn thất của tất cả các cổ phiếu khác cộng lại. ” Dù vậy, những thất bại trong quá khứ vẫn luôn là hồi ức u buồn chẳng thể nào tẩy xóa được.
Quý I năm 1997, Quỹ Brandywine có 6 lần đầu tư thất bại nặng nề, gây thiệt hại 136 triệu USD.
Quan sát những biến động tiềm ẩn
Ngoài việc tiến hành những điều tra nghiêm túc và hết sức tỉ mỉ, đầu tư thành công lâu dài còn đòi hỏi nhà đầu tư phải có đôi mắt sắc bén bản năng giúp phán đoán chính xác những diễn biến tiếp theo của thị trường, và mức độ tác động của những diễn biến đó đến công ty.
“Mỗi khi doanh nghiệp có biến động và biến động đó ảnh hưởng đến nhận định của nhà đầu tư về doanh nghiệp thì đó chính là lúc cơ hội mà thị trường mang lại. Sẽ có những biến động gì? Công ty nào sẽ bứt phá và cùng với đà vươn của mình góp phần thúc đẩy thị trường? Chúng tôi thích được xem là nhà trinh thám nhạy bén trước mọi diễn biến dù là nhỏ nhất của thị trường, hơn là cách mà mọi người vẫn thường gọi chúng tôi: những chuyên gia phân tích chứng khoán”.
Đầu tư là một bài kiểm tra trí tuệ. “Bạn phải nỗ lực tối đa trong việc tập hợp mọi thông tin về thị trường và số liệu tài chính, rồi phân tích và phán đoán xem một nhóm người nào đó có thể lãnh đạo, tổ chức hay lập nên một doanh nghiệp mới hay không, có thể cho ra đời một sản phẩm mới hay không?”
Phương pháp tư duy này đôi lúc còn giúp chúng ta phát triển khả năng khai thác những cái mới. Nhiều năm trước, Louis Pasteur từng nói rằng, cơ hội chỉ đến với những bộ óc đã có sự chuẩn bị sẵn sàng. Hoạt động của ngành đầu tư hiện nay đã chứng minh điều đó.
Chính nhờ sự nhạy bén trước những biến động của thị trường, Friess Associates mới lựa chọn một công ty không hề có tiếng tăm khi đó, nhưng sau này đã trở thành hãng bán buôn điện thoại lớn nhất thế giới. Các nhãn hiệu điện thoại mà công ty này tiêu thụ đều là sản phẩm của các hãng lớn như Nokia, Ericsson, Motorola và NEC.
Tháng 1 năm 1997, Friess Associates quyết định mua cổ phiếu của công ty này, khi đó, mỗi cổ phiếu có giá bình quân 14 USD, đến tháng 9 cùng năm, đã lên 50 USD, tăng 227%.
Bán cổ phiếu “nóng”
Về phương diện nắm bắt thời cơ “xuất chiêu”, quan điểm của Friess là: “hãy bán ra khi sức hấp dẫn của cổ phiếu bạn đang năm giữ đủ lớn. Chúng tôi bán ra những cổ phiếu tốt. Theo “lý thuyết đào thải” của chúng tôi, nếu những cổ phiếu chúng tôi bán ra đều là cổ phiếu xấu, điều đó có nghĩa là chúng tôi đã không tìm được cổ phiếu nào tốt hơn. ”
Tài năng thiên bẩm trong lĩnh vực mua bán cổ phiếu của Friess khiến đối thủ của ông cũng phải nể phục. Chỉ trong thời gian vài tháng, ông đã có thể kiếm được khoản lợi nhuận khổng lồ từ chứng khoán. Rất nhiều nhà đầu tư chứng khoán, gồm cả những nhà đầu tư chuyên nghiệp đều cảm thấy kém cỏi so với Foster Friess.
Các nhà quan sát ví Friess như một “chú ong làm mật”, những tưởng nó sẽ không bay, nhưng đột nhiên nó bay lên rất cao. Friess phát biểu về lối ví von đó như sau: “May thay có rất nhiều công ty không ngừng tung ra thị trường những sản phẩm mới, thứ mật ngọt mà tôi tạo ra đều chắt lấy từ đó.”
Kỳ 2. Philip Carret, ông già trăm tuổi thích những cổ phiếu “ế khách”
Philip Carret không hổ danh là nhà đầu tư giàu kinh nghiệm nhất. Ông bước chân vào lĩnh vực đầu tư từ những năm 20 thế kỷ 20, và đã “chinh chiến” trên thị trường tài chính suốt 67 năm.
Nguyên tắc đầu tư của Philip Carret được tổng kết trong 12 nội dung: 1. Nắm trong tay 10 cổ phiếu trở lên, và những cổ phiếu này rải đều trên 5 lĩnh vực khác nhau. 2. Tiến hành tổng kết đánh giá đối với mỗi loại chứng khoán theo chu kỳ 6 tháng 1 lần. 3. Bảo đảm chắc chắn rằng, chiếm hơn một nửa tổng tài sản là những cổ phiếu thu lời. 4. Khi phân tích cổ phiếu, lợi nhuận là nhân tố đánh giá sau cùng. 5. Xử lý triệt để hạng mục đầu tư thua lỗ, nhưng không vội vàng thanh lý hạng mục đầu tư sinh lời. 6. Không đầu tư quá 25% vốn vào cổ phiếu bạn chưa tìm hiểu kỹ. 7. Tránh xa cái gọi là “thông tin nội bộ”. 8. Tìm kiếm sự thực, chứ không phải trưng cầu ý kiến của người khác. 9. Không nên đánh giá cổ phiếu chỉ dựa trên những công thức cứng nhắc. 10. Vào thời điểm thị trường cổ phiếu hưng vượng, lãi suất không ngừng tăng cao, kinh tế phồn thịnh, hãy đầu tư ít nhất một nửa số vốn vào trái phiếu ngắn hạn. 11. Hạn chế tối đa vay tiền, chỉ vay khi thị trường u ám, lãi suất thấp, kinh tế không sáng sủa. 12. Sử dụng tỷ lệ vốn chia thích hợp đầu tư vào cổ phiếu dài hạn của các công ty có tiềm năng phát triển cao.
Philip Carret không hổ danh là nhà đầu tư giàu kinh nghiệm nhất. Ông bước chân vào lĩnh vực đầu tư từ những năm 20 thế kỷ 20, và đã “chinh chiến” trên thị trường tài chính suốt 67 năm.
Dù đã gần trăm tuổi, hàng ngày ông vẫn đều đặn đến văn phòng từ rất sớm. Ông cùng với hai người con trai, một cô cháu gái và một vài nhân viên quản lý quỹ đầu tư tư nhân trị giá hơn 225 triệu USD (Từ năm 1988 ông tuyển thêm một CEO).
Ở ông toát lên vẻ thông tuệ, sắc sảo và tinh thần luôn dồi dào. Một khuôn mặt đôn hậu, hiền từ, thường trực nụ cười thân thiện và cuốn hút.
Văn phòng của ông nằm trong khuôn viên tòa nhà được xây dựng theo phong cách cổ điển trên phố New York. Trên bức tường phía sau bàn làm việc của ông có treo tấm biển đề “Bàn làm việc của thiên tài luôn bừa bộn”.
Lãi kép 55 năm
Tháng 5 năm 1928, Carret thành lập Pioneer Fund. Khi ấy có khoảng 25 cổ đông, đều là người thân và bạn bè của ông. Carret lãnh đạo Quỹ này gần nửa thế kỷ, tận khi ông về hưu. Trong thời gian 55 năm, lãi kép mà Pioneer Fund thu được là 13%.
Điều này có nghĩa là, nếu có người đầu tư 10.000 USD vào Pioneer Fund từ khi Quỹ mới thành lập, và hàng năm tiếp tục tái đầu tư vào Quỹ khoản lãi suất thu được, thì đến khi Carret về hưu, người đó sẽ có được hơn 8 triệu USD (tất nhiên, vào những năm đầu thập niên 30 thế kỷ 20, khoản đầu tư này phải chịu mức tổn thất 50%). Ngày nay, lãi kép 13% không còn là con số đáng ngưỡng mộ, nhưng khi tỷ lệ lạm phát tương đối thấp, khoản lợi nhuận này cũng đã là rất khả quan. Duy trì được mức lãi suất kép dù không cao trong một thời gian dài cũng có thể coi là một kỳ tích.
Hiện công ty quản lý Pioneer Fund đã lên sàn, nhưng Carret chỉ sở hữu một phần nhỏ cổ phần của công ty. Ban đầu, Pioneer Fund chỉ do một mình Carret điều hành, sau đó, ông mua lại cả công ty mẹ và bán đi phần lớn cổ phần của công ty này.
Trong hội đồng cổ đông của Pioneer Fund từng có 3 ông lão tuổi 80 là: Philip Carret, Jerome Preston và Phil Cooley. Đã có lúc các cổ đông e ngại về tuổi tác của 3 người, nhưng Carret xóa bỏ những nghi ngại đó bằng sự tự tin mạnh mẽ: ông cho rằng, tuổi tác đem đến sự thông tuệ.
Sở thích đầu tư
“Tôi thích những cổ phiếu được giao dịch tại thị trường tự do. Song, tôi bảo thủ hơn rất nhiều người. Nhiều người lầm tưởng “bảo thủ” có nghĩa là tôi sẽ lựa chọn cổ phiếu của các hãng điện tử thông dụng hay IBM. Nhưng tôi lại chọn những cổ phiếu không hề “sốt” chút nào. Cổ phiếu tự do không dễ bị thao túng như cổ phiếu được giao dịch trên sàn chứng khoán ở New York, cũng không chịu ảnh hưởng bởi tâm lý đám đông.”
Về điểm này, Carret rất giống với ông trùm Waren Buffett. Hai người đều có tính cách khác thường. Họ tìm đến với những thứ chẳng ai muốn. Họ đều thích những cổ phiếu “ế khách” như cổ phiếu của các công ty cấp nước, công ty cầu đường, và cũng không bận tâm khi những cổ phiếu này bị thị trường thờ ơ trong thời gian dài. Điểm đặc biệt là, họ đều có sự kiên nhẫn cần thiết của một nhà đầu tư thành công. Nhiều năm qua, họ vẫn giữ liên hệ với nhau.
Carret đam mê những cổ phiếu không ngừng tăng trưởng, nhưng ông nói thêm rằng: “Nếu một công ty nào đó có lợi nhuận tăng liên tục trong 15 năm, thì rất có thể tình hình sẽ xấu đi vào năm tiếp theo”.
“Tôi hay đọc những bảng ghi nợ, thu thập rất nhiều báo cáo tài chính hàng năm của các công ty. Tôi không bỏ sót bất cứ thông tin nào trên các báo cáo. Nhưng nếu những số liệu trên báo cáo như tỉ suất tài sản nợ, tỉ suất tài sản lưu động quá thấp, tôi sẽ không đọc tiếp nữa, vì tôi không muốn nhìn thấy chữ “nợ”, và tôi đòi hỏi tỉ suất tài sản lưu động ít nhất phải lớn hơn 2. ”
Khi được hỏi: đối với giá trị thị trường và định mức tiêu thụ của một công ty, cá nhân ông đặt ra giới hạn thấp nhất là bao nhiêu, Carret trả lời rằng: “Tôi không có tiêu chuẩn cố định nào cả. Nhưng tôi thường có hứng thú với những công ty có hàng trăm hàng nghìn cổ đông, và có giá trị thị trường trên 50 triệu USD.”
“Tôi thích “sưu tầm” cổ phiếu của các công ty nhỏ và hơi “đặc biệt”. Tôi đang sở hữu cổ phiếu của một công ty cầu đường có tên gọi Virginia Natural Bridge Company. Đường cao tốc trên không nằm phía trên cầu, vì vậy nếu muốn nhìn ngắm những cây cầu bạn phải đi xuống thung lũng phía dưới và ngước nhìn lên. Toàn bộ diện tích đất bên dưới cầu đều thuộc sở hữu của công ty. Công ty này còn có một nhà hàng và một hãng xe du lịch. Mọi người thường đến đó và ở lại vài ngày. Sớm muộn nhà nước cũng sẽ bỏ tiền mua lại công ty với giá cao hơn giá thị trường rất nhiều lần. Và tôi yên tâm chờ đợi”.
Nhà quản lý của công ty
“Một tiêu chuẩn quan trọng khác là: tôi yêu cầu những nhà quản lý của công ty phải nắm giữ một ượng cổ phiếu tương đối. Tôi từng gửi thư trao đổi với chủ tịch hội đồng quản trị tập đoàn thạch cao quốc gia National Gypsum. Ông ấy sở hữu 20 ngàn cổ phiếu, nhưng đã bán sạch với giá mỗi cổ phiếu 20 USD. Ổng tổng giám đốc chỉ sở hữu 500 cổ phiếu của công ty, thế là tôi viết thư cho ông chủ tịch. Nhưng lá thư hồi đáp đã khiến tôi vô cùng kinh ngạc: “ông tổng giám đốc nắm giữ bao nhiêu cổ phiếu là việc của ông ấy, không ai có quyền can thiệp”. Tôi không đồng tình với quan điểm đó. Một vị lãnh đạo cấp cao ít nhất cũng phải đầu tư vào cổ phiếu của công ty mình khoản tiền lương của 1 năm làm việc. Nếu ông ta không có đủ lòng trung thành để làm việc đó, ông ta không xứng đáng trở thành nhà quản lý cao cấp của công ty. Vả lại, ngay bản thân họ còn chẳng thiết tha với cổ phiếu của công ty mình, thì tôi việc gì phải tha thiết với nó?”
Có thể coi đó là nguyên tắc quan trọng giúp công ty phát triển và tăng trưởng bền vững. Tuy nhiên, trải qua nhiều năm, các nguyên tắc thương mại sẽ có sự thay đổi. Carret đánh giá thế nào về điều này?
“Không, nguyên tắc là nguyên tắc, đi chệch khỏi những nguyên tắc thương mại này sẽ rất nguy hiểm. Số lượng những người đủ nhạy bén để có thể “mua nhanh bán gấp” rất ít. Tôi từng đọc một bản báo cáo nghiên cứu về “tuổi thọ trung bình” của các tài khoản đảm bảo khi giao dịch chứng khoán. “Tuổi thọ trung bình” của các tài khoản này chỉ 2, 3 năm. Đã từng có 1 khách hàng kiên trì 13 năm mới lỗ sạch tiền, vốn khởi điểm của anh ta là hàng triệu USD.”
Kỳ 3. Ralph Wanger, tìm kiếm những công ty quy mô nhỏ nhưng giàu tiềm năng
Bắt đầu sự nghiệp đầu tư tại công ty Harris Associates có trụ sở ở Chicago năm 1960,nhà quản lý kiêm chuyên gia phân tích chứng khoán Ralph Wanger tiết lộ lĩnh vực này mang lại lợi nhuận lớn mà lại “không quá vất vả”.
Triết lý đầu tư của Wanger gồm: tìm kiếm các công ty nhỏ giàu tiềm năng và xác định xu thế chủ đạo để mua vào cổ phiếu của các công ty sẽ kinh doanh có lãi.
Việc phát hiện ra công ty dầu khí Houston đối với Wanger cũng như đối với Quỹ Acorn là vô cùng quan trọng. Khi thị trường cổ phiểu sụp đổ vào những năm 1973 – 1974, giá cổ phiếu của Houston Oil vẫn duy trì ở mức cao do công ty này liên tiếp tìm ra những giếng dầu mới. Theo ông Wanger, Houston Oil đã cứu Acorn Fund khỏi nguy cơ phá sản. và "nếu không có cổ phiếu của Houston Oil, Acorn Fund sẽ không có ngày hôm nay.”
Thực chất, việc Wanger tìm kiếm các công ty nhỏ giàu tiềm năng là có cơ sở lý luận nhất định. Ông đã vận dụng thuyết “công ty nhỏ” do Giáo sư Rolf Banz (đại học Chicago) đề xuất năm 1978. Giáo sư Banz nhận thấy hiệu suất thu lời từ cổ phiếu của các công ty có giá trị thị trường thấp luôn vượt mức bình quân của thị trường, kể cả khi đã điều chỉnh mức độ rủi ro (rủi ro khi đầu tư vào các công ty nhỏ thường khá lớn).
Nhà đầu tư Wanger “thường mua vào cổ phiếu của những công ty nhỏ chưa phát huy hết tiềm lực kinh tế, chờ đến khi những công ty này không ngừng phát triển đầy đủ thì bán cổ phiếu. Những nhà đầu tư nhỏ lẻ thường bán tháo cổ phiếu, khi công ty chưa thực sự phát triển đến mức cao nhất, đồng thời mua vào cổ phiếu của các công ty đã phát triển ổn định.
Để có được thông tin tổng hợp, ông Wanger đã xây dựng một mạng lưới "tai mắt" ở khắp các vùng, miền, khu vực và quốc gia. Hàng năm ông đều gửi phong bì cho những nhân viên, những tổ chức chuyên cung cấp tin tức “tình báo” cho ông và ông phần thưởng dành cho họ là “phần thưởng hạng A”.
Tìm hiểu xu thế
Cuộc sống đang thay đổi từng ngày. Cách đây 20 năm, mọi người đều tay phải cầm một điểu xì gà, tay trái một ly Martini khi dự tiệc. Sáng dậy sớm, ra công viên chạy bộ gần như là hành động bất thường và những người ở tuổi trung niên không ai có thói quen này. Theo ông Wanger, người ta không thể biết cách sống của thế hệ tiếp theo sẽ biến đổi ra sao. Ông nói: "Nếu các bác sỹ hồi đó biết rằng tương lai sẽ như thế này, họ đã sớm chuyển từ chuyên về bệnh tim sang chuyên về y học thể thao rồi. Hiện nay ngày càng nhiều người cao tuổi bị đau lưng, mỏi gối, và họ muốn được điều trị. Như vậy, họ đã tạo ra cơ hội kiếm tiền cho nhiều người khác.”
Cùng với sự ra đời của máy vi tính, bản thân ngành đầu tư cũng có những thay đổi lớn lao. Nhà đầu tư Wanger tiên đoán: "Đến một ngày nào đó, chỉ cần bỏ ra 80 USD bạn đã có thể mua được phần mềm 'quản lý tổ hợp đầu tư' tại cửa hàng bán máy vi tính. Bạn có thể chuyển toàn bộ thông tin vào đó và tôi sẽ thất nghiệp. Chúng ta đang ở giữa của một cuộc cách mạng không liên tục phát triển.”
Quả bóng pha lê vỡ tan
Các nhà tiên tri dự đoán rằng trong những năm tới, sẽ có khoảng 20 phát minh quan trọng về lĩnh vực công nghệ ra đời. Trong đó bao gồm những phát minh hạ giá thành năng lượng trước năm 1985 như: tìm kiếm giếng dầu ngoài biển khơi, công nghệ năng lượng hạt nhân tiếp tục phát triển, ứng dụng nhiên liệu hóa thạch, nhiên liệu tổng hợp, năng lượng mặt trời sẽ được ¼ số hộ gia đình sử dụng.
Nhưng, trong số những dự đoán trên, chỉ có dự đoán về khai thác dầu mỏ trên biển trở thành hiện thực. Từ đó, Wanger rút ra bài học rằng rất khó dự đoán xu thế phát triển của khoa học công nghệ. Các chuyên gia đưa ra những dự đoán này đều là người có học vấn uyên thâm, nhưng phần lớn họ đều đã đoán sai. Điều đáng nói hơn là, họ không dự đoán được những biến động to lớn từ năm 1972 đến nay.
Nhà đầu tư Ralph Wanger khuyên nhủ: “Trong thế giới đang biến đổi từng ngày từng giờ này, một công ty có thể duy trì mức tăng trưởng ổn định trong suốt 20 hoặc 30 năm chưa hẳn đã là dấu hiệu đáng mừng: khả năng tồn tại những công ty như thế này rất thấp, bởi vì tình hình đã hoàn toàn thay đổi trong khoảng thời gian 20, 30 năm đó. Bất luận 30 năm trước bạn dựa vào điều gì để có được thành công, thì giờ đây những nhân tố đó đều không còn tác dụng nữa. Tôi cho rằng, tập trung đầu tư vào các công ty nhỏ, sẽ dễ dàng nắm bắt xu thế biến động tiếp theo hơn. Bạn cần đi trước xu thế, chứ không phải cứ lẽo đẽo bám theo nó”.
Thông tin ẩn và thông tin phóng đại
Trong quá trình tìm hiểu xu thế, nhà đầu tư vừa phải quan tâm đến những thông tin bề nổi, nhưng đồng thời cũng đừng bỏ qua những thông tin chìm vì đúng như tác giả tiểu thuyết Sherlock Holmes từng viết: “Chó sủa thường không cắn người, chó cắn người thường không sủa”.
Những tin tức giá trị thường không phải thông tin sốt dẻo và những thông tin phóng đại quá mức cũng có thể tạo ra cơ hội. Sự cố rò rỉ tại một trạm năng lượng hạt nhân hay một cơn lốc xoáy có thể thu hút sự quan tâm đặc biệt của phóng viên và dân chúng, mặc dù mức độ nguy hiểm của nó được phóng đại gấp bội so với thực tế.
Năm 1979, khi “phòng thí nghiệm vũ trụ” nổ tung trên tầng khí quyển, tất cả các hãng hàng không tại Mỹ đã hủy chuyến bay, nhưng vì hàng ngày vẫn có khoảng 130 người Mỹ chết vì tai nạn giao thông. Đối với người dân Mỹ, nguy cơ chết vì tai nạn xe cộ lớn hơn gấp hàng triệu lần nguy cơ "dính phải" mảnh vỡ của “phòng thí nghiệm vũ trụ” nói trên.
Từ đó, Wanger rút ra kết luận “hiệu ứng phòng thí nghiệm vũ trụ” cho thấy thị trường thường có khuynh hướng lo lắng quá mức đối với những rủi ro mà khả năng phát sinh cực thấp. Chính vì vậy những công ty ổn định có thể gặp đôi chút khó khăn, nhưng khả năng phát sinh rủi ro thấp lại có giá trị đầu tư nhất định.
Khi một công ty phải đối mặt với khó khăn, biên độ trượt giá cổ phiếu lớn hơn biên độ điều chỉnh cần thiết, phố Wall gọi hiện tượng này là “giá cổ phiểu mẫn cảm quá mức đối với các thông tin xấu”. Wanger nói "Khi thị trường tỏ ra bi quan quá mức đối với cổ phiếu của một công ty có tiềm năng do chịu tác động từ những thông tin thiếu căn cứ đã bị phóng đại, thì đó chính là lúc cơ hội kiếm tiền đến với bạn".
Tiêu chuẩn của một công ty tiềm năng
Tiêu chuẩn kiểm định một công ty tiềm năng của Wanger có 3 nội dung chính: tiềm lực tăng trưởng, tình hình tài chính và giá trị cơ bản và ông gọi đó là “kiềng ba chân”.
1. Tiềm lực tăng trưởng thể hiện ở 5 khía cạnh: 1, Thị trường ngày càng lớn đối với các sản phẩm của công ty. 2, Thiết kế mẫu mã sản phẩm tốt. 3, Sản xuất hiệu quả. 4, Lượng tiêu thụ hàng hóa lớn. 5, Tỷ lệ lãi suất hợp lý.
Tiếp đó, Wanger sẽ tìm đến những công ty được quản lý tốt. Cấp quản lý hiểu biết sâu sắc về lĩnh vực kinh doanh của công ty, nghiệp vụ quảng cáo sản phẩm và bán hàng xuất sắc, và có tinh thần hết lòng vì khách hàng. Ông thích những công ty mà nhà quản lý nắm giữ một lượng lớn cổ phiếu trong tay vì như vậy, lợi ích của các nhà quản lý công ty và cổ đông mới thống nhất.
2. Wanger muốn xác định chắc chắn tình hình tài chính vững vàng của một công ty: nợ thấp, nguồn vốn vận hành ổn định, bảng cân đối kế toán đẹp. Một bảng cân đối nợ ổn định là sự đảm bảo rằng trong quá trình tăng trưởng, tiền vốn của các cổ đông sẽ không bị thất thoát.
3. Cuối cùng, giá cổ phiếu phải có sức hấp dẫn. Wanger cho rằng, các tổ chức đầu tư thường đánh đồng công ty với cổ phiếu của công ty. Một công ty có tiềm năng, cổ phiếu của công ty đó chưa hẳn là một cổ phiếu “tiềm năng”, giá cổ phiếu của rất nhiều công ty đã được thị trường đẩy lên cao hơn giá trị thực tế.
Kỳ 4 Michael Steinhardt, sẵn sàng mạo hiểm .
Vì đòi hỏi lãi suất tài sản thuần cao và tỷ suất nợ thấp, Michaelis không chọn những công ty mới thành lập hoặc những công ty nhiều năm sau mới kinh doanh có lãi để đầu tư. Những công ty mà ông đầu tư đều là doanh nghiệp lâu năm với tốc độ tăng trưởng ổn định...
George Michaelis đã sửa đổi nguyên tắc đầu tư của Benjamin Graham là "mua vào những tài sản có giá thấp hơn giá trị thực tế" thành: tài sản và khả năng sinh lời của tài sản quan trọng ngang nhau, vì vậy, nên mua vào những cổ phiếu có chỉ số P/E (Price/Earnings Ratio: Hệ số giữa thị giá một cổ phiếu và thu nhập mà nó mang lại) thấp. Nếu thấy thích hợp, Michaelis sẽ đầu tư vào cổ phiếu của các công ty làm ăn có lãi với mức giá bằng hoặc cao hơn giá trị tài sản.
Michaelis phân tích rằng, cách đầu tư của ông không có gì khó hiểu. Những công ty được ông đánh giá tốt thường hội tụ những đặc điểm sau:
1. Là doanh nghiệp đạt lợi nhuận cao: lãi suất tài sản thuần và lãi suất tổng tài sản đều cao, đồng thời lãi suất tài sản thuần ở mức cao được duy trì lâu dài.
2. Tiềm năng sinh lời của công ty không chịu sự khống chế của chu kỳ kinh doanh.
3. Có thể xác định các nhân tố tạo nên sự thành công của công ty. Các công ty có lãi suất tài sản thuần ở mức 25%-30% đều rất lý tưởng. Nếu tìm được những công ty như vậy, Michaelis rất muốn tìm hiểu các nhân tố tác động. Sau khi tìm ra lí do thành công, ông sẽ tiếp tục đánh giá khả năng duy trì mức lãi suất cao đó của công ty. Khi tất cả đã hoàn toàn minh bạch, ông mới có đủ sự tin tưởng cần thiết để đầu tư.
Michaelis không thích những doanh nghiệp nợ nần. Các công ty mà ông đầu tư thường chỉ có tỷ suất nợ khoảng 15%, trong khi S&P 500 Index đưa ra mức bình quân là 25%. Các công ty thu lời cao thường ít mắc nợ, và nếu chịu nợ thì sẽ có xu hướng giảm nợ. Bởi vậy, các công ty này rất an toàn. Bên cạnh đó, nếu xuất hiện cơ hội đầu tư lý tưởng, các công ty có tiềm lực tài chính dồi dào thường có khả năng giành được cơ hội.
Vì đòi hỏi lãi suất tài sản thuần cao và tỷ suất nợ thấp, Michaelis không chọn những công ty mới thành lập hoặc những công ty nhiều năm sau mới kinh doanh có lãi để đầu tư. Những công ty mà ông đầu tư đều là doanh nghiệp lâu năm với tốc độ tăng trưởng ổn định.
“Khả năng làm cho đồng vốn sinh sôi là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực kinh doanh của một công ty. Ví dụ như Melville, chúng tôi đầu tư vào cổ phiếu của công ty này suốt từ những năm 1970. Bạn có thể tưởng tượng, với tổng tài sản 350 triệu USD, chỉ trong vòng 10 năm, công ty này có thể tạo ra khoản lãi 2 tỷ USD không? Melville đã làm được điều đó. Đạt thành tích xuất sắc như vậy là vì lĩnh vực kinh doanh của công ty này là lĩnh vực mà không phải doanh nghiệp nào cũng có thể bước chân vào được, vì thế, Melville gần như không có đối thủ cùng ngành.”
Duy trì tính lưu động cao của đồng vốn
Michaelis khảng khái cho biết ông không bao giờ đặt tiêu chí tối đa hóa lợi nhuận đầu tư lên hàng đầu, bởi vì năng lực chống chịu với rủi ro của ông có hạn. Ông luôn duy trì nguồn vốn lưu động ở hiệu suất cao: cung tiền mặt trong tổ hợp đầu tư của ông thấp nhất cũng phải 10%. Khi thị trường sụp đổ năm 1987, cung tiền mặt của ông là 20%, thời kỳ giữa năm 1988 là 18%. “Khi đầu tư, bạn phải nghĩ đến khả năng: rất có thể cổ phiếu sẽ xảy ra đợt lao dốc trăm năm có một. Khả năng này rất thấp, nhưng nếu nó thực sự xảy ra, việc đầu tiên bạn cần làm là tìm cách để tiếp tục tồn tại.”
Michaelis luôn cố gắng tối đa tránh né những tổn thất nghiêm trọng, bởi vậy ngay cả khi thị trường đang lên cơn sốt, ông cũng không thấy phiền khi lợi nhuận của công ty ông thấp hơn mức trung bình. Nhưng, Quỹ đầu tư do ông quản lý từ trước đến nay hoạt động hết sức ổn định, lợi nhuận của Quỹ kể từ năm 1973 đến năm 1988 chỉ có duy nhất 1 quý thấp hơn S&P 500 Index. Thậm chí, vào thời điểm quý 4 của năm 1987 “đáng sợ”, Quỹ của ông cũng chỉ giảm 13,5%, trong khi S&P 500 Index giảm 22,5%.
Ông không cho rằng bản thân là người có khả năng phản ứng nhanh nhạy. “Tôi biết thế, nhưng tôi thích làm theo cách của mình, vì như vậy tôi sẽ không phát hoảng trước những thất bại khó tránh khỏi.” Michaelis chưa từng mua cổ phiếu của những công ty đang phát triển, đang “sốt” nhưng nhiều biến động, thiếu sự ổn định.
Michaelis để mắt đến khoảng 300 công ty, nhưng ông chỉ quyết định mua khi giá cổ phiếu của những công ty này ở mức rất thấp. Ông luôn đặt ra các mức giá mục tiêu cho mỗi loại cổ phiếu. Khi giá cổ phiếu xuống dưới mức giá mục tiêu, ông sẽ mua vào, giá cổ phiếu càng xuống, ông mua vào càng nhiều. Ông không có tham vọng rằng, toàn bộ hoặc phần lớn cổ phiếu của mình được mua với giá thấp nhất, bởi vì rất có thể ông đã mua vào quá sớm. Nhưng ông mong rằng mình vẫn còn đủ tiền để mua vào khi giá cổ phiếu chạm đáy.
Chỉ cần giá cổ phiếu “sốt nhẹ” là ông sẽ bán ra. Cũng có đôi lúc ông thấy mình đã hơi vội vàng. Ông hình dung về bản thân như là một cầu thủ đánh bóng chày. Chỉ cần đánh tốt đến chốt thứ nhất, không nhất thiết phải theo đuổi chốt thứ 2 và thứ 3.
Đối với mỗi loại cổ phiếu, Michaelis thường lựa chọn phương thức mua vào từng đợt. “Muốn có được linh cảm về bước đi của cổ phiếu, bạn phải giữ nó một thời gian, không còn cách nào khác.”
Michaelis không đầu tư dựa trên những quan điểm, kiểu như: Nước Mỹ đang bị già hóa, vì vậy bạn nên đầu tư vào lĩnh vực sản xuất gậy chống….
Không “chê” trái phiếu rủi ro cao
Đối với trái phiếu, nếu phải lựa chọn giữa trái phiếu loại AA và loại AAA, ông sẽ không mua trái phiếu AA, vì lãi suất của loại trái phiếu này chỉ cao hơn trái phiếu AAA 30 điểm, không đáng để mua. Khi thị trường trái phiếu có biểu hiện tốt, ông sẽ mua vào trái phiếu chính phủ.
Ngoài ra, nếu giá cả hợp lý, Michaelis cũng không ngần ngại mua vào những trái phiếu có mức rủi ro cao. Theo ông, khi đầu tư vào cổ phiếu, chất lượng tài sản của công ty càng cao càng tốt, nhưng khi mua trái phiếu, ông lại thích thú với trái phiếu của những công ty đang có nguy cơ bị phá sản hơn.
Không tin vào các công cụ phái sinh
Michaelis không tin vào các công cụ tài chính khác đang tràn lan trên thị trường như: giao dịch kỳ hạn, quyền chọn, tự bảo hiểm, “bảo hiểm”….
Ông cho rằng, nhiều người đầu tư thất bại không phải do họ chưa đủ sáng suốt mà vì họ quá thông minh. Những nhà đầu tư linh hoạt thường bị hấp dẫn bởi những khái niệm vừa huyền bí sâu sắc vừa tao nhã, kiểu những công cụ phái sinh đầy phức tạp. Bởi vậy, họ không thể tập trung vào chân lý cơ bản, vào thực tế, mặc dù những chân lý, những thực tế này hết sức rõ ràng và dễ hiểu.
Ông lấy ví dụ: “ví dụ như trái phiếu phát hành được đảm bảo bằng tài sản thế chấp CMOs. Một ngân hàng có thể chia lợi nhuận thu được từ khoản vay thế chấp thành 3 dòng tiền độc lập: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, đồng thời phát hành trái phiếu bảo lãnh thế chấp với thời hạn tương ứng. Những nhà đầu tư mong muốn thu hồi vốn nhanh có thể mua trái phiếu bảo lãnh thế chấp thời hạn 5 năm. Những nhà đầu tư dài hạn có thể mua trái phiếu 25 năm. Sáng kiến này rất thông minh. Nhưng khi thị trường sụp đổ, việc định giá những trái phiếu này hết phức tạp, bạn sẽ làm thế nào để chiết khấu những dòng lãi thành giá trị hiện tại? Nếu áp dụng quyền ưu tiên thanh toán của khoản vay thế chấp, thì rất nhiều nhà đầu tư thậm chí còn chưa từng nghe nói về nó, và như thế, vấn đề sẽ càng trở nên phức tạp.”
Kỳ 5.Michael Steinhardt, sẵn sàng mạo hiểm
Nếu bạn đầu tư 10.000 USD vào Quỹ tự bảo hiểm thuộc công ty Steinhardt Partners do Steinhardt quản lý vào tháng 7 năm 1967 khi công ty vừa được thành lập, thì 20 năm sau bạn sẽ có 1 triệu USD. Nếu trừ đi khoản hoa hồng, lãi suất hàng năm của bạn là 27%.
Quỹ đầu tư do Michael Steinhardt quản lý đạt lợi nhuận cao suốt 20 năm, đó được xem như một kỳ tích trong lịch sử ngành đầu tư.
Nguyên tắc đầu tư của Steinhardt là: sẵn sàng mạo hiểm. Năm 1972, ông bán hết cổ phiếu đình đám, được đánh giá là “vestal virgins” tại thời điểm đó, gồm cổ phiếu của: Palaroid, Xerox, Avon,… Khi ấy, hệ số P/E của những cổ phiếu này tăng giá gấp 30-35 lần.
Nhà giao dịch của những sách lược
Có thể coi Steinhardt như là một nhà giao dịch với những sách lược. Đầu tiên, ông hình thành cho mình khái niệm tổng quát với những thông tin dạng như: yên Nhật tăng giá, lạm phát đang xấu đi, cổ phiếu dầu khí sắp tăng mạnh v.v... Sau đó, ông bắt tay tìm kiếm cổ phiếu. Vì đã trả một khoản hoa hồng, ông liên tục nhận được điện thoại từ phố Wall, người ta cung cấp cho ông những thông tin có lợi cho giao dịch. “Chúng tôi sẽ điều chỉnh thấp lãi suất dự tính trong quý sau của công ty điện khí thông dụng.” “Hoa kỳ nâng bậc tín nhiệm tín dụng của Brasil”. “Một số công ty có sức ảnh hưởng rất lớn đến thị trường Phố Wall, ở một mức độ nào đó, cách nghĩ của họ sẽ tác động đến hướng đi của thị trường.”
Khi chuyên gia phân tích chính của các công ty này có những nhận định mới, Steinhardt muốn mình là người nhận được cú điện thoại đầu tiên. Không phải vì quan điểm của các chuyên gia chắc chắn đúng, nhưng chỉ cần những người nhận điện thoại của Steinhardt ngay sau đó đồng tình với quan điểm của chuyên gia là đủ.
Đối với những nhà đầu tư giao dịch trong ngày như Steinhardt, những sự việc đang hoặc vừa mới diễn ra mới là hiện thực. Những sự việc phát sinh trong thời gian dài, nằm trong những báo cáo nghiên cứu trường kỳ về thị trường Phố Wall đều là sự việc của tương lai – thuộc về thế giới ảo.
Ông nói: “Tôi ngưỡng mộ những nhà đầu tư có thể giữ một cổ phiếu vài năm trời! Họ đủ kiên nhẫn để chờ đợi những điều có thể phải mất một thời gian rất dài mới xảy ra. Trên đời này, không có nhà đầu tư thành công nào ít gặp được cơ hội mà lãi suất từ các giao dịch đơn lẻ gấp 2 đến 3 lần hơn tôi. Tôi không đòi hỏi quá nhiều. Tuy nhiên, phần lớn lợi nhuận tôi kiếm được đều dựa vào các sản phẩm đầu tư kéo dài 1 năm trở lên.”
Nhưng, thành công của Steinhardt phần lớn nhờ vào những giao dịch trong ngày. Thậm chí ông đầu cơ cả hướng đi ngắn hạn của toàn bộ thị trường. Có lúc ông vay tiền làm lớn, cũng có lúc chỉ giữ vốn đầu cơ thuần.
Quỹ tự bảo hiểm đầu tiên của Steinhardt thuộc công ty Steinhardt Partners. Khi đã chắc chắn, Steinhardt sẽ tận dụng tối đa “chiếc đòn bẩy”. Một trong những ví dụ cho điều này là tại thời điểm cổ phiếu IBM chuẩn bị công phá vào năm 1983 đã nói ở trên. Một lần khác, vào năm 1981, Steinhardt tin chắc trái phiếu chính phủ trung hạn sẽ tăng giá mạnh. Ông đã dùng khoản tiền mặt 50 triệu USD của mình và vay thêm 200 triệu USD để mua vào trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 5 năm, với tổng trị giá 250 triệu USD. Sau đó, ông sốt ruột chờ đợi mức lãi suất sẽ hạ. (Khi đó, trên bảng nợ của Quỹ xuất hiện con số thâm hụt 1000 USD). Ông đã mất đi một vài khách hàng, nhưng cuối cùng ông đã thu về 250 triệu USD. Trong đó, Quỹ của ông chỉ bỏ ra 50 triệu USD đã kiếm được 40 triệu USD.
Kỹ xảo giao dịch
“Khi nhận được báo cáo của chuyên gia phân tích, tôi sẽ suy nghĩ trong 5 phút và đưa ra quyết định. Các chuyên gia thường cung cấp những tin dự báo như: doanh thu của công ty nào đó sẽ tăng trong quý tới, hay cấp quản lý của công ty nào đó có biến động nhân sự. Tôi nghiêng về cách “quản lý bị động” – tức là trao cho bộ phận phân tích thị trường phần lớn quyền quyết định. Nếu công việc không trôi chảy, tôi sẽ xem xét kỹ lưỡng hơn bản báo cáo phân tích. Vai trò của tôi giống như một tổng chủ huy, xác định tổng mức đầu tư và mức độ rủi ro cho phép.”
“Tôi tự nhận thấy trách nhiệm của mình là, tận dụng mọi phương thức có thể để thu được lợi nhuận cao nhất, chứ không phải cố gắng “nắn nót” tạo nên một phong cách đầu tư đặc biệt. Hàng ngày tôi vẫn tự hỏi mình, tỷ lệ lỗ-lãi đã đạt yêu cầu chưa? Tôi có khoảng 4, 5 nhân viên phụ trách liên hệ với 80-90 nhà môi giới chứng khoán, để chúng tôi sẽ có thể sử dụng tối đa thông tin từ phố Wall. Nếu chỉ thực hiện giao dịch dài hạn, tôi sẽ không gặt hái được thành công như ngày nay.”
Steinhardt cảnh báo những nhà đầu tư muốn mua cổ phiếu giá rẻ (những cổ phiếu giá rẻ chỉ có tính giai đoạn): những cổ phiếu đó có khả năng sẽ tiếp tục xuống giá. Nhà đầu tư cần phải tính đến các nhân tố khác như: hệ số P/E, xu thế phát triển ngành công nghiệp, vị trí của công ty trong bối cảnh cạnh tranh thị trường.
“Tôi lựa chọn sản phẩm đầu tư dài hạn dựa trên những triển vọng lâu dài. Nhưng, điều đó không có nghĩa tôi sẽ ôm khư khư khoản đầu tư đó cho đến một thời điểm cố định. Tôi hay nói với nhân viên của mình rằng, cần xây dựng những quyết sách đầu tư trên cơ sở lâu dài, dù cho hiện tượng mà bạn đặt cược có thể sẽ không xảy ra. Tôi thường đặt ra giả định: thị trường sẽ phản ứng ra sao đối với triển vọng lâu dài?”
Bán khống cổ phiếu
Steinhardt rất hài hước khi nói rằng, trên thực tế, nhiều người trong đó có ông, luôn phải điều chỉnh tâm lý khi bán khống cổ phiếu, để trấn áp suy nghĩ rằng bản thân đang đứng ở phía “đen tối”, đối lập với quốc gia, với gia đình và những giá trị truyền thống. Hơn nữa, không dễ dàng khi phải vượt qua những quan điểm kiểu như: bán khống sẽ phải chịu tổn thất vô cùng lớn, thậm chí có thể là 100%.
Nhưng, nguyên tắc đầu tư của Steinhardt là: sẵn sàng mạo hiểm. Năm 1972, ông đã bán hết cổ phiếu đình đám đang rất “hot” và được đánh giá là “vestal virgins” tại thời điểm đó, như cổ phiếu của: Palaroid, Xerox, Avon,… Khi ấy, hệ số P/E của những cổ phiếu này tăng 30-35 lần.
Nhưng, điều khiến ông chán nản là, những cổ phiếu này vẫn tiếp tục tăng giá, đỉnh điểm là khi hệ số P/E tăng 40-45 lần. Thậm chí, khi thị trường sụp đổ vào năm 1973, nó còn tăng giá nhanh hơn trước.
Cổ phiếu mà Steinhardt tâm đắc nhất là cổ phiếu của công ty King Resources. Trước khi công ty này bị phá sản, ông đã thu được khoản lợi nhuận gấp 7-8 lần vào năm 1968. “Chúng tôi là những kẻ đại ngốc vì đã ngây thơ tin lời họ. Tôi bán khống cổ phiếu này chỉ vì nó tăng giá quá nhanh.”
Steinhardt thường xuyên và rất khách quan trong việc đánh giá các quyết sách đầu tư của mình, ông kiểm tra các tổ hợp đầu tư của công ty nhiều lần mỗi ngày. Ông tập trung vào những hạng mục đầu tư có biểu hiện không tốt và tìm ra nguyên nhân. Có thể do quyết định sai lầm, có thể do hiện tượng khách quan, nhưng ông sẽ không “để yên” cho cổ phiếu này, cho đến khi ông xác định chắc chắn biến động là do nhân tố khách quan của thị trường.
Ông thích sở hữu những cổ phiếu có sức hấp dẫn với người giao dịch, bởi vậy, ông luôn đi trước thị trường.
Kỳ 6 . Nhà đầu tư Barr Rosenberg định lượng thị trường
Từ mọi tình tiết nhỏ nhất cho đến những biến cố ngẫu nhiên của thị trường cổ phiếu đều không lọt qua đôi mắt nhạy bén của Phó giáo sư kinh tế Barr Rosenberg, người "luôn tìm kiếm cơ hội đầu tư trong quá trình nghiên cứu các quy luật cơ bản”.
Những sách lược đầu tư sắc sảo của Phó giáo sư kinh tế Barr Rosenberg đều được đúc kết từ máy vi tính, vì mỗi ngày máy vi tính phải xử lý hàng triệu thông tin và số liệu, từ đó chọn lọc ra những cổ phiếu nên mua vào, cổ phiếu nào phải bán ra.
Ông Rosenberg thành lập công ty đầu tư riêng đầu tiên mang tên Barr Rosenberg & Associates (BARRA) cùng với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, công ty bắt đầu bước chân vào kỷ nguyên mới của ngành đầu tư. Năm 1978, ông được tạp chí “Institutional Investor Magazine” vinh danh là bậc thầy của “lý thuyết tổ hợp đầu tư hiện đại”.
Có lẽ không có ai hơn Barr Rosenberg phù hợp với công việc phức tạp, gian nan này. Ông là một tín đồ Phật giáo tài hoa, đồng thời cũng là một nhà quản lý đầu tư tài ba xuất chúng. Những năm 70 thế kỷ 20, ông đã ứng dụng lý thuyết rủi ro từ tháp Ivory vào thực tiễn đầu tư.
Phân tích định lượng
Chiến lược ra quyết sách bằng vi tính của nhà đầu tư Barr Rosenberg hết sức uyên thâm, khiến những người không có tài năng thiên bẩm về toán học phải ngưỡng vọng. Có 3 nguyên tắc cơ bản phía sau những dòng code dài dằng dặc và những công thức toán học phức tạp của Phó giáo sư Barr Rosenberg.
Đó là nghiêm túc và nhanh chóng phân tích các công ty đã lên sàn, thị trường và tâm lý nhà đầu tư; không cần phải nắm bắt toàn bộ thông tin, chỉ cần nắm bắt những thông tin mà những nhà đầu tư khác chưa có và đầu tư phân tán.
Năm 1985, Barr Rosenberg bán cổ phần của mình ở công ty BARR và thành lập công ty RIEM.
Phương châm kinh doanh của công ty mới là mặc dù về đại thể, thị trường cho thấy tín hiệu là kinh doanh có hiệu quả, nhưng với phần mềm phù hợp được lắp đặt trong máy vi tính, người ta vẫn có thể phát hiện được giá cổ phiếu không đúng với giá trị thực (giá cổ phiếu được mua cao lên hoặc định giá thấp xuống), từ đó tìm ra cơ hội đầu tư.
Biện pháp đó có hiệu quả không?
Kể từ khi thành lập vào tháng 7 năm 1987 đến tháng 11 năm 1997, tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận trước thuế của Quỹ U.S. Small Cap Fund trực thuộc công ty RIEM là 17,5%, vượt xa chỉ số Russell 2000 Index được công bố là 16,8%. Một quỹ khác cũng thuộc RIEM là U.S.Core Equity, kể từ khi được thành lập vào tháng 6 năm 1985 đến tháng 11 năm 1997, có tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận năm được công bố là 17,9%. Thông qua sách lược “trung lập với thị trường”, RIEM đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng nể. RIEM cũng là công ty đầu tiên phát hiện những cổ phiếu không tương thích với xu thế chung của thị trường (hoặc bị làm giá cao hơn, hoặc bị định giá thấp hơn), từ đó thu về lợi nhuận. Trong khoảng 5 năm trước thời điểm tháng 11 năm 1997, tổ hợp đầu tư kiểu “trung lập” của RIEM đã giúp công ty có được tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận cao hơn các công ty cùng ngành khác gần 12% (trước thuế).
Phó giáo sư Barr Rosenberg chỉ ra rằng phương pháp phân tích định lượng giúp nâng cao hiệu suất thành công của các nhà đầu tư không chuyên. Ngày nay, các nhà đầu tư không chuyên không cần phải bỏ ra hàng triệu USD để sắm thêm máy vi tính hay những thiết bị kỹ thuật thông tin mà vẫn có thể vận dụng phương pháp phân tính định lượng để chơi cổ phiếu, chỉ cần họ chọn được loại cổ phiếu phù hợp.
Theo ông Rosenberg, cổ phiếu của những công ty nhỏ đem đến cơ hội kiếm lời lớn hơn, bởi vì các tổ chức đầu tư không quan tâm đến loại cổ phiếu này, họ chỉ để mắt đến cổ phiếu của những công ty lớn. Với những cổ phiếu của các công ty lớn, thì dù có bỏ ra hàng triệu USD cũng không đủ để đẩy giá cổ phiếu lên cao.
Mô hình đánh giá
Kể từ khi thành lập, RIEM chỉ sử dụng một loại mô hình đánh giá, cho đến nay, mô hình đó đã thay đổi qua nhiều phiên bản.
Mô hình này chia tất cả các công ty trên toàn nước Mỹ thành 166 nhóm “lĩnh vực kinh doanh tương tự”, từng nhóm lĩnh vực lại chia thành các khối khác nhau để tiện so sánh giữa các khối, và so sánh với giá trị bình quân của thị trường.
Tổng kết lại, để đánh giá được bảng lỗ lãi, bảng nợ, tình trạng tiêu thụ của một công ty, phải tiến hành kiểm tra tất cả 196 nhân tố. Sau đó, hệ thống còn phải đánh giá riêng rẽ 5000 công ty của Mỹ và 7000 công ty nước ngoài. Cuối cùng mới tổng hợp lại để tiến hành phân tích và đưa ra kết luận.
“Mục tiêu của chúng tôi là: tận dụng điểm chênh lệch giữa kết luận của RIEM với giá cả chung trên thị trường để đánh bại thị trường. Dựa trên tốc độ phản ứng của thị trường đối với tình huống chênh lệch giá tương tự trong quá khứ, chúng tôi có thể tính toán mức lợi nhuận dự kiến”. Các nhân viên phân tích định lượng của RIEM gọi phương pháp đánh giá này là “phương pháp đánh giá Alpha”. Trong giới đầu tư, ai cũng biết, ký hiệu “α” biểu thị lợi nhuận vượt mức bình quân của thị trường.
Quan sát thị trường
Nhà đầu tư Barr Rosenberg cho biết: “Chúng tôi quan sát toàn bộ thị trường từ điểm nóng của thị trường, biến động giá cả, hiệu suất chuyển nhượng cổ phiếu đến khối lượng giao dịch thành công…”
Trong danh sách theo dõi giám sát của RIEM có cả Quỹ Brandy Fund của Foster Friess, Quỹ Winsdor Fund do John Neff quản lý từ trước tháng 12 năm 1995. Barr chỉ ra rằng: “Đôi lúc, các nhà quản lý đầu tư chuyên nghiệp cũng có những biểu hiện của “tâm lý đám đông””.
Theo quan sát của Phó giáo sư Barr Rosenberg, cả nước Mỹ có 1200 nhà quản lý đầu tư chuyên nghiệp và luôn tồn tại một nhóm người có cùng phán đoán và cảm giác. Trong đó, nhóm các nhà đầu tư thuận xu thế được RIEM quan tâm hơn cả. Những nhà đầu tư này thích những cổ phiếu có mức tăng trưởng cao. Ông nói: “Một trong những thử thách của chúng tôi là phải tìm ra cổ phiếu có thể thu hút các nhà đầu tư thuận xu thế. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến quyết sách đầu tư của chúng tôi. Nếu có thể dự đoán được động thái tiếp theo của các nhà quản lý đầu tư thuận xu thế này, chúng tôi sẽ nắm chắc được thời cơ đầu tư. Cách làm của chúng tôi là, tìm ra một đại diện trong số họ để theo dõi quan sát, và chúng tôi chọn Quỹ Brandy của Foster Friess. Bạn sẽ thấy, một cổ phiếu mờ nhạt từ quý trước, sau khi được Brandy Fund mua vào, giá cả lập tức phi mã ở quý sau, hơn thế, trong một thời gian dài, biên độ tăng giá của nó còn vượt xa các cổ phiếu cùng loại khác.”
Kỳ 7.Gary Brison và giấc mơ toàn cầu hoá
Năm 1966, chàng thanh niên Brison - người mà sau nay trở thành “cha đẻ của chiến lược phân bổ tài sản toàn cầu” vừa mới bước chân vào ngưỡng cửa đại học, không hề có hứng thú với thị trường chứng khoán cũng như những gì liên quan đến lĩnh vực này.
Học đến năm thứ 3 đại học Chicago thì Brison thay đổi kế hoạch. Ngay bản thân Brison cũng không hiểu vì sao đột nhiên ông lại bị thị trường tài chính “mê hoặc”. “Vụ đầu tư” đầu tiên trong đời Brison là mua 10 cổ phiếu của công ty hàng không Eastern Air Lines, Inc.
Nó đã phản ánh tài năng thiên bẩm của Brison trong việc quan sát thấu suốt thị trường và phán đoán hướng phát triển của thương mại. Brison kiếm được một khoản tiền từ vụ đầu tư này, tuy không lớn, nhưng nó thôi thúc quyết tâm muốn “bắt mạch” thị trường tài chính và gây dựng sự nghiệp lẫy lừng của ông.
Giấc mơ toàn cầu hóa
Tham vọng của Brison có vẻ rất đơn giản: chia các thành viên trong tổ chức của ông thành những nhóm có sở trường chuyên môn khác nhau, quản lý những tài sản khác nhau, để từng người phát huy năng lực, khai thác tối đa lợi nhuận từ những chủng loại đầu tư khác nhau đó. Đây là phương pháp mà các chuyên gia vẫn thường gọi “phương pháp Alpha”.
Phương pháp phân bổ tài sản của Brison được hình thành không phải chỉ trong một sớm một chiều. Khi ấy công ty The Travelers Insurance Co. của Brison vẫn chưa có những liên hệ thực chất với thị trường bên ngoài nước Mỹ. Nhưng khi thị trường chứng khoán sụp đổ vào năm 1974, Brison đã phát hiện ra những điểm yếu kém của phương pháp đầu tư phân tán đang thịnh hành khi đó.
Ông đã được chứng kiến tận mắt tổ hợp đầu tư của một công ty quy mô vừa và nhỏ với khởi đầu rất tốt, nhưng chỉ sau 9-10 tháng, đã chịu tổn thất nặng nề và hầu như không thể gượng dậy nổi. Hiện thực khốc liệt đó cho thấy tính hạn chế của việc đầu tư phân tán trong cùng một loại hình tài sản.
Brison nói rằng, cuối những năm 70 thế kỷ 20, khi ý niệm về đầu tư trên thị trường phần lớn vẫn tập trung vào các tổ hợp đầu tư được hợp thành bởi những cổ phiếu và trái phiếu loại ưu, thì ông đã kịp xây dựng hệ thống các phương pháp phân bổ tài sản mà hiện đang được ứng dụng.
Brison luôn ấp ủ hoài bão thành lập một công ty đầu tư quy mô toàn cầu của riêng mình, và năm 1981, ông đã rời công ty bảo hiểm để thực hiện hoài bão đó. Ông thành lập công ty tư vấn đầu tư Chicago, là tiền thân của công ty Brison Partners, với sợ hỗ trợ rất lớn của ngân hàng First National Bank of Chicago.
“Một điều rất quan trọng là, bạn nên coi những tổ hợp đầu tư giống như sự phức hợp của các loại tài sản khác nhau. Những kinh nghiệm trong quá khứ cho thấy, mức độ phức hợp càng cao, lợi nhuận thu được càng lớn. Tất nhiên, chúng ta cũng không loại trừ trường hợp “vận son, số đỏ”, những người mà mua vé số cũng trúng giải độc đắc. Cũng có người đặt cược toàn bộ vốn liếng vào một cổ phiếu và đã thắng lớn. Nhưng nếu xét trên góc độ đầu tư tổng thể, bạn sẽ thấy, một tổ hợp đầu tư kiểu phân tán, một sự phức hợp của các tài sản đầu tư khác nhau mới là nhân tố cần thiết để thành công”.
Bốn nguyên tắc đơn giản
Các học giả thường sa vào tư duy lý thuyết mà xem nhẹ những mong muốn thiết thực của các nhà đầu tư. Mặt khác, nhiều nhà đầu tư lại coi thường kết quả nghiên cứu của các học giả, cho rằng họ chỉ là những kẻ giáo điều, lý thuyết suông trong tháp Ivory.
Tài năng đặc biệt của Brison trải rộng trên cả hai lĩnh vực lớn: học thuật và thực tiễn. Ông vừa nắm bắt được những tinh hoa của lý luận trừu tượng, vừa có thể áp dụng lý thuyết đó vào thực tiễn, từ đó xây dựng lên chiến lược phân bổ tài sản toàn cầu dựa trên 4 nguyên tắc cơ bản sau: 1. Tư duy toàn cầu. 2. Các loại tài sản được lựa chọn không lên xuống đồng thời. 3. Nhìn xa trông rộng. 4. Điều chỉnh phân bổ tài sản đúng lúc nhằm thích ứng với những biến đổi của xu thế đầu tư.
Tư duy toàn cầu
Thế giới trong mắt Brison khác với phép chiếu hình trụ nổi tiếng của Gerhardus Mercator trên tạp chí “National Geographic Magazine”.
Các nhà đầu tư nên tìm hiểu một chút tờ “bản đồ phân bổ tài sản toàn cầu” này: toàn bộ bản đồ được ghép bởi những tấm ghép hình chữ nhật nhỏ, mỗi tấm ghép đại diện cho trình độ phát triển kinh tế và quy mô thị trường của một khu vực khác nhau.
Với môi trường đầu tư toàn cầu phồn thịnh hiện nay, không gian và các lĩnh vực đầu tư không ngừng được mở rộng, bởi vậy, các nhà đầu tư hoàn toàn có thể dựa trên mức lợi nhuận đầu tư mong muốn và mức độ rủi ro có thể chấp nhận để lựa chọn tổ hợp đầu tư phù hợp.
Tuy nhiên, không phải nhà đầu tư nào cũng hứng thú đón nhận cái mới. Có người cho rằng, những khoản tiền xương máu bao năm vất vả mới có được, không thể nào quăng đến một nơi xa xôi như vậy để đầu tư được. Đầu tư vào một loại cổ phiếu kiểu truyền thống vẫn an toàn hơn. Nhưng, theo Brison, suy nghĩ bảo thủ này không những vô lý mà còn là một chiếc cùm trói chân những nhà đầu tư cứ cố né tránh rủi ro bằng được.
Lời khuyên của Brison là: đối diện với vô số lựa chọn đầu tư, bạn đừng nghĩ rằng, chỉ cần chọn ra từ mỗi lĩnh vực khác nhau vài cổ phiếu, rồi bổ sung thêm các trái phiếu cấp độ đầu tư làm “phao cứu sinh” thì bạn có thể yên tâm ngồi thu hoạch, phân bổ tài sản không phải như vậy.
Đối với Brison, chỉ có một logic giản đơn dẫn hướng cho chiến lược toàn cầu của ông. Ông sống ở Chicago – một thành phố quốc tế lớn, một vị trí thuận lợi để quan sát thị trường thế giới. “Nếu quan sát một thành phố giống như Chicago, bạn sẽ thấy, thành phố này cung cấp rất nhiều thứ “thuộc bản địa”, như: công ty bản địa, doanh nghiệp bản địa, cơ hội đầu tư tại bản địa. Nhưng chỉ cần đảo mắt một vòng, bạn lại sẽ phát hiện ra, người ta thông qua phương thức này để tham gia vào nền kinh tế toàn cầu.”
Nhìn xa trông rộng
“Ai rồi cũng có lúc gặp vận. Ai cũng mong mình sẽ “bắt được” cổ phiếu tốt, hoặc ngẫu nhiên, hoặc tình cờ mua được cổ phiếu tăng trưởng cấp bội số, kiếm được bội tiền. Nhưng ước muốn chỉ là ước muốn, không thể dùng nó dẫn đường cho việc đầu tư của bạn.”
Phương pháp phân bổ tài sản nhấn mạnh việc tiến hành khảo sát các đối tượng đầu tư bằng đôi mắt nhìn xa trông rộng trên cơ sở lịch sử lợi nhuận thu được từ những đối tượng đầu tư này. Sách lược đầu tư này nghe có vẻ không hấp dẫn, nhưng nó thực tế hơn việc bạn chỉ biết dựa vào “ước muốn”.
“Tôi tin rằng, nếu bạn kiên trì công việc này trong 15 năm, bạn sẽ thu hoạch được nhiều hơn việc chỉ dựa vào vận số và may mắn ngẫu nhiên rất nhiều lần. Quá trình phân bổ tài sản của chúng ta đều được hình thành trên cơ sở phân tích nghiêm túc các khối tài sản và các công ty lên sàn.”
Không nên gấp vội, vì đây là công việc lâu dài. Bạn sẽ mất không ít thời gian và sức lực để tích lũy thông tin và kiến thức liên quan, không có đường tắt để đi, cũng không có phép màu để biến hóa. “Tôi đã theo nghề này 25 năm. Mỗi lần muốn tìm ra đường đi tắt, tôi đều rơi vào cảnh ngộ: dục tốc bất đạt, thất bại thảm hại.”
Kiên trì chiến lược phân bổ tài sản là một việc làm đòi hỏi sự nỗ lực lớn lao. “Trong môi trường làm việc của chúng ta, tính chất công việc được quyết định bởi công ty hoặc lĩnh vực kinh doanh. Chúng ta phải dốc sức tìm hiểu mọi đặc trưng tiềm ẩn, để trên cơ sở đó từng bước kiến tạo, cho đến khi có thể nắm bắt bao quát được toàn bộ các loại hình đầu tư”.
Hy vọng và dự báo
Phân bổ tài sản một cách thành thục tức là có thể tách bạch rất rõ ràng “hy vọng” vào tương lai của nhà đầu tư với những “dự báo” được xây dựng trên cơ sở hiện thực. Brison nhắc nhở các nhà đầu tư: “Tất cả các nhà đầu tư cá nhân nên biết rằng, đằng sau mỗi danh mục đầu tư thành công, là một khối lượng khổng lồ các công việc phải làm với sự khác biệt cả về cường độ và mức độ”.
Quan trọng nhất là việc phân tích công ty và lĩnh vực mục tiêu, điều này đòi hỏi rất nhiều thời gian và trí tuệ, bất luận là đối với các nhà đầu tư cá nhân hay nhà quản lý các Quỹ đầu tư.
“Muốn hoàn thành tốt công việc này, các bạn phải đồng quan điểm và phải có quyết tâm giành thắng lợi”.
Kỳ 8. Peter Lewyn Bernstein, không có lãi thì đừng mạo hiểm
“Tôi đặc biệt yêu thích lịch sử, vì lịch sử có thể đối thoại với tôi”. Peter Lewyn Bernstein, nhà văn kiêm chuyên gia tư vấn đầu tư đã bộc bạch như vậy. Khi vừa bước chân vào Đại học Harvard, cuốn sách nổi tiếng “The General Theory of Employment , Interest and Money” của John Maynard Keynes đã tác động mạnh mẽ đến Bernstein, kể từ đó Bernstein dành sự quan tâm đặc biệt đến hệ thống tài chính và phương thức vận hành của nó.
Mọi người thường hứng thú với những cổ phiếu “cho cảm giác dễ chịu”, và thờ ơ với những cổ phiếu “khó chịu”. Khi bạn quyết định làm một việc tiềm ẩn sự rủi ro, chắc chắn có mục tiêu nào đó thu hút bạn, nhưng mức độ rủi ro cần tương đương với lợi nhuận dự kiến thì mới ổn.
Sau khi tốt nghiệp đại học, Bernstein lần lượt làm việc tại Ngân hàng dự trữ liên bang New York, OSS, Học viện Williams, Ngân hàng liên hợp New York (đầu tiên ông quản lý nhóm đầu tư trái phiếu, sau chuyển sang phụ trách quản lý ngoại hối). Bernstein còn có một thời gian làm việc tại công ty quản lý tài chính kiểu cũ của cha mình, rồi mới thành lập công ty quản lý đầu tư của riêng ông.
Bernstein viết rất nhiều sách và những bài báo nổi tiếng giới thiệu quá trình phát triển của chuyên ngành quản lý rủi ro, từ giai đoạn sơ khai cho đến những diễn biến mới nhất, phân tích lý thuyết tổ hợp đầu tư hiện đại và tài chính học hành vi.
“Mọi người nghĩ rằng, rủi ro chính là tỷ lệ tổn thất. Mọi người đều có nguy cơ phải đối mặt với rủi ro. Nhưng trong xã hội tư bản chủ nghĩa, rủi ro đồng nghĩa với cơ hội. Ai cũng biết, nếu không nỗ lực làm việc thì sẽ thiếu đói, không mạo hiểm thì khó thành tài – đó cũng là những “tín điều” mà mọi nhà quản lý đầu tư đều khắc cốt ghi tâm”.
Bạn có thể đánh bại thị trường không?
Cuối thập niên 60 đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, rất nhiều cố vấn đầu tư chuyên nghiệp tỏ ra coi thường các lý luận học thuật, nhưng Bernstein thì khác, ông thường xuyên liên lạc và xin ý kiến của những nhà tư tưởng lỗi lạc trong ngành tài chính, William F. Sharpe (thường gọi là Bill Sharpe) là một trong số đó.
Một ngày vào năm 1968, Sharpe đã giảng giải cho Bernstein một bài học hết sức sâu sắc. Sharpe hỏi Bernstein, liệu ông có thể chiến thắng thị trường? Bernstein đã trả lời hết sức thật thà: “Tôi chưa bao giờ nghĩ tới vấn đề đó. Tôi cho rằng chúng tôi đã từng chiến thắng thị trường trong khoảng 10 năm đầu gia nhập ngành này, vì thị trường khi đó không phức tạp như bây giờ. Chỉ cần nắm chắc các biện pháp có tính hệ thống là có thể chiến thắng phần lớn đám đông đầu tư ồ ạt theo cảm tính”.
Dù thị trường có phát triển ngày càng đa dạng và phức tạp đến đâu, các nhà đầu tư nhạy bén vẫn có thể chiến thắng được thị trường. “Chúng tôi mua vào những cổ phiếu giàu tiềm năng khi thị trường đang lên. Chúng tôi mua rất nhiều cổ phiếu của Tampax, của Gillette”.
Cổ phiếu của hai công ty này được đánh giá là đối tượng đầu tư rất có giá trị trong suốt 30 năm. Sau đó, Tampax bị thôn tính, và cho đến tận thời điểm năm 1997, cổ phiếu của Gillette vẫn được rất nhiều người theo đuổi.
Vì sao ngày nay chúng ta rất khó có thể chiến thắng thị trường? Theo Bernstein, nguyên nhân chính là vì, những năm 50 và đầu những năm 60 thế kỷ 20, các tổ chức đầu tư chỉ sở hữu một lượng nhỏ các cổ phiếu tiềm năng. Nhưng hiện nay, các tổ chức đầu tư luôn sở hữu phần lớn cổ phiếu của bất cứ công ty đã lên sàn nào. Nhiều tổ chức không cho phép Quỹ hưu trí trực thuộc sở hữu bất cứ cổ phiếu nào dưới danh nghĩa người hưởng lợi. Đây là quy tắc “bất di bất dịch” do các tổ chức đầu tư “bảo thủ” đặt ra kể từ sau năm 1929 khi thị trường đổ vỡ, và cho đến cuối thập niên 70 thế kỷ 20 nó vẫn không hề bị lung lay.
Một đợt thị trường theo chiều giá xuống kéo dài vài năm đã khiến nhà đầu tư bắt đầu quan tâm đến lý thuyết rủi ro. Theo S&P 500 Index thì biên độ trượt giá của thị trường cổ phiếu trong năm 1974 lên đến 40%. “Các nhà đầu tư cần có những cách thức mới để khống chế rủi ro”. Với suy nghĩ như vậy, Bernstein đã hợp tác với tạp chí “Institutional Investor” sáng lập ra tuần san “Journal of Portfolio Management” và trở thành tổng biên tập đầu tiên của tờ báo này.
Nhà đầu tư trong tiềm thức
Về mặt tâm lý học, tiền bạc có hàm nghĩa rất đặc biệt. Vì tiền bạc có mối liên hệ mật thiết với lòng tự trọng, nên ai cũng muốn kiếm được thật nhiều tiền. Thành công về mặt tiền bạc sẽ đưa bạn lên vị trí của người đi ban phát, điều này phản ánh ưu thế tâm lý của người cầm trịch một trò chơi.
Bernstein cho rằng, lý thuyết về “tâm lý không thích sự mất mát” (loss aversion), lý thuyết về “tài khoản tinh thần” (mental accounting) và những lý thuyết tài chính học khác hình thành trong suốt hơn 20 năm qua đều giúp ngành đầu tư giá trị giành được sự tín nhiệm của các nhà đầu tư.
“Các khái niệm nêu trên được ứng dụng trực tiếp trong lĩnh vực đầu tư giá trị. Khi tìm hiểu hướng đi của thị trường, nhà đầu tư thường chỉ có một suy nghĩ đơn thuần là làm sao để có được những cổ phiếu “cho cảm giác dễ chịu”, và rất thờ ơ đối với những “cổ phiếu tạo cảm giác khó chịu”, và thế là họ thường mắc sai lầm lớn khi định giá giá trị. Nếu bạn hiểu những điều này, bạn sẽ trở thành nhà đầu tư giá trị thành công”.
Quan điểm về rủi ro trong sách lược đầu tư từ cuối thế kỷ 20 đến thế kỷ 21, theo Bernstein rất đơn giản: Nếu không có lãi thì không nên mạo hiểm. Nhiều nhà đầu tư nghĩ rằng, đưa cho họ một lời cảnh báo không bằng cho họ biết cổ phiếu nào sẽ tăng phi mã. Nhưng, những nhà đầu tư xem thường lời cảnh báo đều phải trả một cái giá rất đắt.
“Khi bạn quyết định làm một việc hàm chứa rủi ro, chắc hẳn phải có mục tiêu nào đó thu hút bạn, tuy nhiên mức độ rủi ro cần tương đương với lợi nhuận dự kiến thì mới ổn. Nếu bạn đến ngân hàng gửi tiền, đừng mong nhận được mức lãi suất 15% hàng năm trong suốt 30 năm sau đó. Nhưng nếu bạn đầu tư vào cổ phiếu của một công ty công nghệ cao quy mô nhỏ, thì tức là bạn đã làm một việc mạo hiểm. Công ty này rất có thể sẽ phá sản vào ngày mai, thêm nữa, bạn lại chẳng hiểu mấy về lĩnh vực khoa học công nghệ. Tóm lại, với kiểu đầu tư này, bạn chỉ nên sử dụng một phần vốn nhỏ, bởi vì bạn không nắm chắc phần thắng, một khi giá cổ phiếu trượt dốc, bạn sẽ trở tay không kịp”.
Cuộc thi sắc đẹp và quý ngài “thị trường”
Chúng ta có thể hình dung thị trường giống như một cái cân, dựa vào nó bạn có thể đong đếm lòng tin của nhà đầu tư. “Thị trường cổ phiếu không phải thứ gì đó trừu tượng, nó được hợp thành từ rất nhiều nhà đầu tư với những quyết sách của họ. Mỗi khi đưa ra quyết sách, giống như một lần bạn đặt cược, đối thủ của bạn là tất cả những nhà đầu tư khác”.
Dù là vô tình hay chủ động, tất cả các nhà đầu tư đều đã tham gia vào một cuộc thi, John Maynard Keynes từng ví nó như là cuộc thi sắc đẹp thịnh hành tại London vào thập niên 30 thế kỷ 20.
Bernstein giải thích rằng: “Tính chất phức tạp của cuộc thi này ở chỗ, đối thủ của nhà đầu tư này luôn luôn là những nhà đầu tư khác. Cũng giống như sự lựa chọn nêu trên. Có thể bạn đúng, vì cô gái bạn chọn quả thực rất đẹp, nhưng cũng có khả năng, năm nay, tất cả mọi người đều thích những cô gái tóc đỏ, hoặc vì một lý do nào đó, mọi người không đồng tình với lựa chọn của bạn”.
Nhà đầu tư thiên tài, Benjamin Graham đã dùng một hình ảnh để miêu tả sự biến đổi khôn lường của thị trường như sau: thị trường cổ phiếu giống như đang chung sống với một người mà người đó cứ liên tục thay đổi ý kiến của mình, và không bao giờ báo trước một tiếng.
Nếu bạn cẩn trọng và là một nhà kinh doanh sáng suốt, những phán đoán của bạn về giá trị những cổ phiếu bạn đang sở hữu liệu có bị ảnh hưởng bởi những “tin tức được thông báo hàng ngày” của “quý ngài thị trường”? Chắc chắn là không. Chỉ khi bạn thấy “ông ta” có lý, hoặc cảm thấy đây là một cơ hội thì bạn mới đón nhận gợi ý của “ông ta”, đúng không? Khi thị trường thông báo cho bạn một mức giá cao không ngờ, bạn sẽ mừng rỡ bán cổ phần cho “quý ông đó”. Khi thị trường báo giá quá thấp, bạn cũng sẽ vui vẻ mua vào cổ phần của “quý ông đó”. Còn những lúc khác, bạn hãy cứ kiên định phán đoán của mình, và trên cơ sở nắm bắt đầy đủ và toàn diện tình hình kinh doanh, tình trạng tài chính của công ty, để đưa ra lựa chọn chính xác.
“Khi bạn quyết định chấp nhận sự rủi ro nào đó, bạn cần xem xét “khả năng đổi hướng” của nó. Đây cũng chính là lý do vì sao thị trường cổ phiếu lại có vị trí quan trọng như vậy, vì nó có khả năng đổi hướng. Các quốc gia vừa mới chuyển sang thể chế kinh tế thị trường, thì việc làm đầu tiên là xây dựng thị trường cổ phiếu, cũng chính vì nguyên nhân này. Nếu khi mới bắt đầu, đã xây dựng nhà máy, đầu tư vào khoa học kỹ thuật công nghệ cao, vào việc khoan giếng dầu, những quyết sách này rất khó đổi hướng, chỉ cần mắc sai lầm sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng”.
“Thị trường cổ phiếu tạo ra cho bạn cơ hội thay đổi quyết định sau khi hoàn thành một hạng mục đầu tư. Bởi vậy, mọi người mới đầu tư vào những danh mục mà khả năng đổi hướng cao. Tôi mua cổ phiếu của một công ty về công nghệ. Bản thân công ty không thể thay đổi quyết sách của mình, nhưng tôi thì có, chỉ cần tôi muốn, tôi có thể bán cổ phần của mình đi”. Vì thế, các nhà đầu tư không bao giờ trói mình vào một cái cây, khi một cổ phiếu nào đó quá nhiều rủi ro, không thể tiếp tục duy trì, họ sẽ bán tháo để tìm đến với những cổ phiếu tốt hơn.
Kỳ 9. Laszlo Birinyi, hãy để thị trường giúp chúng ta nhận định xu thế
Laszlo Birinyi là chủ tịch hội đồng quản trị công ty Birinyi Associates Inc. Năm 1994, Birinyi đã có tên trong W$W Hall Of Fame (Tòa nhà kỷ niệm những tên tuổi nổi tiếng của phố Wall). Năm 2004, Birinyi được trang mạng Smart Money bầu chọn là 1 trong số 30 chuyên gia phân tích thị trường có tầm ảnh hưởng hàng đầu thế giới.
Ông nói: “Tôi sẽ hỏi bản thân, thị trường sắp xảy ra điều gì, xu hướng và biến động của thị trường sẽ ra sao. Và tôi sẽ để thị trường trả lời những câu hỏi ấy. Tôi lưu ý đến những cổ phiếu được gửi đến bởi các chuyên gia phân tích dựa vào bảng biểu, đồng thời cũng quan tâm đến những cổ phiếu được đề nghị bởi các chuyên gia phân tích chuyên tâm tìm hiểu kỹ lưỡng các vấn đề của công ty cũng như bảng nợ của công ty.”
Dưới đây là cuộc đối thoại của Birinyi và Andrew W. Lo trong cuốn sách nổi tiếng “The Heretics Of Finance” (Đối thoại với các chuyên gia phân tích kỹ thuật hàng đầu) xuất bản năm 2009.
Andrew W. Lo (L): Có người nào hoặc điều gì đặc biệt đã gợi mở và dẫn dắt ông trong lĩnh vực phân tích kỹ thuật này?
Birinyi (B): Không ai cả và cũng không có điều gì. Và dù có đi nữa cũng không thể coi đó là sự gợi mở, dẫn dắt. Chỉ đơn giản là tôi thu thập tài liệu và lưu giữ chúng, rồi tiến hành so sánh, nghiên cứu và bóc tách. Tìm hiểu càng nhiều, điều tra càng nhiều, học hỏi càng nhiều, tôi càng cảm thấy thất vọng. Thật không ngờ công việc này lại hỗn tạp và nhạt nhẽo đến vậy.
Cảm hứng đối với công việc phân tích kỹ thuật của tôi xuất phát từ nỗi chán ghét của tôi. Ý tôi là phương pháp mà tôi phát hiện ra chẳng có tác dụng gì cả.
Có người từng viết một bài báo về lượng tuyết rơi ở Boston vào dịp Noel. Người này đã so sánh lượng tuyết rơi với sự vận hành của thị trường cổ phiếu một tuần sau đó. Rồi mọi người đột nhiên liên hệ thị trường cổ phiếu với mọi thứ diễn ra quanh mình. Khi thị trường theo chiều giá xuống (bear – market), người ta dõi mắt theo những dấu hiệu tiếp tục xuống giá của thị trường, và người ta cho rằng một chỉ tiêu nào đó cũng có thể phản ánh đặc trưng của thị trường giá xuống. Nhưng khi chỉ tiêu này thay đổi ngược lại, thì không ai vì thế mà từ bỏ lập trường đối với bear– market.
Điều đáng thất vọng thứ 2 là, khả năng ứng biến linh hoạt của các chuyên gia phân tích kỹ thuật. Dù thị trường có biến động thế nào, tôi vẫn đọc được tin tức về chứng khoán như sau: “Đúng như chúng tôi dự đoán, thị trường đã thế này thế kia…”. Nếu tôi chịu khó mở lại những dòng tin đã đăng trước đó, tôi có thể nói rằng: “Tôi chẳng thấy nội dung các anh đưa tin trong kỳ trước, trước nữa hay trước của trước nữa như các anh nói”.
L: Ông có thể giới thiệu một chút về phong cách phân tích kỹ thuật của ông?
B: Đầu tiên phải khẳng định rằng chúng tôi không kinh doanh. Tôi thấy phản cảm với công việc phân tích kỹ thuật không phải vì mọi người coi nghề này là một kỹ năng, mà vì các chuyên gia phân tích kỹ thuật họ không biết mình đang làm gì. Về căn bản, công việc mà họ làm chính là kinh doanh: Xuất hiện trên CNBC, phát biểu tung hô trên báo chí, diễn thuyết thuyết trình tại các hội nghị. Đây là căn bệnh của không ít các chuyên gia phân tích.
Họ cũng thường xuyên mắc sai lầm khi dự đoán. Đối với thị trường cổ phiếu, việc mà bạn có thể làm chỉ là chỉ ra một xu thế tất yếu nào đó của thị trường, giúp nhà đầu tư nhìn ra phương hướng căn bản. Có thể phát hiện ra xu thế của thị trường là điều không hề dễ dàng, và như thế đã là đủ rồi.
Phương pháp của tôi là tiến hành “mổ xẻ” thị trường để nghiên cứu. Tôi sẽ hỏi bản thân, thị trường sắp xảy ra điều gì, xu hướng và biến động của thị trường sẽ ra sao. Sau đó, tôi sẽ để thị trường trả lời những câu hỏi ấy. Đây là điểm khác biệt: để thị trường giúp tôi nhận định xu thế, từ những hỗn tạp xô bồ, tìm ra phương hướng có tình bền vững và có thể tạo ra cơ hội. Trên thực tế, trong số những thứ được gọi là “xu thế” mà có thể khiến người ta lóa mắt ấy, có đến 70%, 80% chỉ là những tạp âm ồn ào vô nghĩa.
L: Vậy ông “mổ xẻ” thị trường như thế nào?
B: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu các số liệu thu thập được trong lịch sử, và phải mất rất nhiều thời gian cho công việc này. Peter Drucker từng nói rằng, thất bại của các doanh nghiệp Mỹ là do họ không chịu tìm hiểu lịch sử. Điều này cũng rất phù hợp với thị trường cổ phiếu.
Khoảng giữa những năm 70 thế kỷ 20, chúng tôi bắt đầu thu thập những bài báo tóm lược các thông tin và sự kiện quan trọng, chúng tôi có được những trang báo từ tận năm 1962 . Điều đó giúp chúng tôi có được lượng kiến thức phong phú về không khí của thị trường, về những chủ đề bàn luận của mọi người và những quan điểm đánh giá chủ yếu của giới truyền thông. Thông qua việc tìm hiểu lịch sử, chúng tôi biết mình phải tìm kiếm điều gì và không nên tìm kiếm điều gì.
Đặc điểm lớn nhất của chúng tôi là công tác phân tích dòng chảy của đồng vốn. Mà cốt lõi của việc nghiên cứu dòng vốn là phải đọc và tìm hiểu diễn biến thị trường. Thị trường cổ phiếu tồn tại cơ chế khấu hao (discounting mechanism), hay nói cách khác là cơ chế phản ứng đón đầu, quan điểm này đã gây ra rất nhiều tranh cãi. Chúng tôi phát hiện thấy, khoảng 90% giá cổ phiếu tăng là do nhà đầu tư ồ ạt mua vào, và giảm là do nhà đầu tư ồ ạt bán ra. Nhưng trong số những cổ phiếu xuất hiện biến động lớn, có khoảng 10% là những cổ phiếu mà bạn đã nắm bắt được hướng biến động của nó trước khi thông tin bị rò rỉ bởi cánh truyền thông. Đây chính là điểm khác biệt của chúng tôi.
L: Đối với ông, bài học nào là sâu sắc nhất?
B: Có một sai lầm mà đến nay tôi vẫn khắc cốt ghi tâm. Năm 1979, tôi đề xuất ý tưởng đưa phân tích tình hình thị trường (ticker tape analysis) vào nội dung công việc của chúng tôi. Trong phiên bản đầu tiên, chúng tôi chỉ thấy những cổ phiếu giao dịch với số lượng lớn. Thông qua những giao dịch với số lượng lớn, chúng tôi quan sát xem cổ phiếu đó có phải đang “nhảy lên” (uptick: chỉ giá cổ phiếu trong giao dịch gần nhất cao hơn giá cổ phiếu trong giao dịch trước đó) hay đang “nhảy xuống” (downtick: chỉ giá cổ phiếu trong giao dịch gần nhất thấp hơn giá cổ phiếu trong giao dịch trước đó). Và thực tế đã chứng minh, chỉ tiêu này rất đáng để tham khảo. Về sau, chúng tôi nghĩ rằng, vì sao không mở rộng áp dụng khái niệm này cho mọi giao dịch (không nhất thiết phải là giao dịch lớn). Vậy là, chúng tôi lại đưa ra khái niệm “dòng vốn” (money flow).
Nhưng đến năm 1982, khả năng dự báo của chỉ tiêu này không còn được như trước nữa. Bắt đầu từ thập niên 80, hình thức giao dịch tại các sàn chứng khoán đã thay đổi. Việc định giá giao dịch rất tùy tiện, giá cả của mỗi giao dịch đều do các nhà đầu tư quyết định riêng rẽ. 100 cổ phiếu Ford tăng giá 10 cent, có thể coi là một mức giá mới. Dù vẫn còn hàng triệu cổ phiếu được lưu thông bên ngoài, nhưng nó vẫn là mức giá mới được hiển thị trên bảng điện tử của sàn giao dịch.
Khái niệm dòng vốn của chúng tôi đã không còn phát huy hiệu quả như trước nữa. Chúng tôi biết rằng phải phân tách khu vực thị trường bán lẻ và bán buôn. Và thế là chúng tôi bắt đầu tính toán các chỉ tiêu dòng vốn cho thị trường giao dịch khối lượng lớn và thị trường giao dịch khối lượng nhỏ.
L: Ông có học tập được phương pháp của người khác trong các giao dịch không?
B: Rất ít. Bởi vì phần lớn những chuyên gia phân tích kỹ thuật đều không đầu tư. Chúng tôi hiểu rõ điều đó khi làm việc tại Salomon Brothers. Mọi người đều nhất trí cho rằng các chuyên gia phân tích đã làm việc hết sức xuất sắc, họ giúp công ty kiếm được rất nhiều tiền, và họ rất hiếm khi mắc sai lầm. Công ty đề nghị họ bỏ ra một chút vốn để đầu tư dựa trên kết quả phân tích. Sau khi bỏ ra vài trăm USD, các chuyên gia này đã lỗ nặng. Điều này cho thấy, không phải kết quả thực nghiệm nào cũng có thể chuyển hóa thành những thành công trong thế giới hiện thực.
L: Thị trường như thế nào sẽ gây ra tổn thất nặng nề nhất?
B: Có lẽ là thị trường theo chiều giá xuống (bear-market), bởi vì khi ấy chúng ta rất dễ hoang mang. Với bear-market, dù bạn có làm đúng, khách hàng cũng không vui lòng. Như bao người khác, khách hàng rất muốn kiếm được nhiều tiền. Khi thị trường theo chiều giá xuống, nếu quá thận trọng, lượng tiền mặt còn lại quá lớn, khách hàng sẽ nói với bạn: “chúng tôi bỏ tiền ra không phải để anh làm thế này”. Vào giai đoạn gần cuối của thị trường bear-market, khi mọi người thúc giục bạn giúp họ tháo thân, bạn đành miễn cưỡng tìm kiếm các loại chỉ tiêu, nghĩ đủ mọi cách để kiếm tiền. Trong khi, nếu bình tĩnh, bạn sẽ thấy, đôi lúc, giữ tiền mặt trong tay không hẳn là lựa chọn sai lầm.
L: Ứng dụng phân tích kỹ thuật riêng rẽ thì hiệu quả hơn hay kết hợp với phân tích cơ bản thì hiệu quả hơn?
B: Theo tôi, sử dụng đơn lẻ một phương pháp cũng giống như chúng ta ra đòn bằng một tay, chẳng có tác dụng gì cả. Bằng cả hai tay, chúng ta mới tạo ra được âm thanh. Tôi lưu ý đến những cổ phiếu được gửi đến bởi các chuyên gia phân tích dựa vào bảng biểu, đồng thời cũng quan tâm đến những cổ phiếu được đề nghị bởi các chuyên gia phân tích chuyên tâm tìm hiểu kỹ lưỡng các vấn đề của công ty cũng như bảng nợ của công ty. Sau đó, trên cơ sở những ý kiến của họ, tôi tự nghiên cứu và đưa kết luận cuối cùng của bản thân.
Kỳ 10. Ian McAvity, không thể dự đoán chính xác xu hướng thị trường
Ian McAvity là một trong số những người tham gia sáng lập Quỹ trung ương và Quỹ tín thác đầu tư vàng Canada. Ông còn là người phát hành và biên tập những bức thư tin tức “Deliberations on World Markets”. Ông rất giỏi phân tích kỹ thuật (technical analysis: Nghiên cứu số cung và cầu chứng khoán và hàng hóa dựa trên các nghiên cứu về số lượng và giá cả.
Nhà phân tích dùng các biểu đồ hay chương trình vi tính để nhận dạng và đánh giá xu hướng thị trường tương lai. Hầu hết các phân tích được thực hiện là những phân tích ngắn và trung hạn, nhưng một vài nhà phân tích cũng tiên đoán các chu kỳ dài hạn dựa trên biểu đồ và các dữ kiện khác. Không giống nhà phân tích cơ bản, nhà phân tích kỹ thuật không quan tâm đến vị thế tài chính của công ty). Ian McAvity cho rằng: “Thị trường luôn luôn đúng. Thị trường khiến chúng ta mắc sai lầm, tìm ra giới hạn đau khổ của chúng ta. Mỗi lần chúng ta thay đổi ý định, đều không thoát khỏi cặp mắt của thị trường. Chúng ta cần rất nhiều năm tôi luyện mới vơi bớt sự bướng bỉnh và cố chấp”.
Chúng ta hãy theo dõi cuộc đối thoại của Ian McAvity và Andrew W. Lo trong cuốn sách nổi tiếng “The Heretics Of Finance” (Đối thoại với các chuyên gia phân tích kỹ thuật hàng đầu) xuất bản năm 2009.
Andrew W. Lo (L): Phải chăng những thứ mà ông học được đều bắt đầu từ khi ông áp dụng kết quả phân tích kỹ thuật vào thực tiễn chứ không phải những lý thuyết có trong sách vở?
Ian McAvity (M): Bản chất của nghiên cứu xu hướng là bạn phải không ngừng học hỏi, có như thế bạn mới nắm bắt được nó. Tôi nghiên cứu về xu hướng đã 38 năm, và vẫn không ngừng tìm tòi, học hỏi. Tổng kết thì thấy, mỗi xu hướng có những biểu hiện hoàn toàn khác nhau nhưng đều bao gồm 4 giai đoạn: chạm đáy, tăng mạnh, chạm đỉnh và trượt dốc. Tôi quan tâm đến tất cả các thông tin về phiên giao dịch đầu tiên, giá trần, giá sàn và phiên giao dịch cuối cùng. Nếu có ai đó muốn thảo luận với tôi một vấn đề mà bao gồm các công thức với những chữ cái Hy Lạp, tôi sẽ lập tức bịt tai lại. Về mặt này thì tôi quả là một kẻ phản học thuật.
L: Ông đã có được bài học đắt giá nào?
M: Tôi luôn đặt ra một tiền đề, rồi quan sát những dự đoán của mình về thị trường trong một thời gian dài, để sau đó chứng kiến những bằng chứng ủng hộ tôi dần dần biến mất, điều này dường như đã trở thành một quy luật bất di bất dịch. Thị trường khiến tôi mắc sai lầm, tìm ra giới hạn đau khổ của tôi. Mỗi lần tôi thay đổi ý định, đều không thoát khỏi cặp mắt của thị trường. Phải mất rất nhiều năm tôi luyện mới vơi bớt sự bướng bỉnh và cố chấp đó.
L: Giả sử những trạng thái giá cả, chỉ tiêu, sách lược mà ông sử dụng đều đã quá quen thuộc với thị trường, vậy thì làm thế nào, vẫn những cách thức cũ, vẫn những công cụ không hề mới ông lại có thể gặt hái được thành tựu to lớn như vậy?
M: Đối tượng quan tâm chính của tôi là dự đoán và phân biệt sự biến đổi của các trạng thái xu hướng. Tôi chưa bao giờ gọi điện cho khách hàng, gợi ý để họ mua vào hoặc bán ra. Tôi lưu ý đến những thay đổi có tính tương quan. Ví dụ, tôi sẽ chú ý đến những cổ phiếu mà trong phiên giao dịch với số lượng nhỏ thì biểu hiện rất tốt, nhưng nếu là giao dịch với số lượng lớn thì lại rất yếu ớt. Tuy USD đang mất giá so với Euro, nhưng vẫn rất mạnh so với đồng yên Nhật, v.v….
Tôi còn quan tâm đến : 1. Biểu đồ. 2. Chỉ số trung bình động (MA). 3. Tỉ lệ VSMA (đối lập với chỉ số MA), biểu thị tỷ lệ phần trăm của giá cả trên giá trung bình động . Tỷ lệ VSMA giúp nhận biết mức độ dịch chuyển của giá cổ phiếu so với chỉ số MA.
L: Ông làm thế nào để cân bằng giữa việc nhận biết những tín hiệu có tính dự báo với việc nâng cao độ mẫn cảm với những tiếng ồn ngẫu nhiên?
M: Thị trường luôn thích thú với việc tạo ra rất nhiều tiếng ồn, tạp âm, bởi vì thị trường không bao giờ muốn lặng sóng, để khiến người ca có cảm giác nó cởi mở và dễ gần. Nhưng bạn hầu như không thể xác định đâu là tiếng ồn ngẫu nhiên, và đâu không phải. Tôi là một nghệ sỹ, tôi chỉ có thể nói, mọi âm thanh đều có điểm khác biệt của nó. Bạn gán cho nó quá nhiều định nghĩa là không đúng với thực tế, là một sai lầm.
L: Sự tự tin vào khả năng dự đoán những biến động giá cả trong tương lai của công việc phân tích kỹ thuật phải chăng đã giúp ông giải tỏa áp lực?
M: Dự đoán biến động của giá cổ phiếu trong tương lai? Tôi cho rằng chúng ta không thể nào dự đoán chính xác xu hướng thị trường. Có một câu nói rất xưa thế này: Đừng bao giờ đặt giá cả và thời gian cạnh nhau. Ý nghĩa của câu nói đó là, đừng bao giờ nói một ai: đây là mệnh giá cổ phiếu lúc 3 giờ chiều thứ 4 tuần sau. Tôi hoàn toàn không tin vào độ chính xác của những dự đoán kiểu này. Tôi chỉ có thể căn cứ vào những đặc trưng lũy kế để nhận biết một xu hướng có thể tiếp tục kéo dài mà thôi.
Tổng hợp : tamnhin.net
Chuyên gia về giá trị
1. Foster Friess
Foster Friess ra đời tại một thị trấn nhỏ phía Bắc bang Wisconsin, thích mặc quần bò, đội mũ bò, trông ông “bảnh” như một chàng cao bồi miền Tây trong quảng cáo thuốc lá Marlboro.
Foster từng là phóng viên của một tờ báo nơi ông ra đời, và trong thời gian làm việc tại tòa soạn, ông đã được huấn luyện khả năng thu thập thông tin siêu tốc. Tờ báo có tên gọi “Báo rao vặt Paylake”, Foster chủ yếu phụ trách mảng tin “hiếu hỉ” địa phương.
Ông từng có thời gian làm công việc hành chính tại cục tình báo quân sự, phụ trách điều tra mức độ trung thành của các nhân viên mật. Nhờ vậy, ông đã hình thành cho mình đôi mắt sắc sảo và nhạy bén, vốn là điều kiện tiên quyết của một nhà đầu tư tài năng.
Hiện nay, ông cùng vợ dành trọn tâm huyết cho quỹ hỗ tương Brandywine do hai người đồng sáng lập năm 1992. Lợi nhuận thu được từ công việc kinh doanh này, ông dành phần lớn cho công tác từ thiện.
2. Philip Carret
Philip Carret sinh ra tại thành phố Lynn, bang Massachusetts, cách Boston 10 dặm về phía Bắc.
Hoàn thành khóa học chuyên ngành 4 năm tại đại học Harvard danh tiếng (tốt nghiệp năm 1917), và một năm chuyên tu tại học viện thương mại, khi ấy đang là thời gian của Thế chiến thứ I, Carret gia nhập quân đoàn thông tin lục quân Mỹ, ban không vận hàng không.
Sau khi ra quân vào năm 1919, ông làm việc cho một công ty ở Boston, nhưng vì cảm thấy quy mô công ty quá nhỏ, không có không gian phát triển, ông xin thôi việc.
Carret quyết định “chu du” nước Mỹ. Tháng 11 năm 1920, ông tìm được một công việc kinh doanh trái phiếu ở Seattle, cũng tại đó ông gặp người bạn đời của mình.
Họ đã cùng nhau trở về Boston. Carret gia nhập tạp chí “Tuần san Barron”. Ông làm việc tại tạp chí này đến năm 1927 thì rời đến New York kiến tạo sự nghiệp của riêng mình. Sau đó, ông đã làm việc tại Brush Industries Inc..
Ông đã quan sát tất cả 11 lần nhật thực trong mấy năm gần đây. Để có thể chiêm ngưỡng cảnh tượng ấy, dù phải đi bao xa ông cũng không nề hà, thậm chí ông đã có lần ngắm nhật thực trên sông Amazon. Ngoài thú tiêu khiển ít tiêu tốn thời gian đó, ông thừa nhận mình không hề hứng thú với các hoạt động dã ngoại.
3. Ralp Wanger
Wanger có chiều cao khiêm tốn, khuôn mặt tròn, thích bông đùa, lúc nào trên khuôn mặt ông cũng có biểu cảm của sự hài hước, tuy nhiên vào những thời điểm quan trọng, khuôn mặt đó hết sức lạnh lùng, nghiêm nghị.
Wanger sinh ra tại Chicago, tốt nghiệp cử nhân, lấy bằng thạc sỹ chuyên ngành quản trị doanh nghiệp tại Học viện công nghệ Massachusetts. Theo Wanger, quản lý không phải là một khoa học, trái lại, nó được xây dựng trên nền tảng những tri thức về tâm lý học và một phẩm cách tốt đẹp.
4. George Michaelis
Khi còn là một cậu bé, mọi người đều nhận định Michaelis sẽ trở thành họa sỹ. Nhưng trong thời gian đi học, ông nhận thấy mình có tư chất toán học. Khi ý thức được rằng, vẽ tranh kiếm sống không hề dễ dàng, ông đã từ bỏ ý định làm họa sỹ. Từ năm 1954 đến năm 1957, ông theo học chuyên ngành kỹ thuật tại phân viện của Đại học California ở Los Angeles. Năm 1958, sau khi kết thúc 1 học kỳ tại phân viện Berkeley của đại học California, ông chuyển đến học tại học viện thương mại Harvard, và tốt nghiệp năm 1960. Ông luôn cảm thấy mình chưa học đủ, bởi vì ông đặc biệt coi trọng toán học và kỹ thuật.
Năm 1971, Michaelis gia nhập quỹ Source Capital, một kiểu quỹ đóng có cổ phiếu niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán New York. Năm 1977, ông trở thành giám đốc điều hành Quỹ và công ty mẹ First Pacific Advisors.
Ông đã quản lý rất thành công. Theo bảng thống kê mùa hè năm 1988, trong vòng 15 năm, doanh thu của Quỹ tăng gấp 3 lần chỉ số Standard & Poor’s 500 Index, đạt 1200%, trong khi S&P 500 Index chỉ tăng 400%. Trong suốt thời gian Michaelis giữ chức chủ tịch hội đồng quản trị (từ 1977 đến 1987), Source Capital luôn đứng đầu bảng xếp hạng các Quỹ đóng kinh doanh thành công nhất.
Chuyên gia sách lược
5. Michael Steinhardt
Steinhardt sinh ra tại khu Brooklyn thuộc New York, cha ông là một nhà buôn đá quý. Năm Steinhardt 1 tuổi, cha mẹ ông ly dị. Theo luật lệ của người Do Thái, người cha không cho ông tiền mặt, mà trao cho ông 100 cổ phiếu của Tập đoàn Penn-Dixie Cement Corporation và 100 cổ phiếu của Công ty hệ thống khí đốt The Columbia Gas Systems, Inc.
Với trí tuệ vượt trội, Steinhardt đã tốt nghiệp cấp 3 khi mới 16 tuổi. Ông thi đỗ phân viện tài chính Wharton thuộc đại học Pennsylvania và lấy bằng cử nhân năm 19 tuổi.
Sau đó ông tham gia đội dự bị lục quân Mỹ. Giải ngũ, ông làm phóng viên cho tạp chí “Thế giới tài chính”, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, ông thôi việc.
Ngày 10 tháng 7 năm 1967, cùng với Fine và Berkowitz, Steinhardt thành lập một công ty với số vốn khởi điểm là 7,7 triệu USD. Trong năm đầu tiên kinh doanh, công ty đã hoàn vốn 33%, năm thứ hai đạt 84%.
6. Barr Rosenberg
Barr Rosenberg đã trải qua rất nhiều nghề trong cuộc đời của mình. Ông từng tham gia đóng du thuyền, làm giáo viên, đề xướng phá bỏ những quy định lỗi thời. Ông là nhà kinh tế học, toán học, triết học, y học, là chuyên gia phân tích chứng khoán, là chuyên gia tài chính lỗi lạc, ông cũng gặt hái được rất nhiều thành công trong lĩnh vực kinh doanh và thị trường. Ông còn là một tín đồ Phật giáo tài ba.
Từ nhỏ Barr đã thể hiện trí tuệ thiên bẩm, và đặc biệt chú trọng đến các tiểu tiết. Tính cách đó giúp Barr phát triển tài năng trên rất nhiều lĩnh vực. Cha ông – Marvin Rosenberg là một nhà nghiên cứu Shakespeare nổi tiếng.
Những năm 70 thế kỷ 19, ông đã ứng dụng lý thuyết rủi ro từ tháp Ivory vào thực tiễn đầu tư. Ông thành lập công ty đầu tư đầu tiên của riêng mình với tên gọi Barr Rosenberg & Associates, viết tắt BARRA. Thực ra, tài chính không phải là lựa chọn nghề nghiệp lúc đầu của Barr.
Barr lấy bằng thạc sỹ tại học viện kinh tế London, định hướng chuyên ngành của ông là xây dựng mô hình số hóa cho nghiên cứu xã hội học. Thời gian đó, ông đã tìm đọc rất nhiều tác phẩm học thuật nổi tiếng về mô hình hành vi chính trị và mô hình tác động qua lại của xã hội. Ông theo học tiến sỹ tại đại học Harvard, chủ yếu nghiên cứu về mô hình rủi ro và hành vi quyết sách của con người khi phải đối mặt với rủi ro.
7. Gary Brinson
Brinson thi đỗ đại học năm 1966, sau khi lấy được bằng thạc sỹ, ông mở trường tại Washington và giảng dạy chuyên ngành tài chính kinh tế.
Năm 1970, ông nhận lời mời đến làm việc tại công ty The Travelers Insurance Co. Sau khi cân nhắc, ông quyết định tạm gác lại kế hoạch thi tiếp vào đại học Stanford, để gia nhập công ty bảo hiểm với nghiệp vụ đa dạng và quy mô đầu tư ngày một mở rộng này, bắt đầu con đường tìm tòi và tích lũy kinh nghiệm thực tiễn.
Brison luôn ấp ủ hoài bão thành lập một công ty đầu tư quy mô toàn cầu của riêng mình, và cuối cùng thì năm 1981, ông đã rời công ty bảo hiểm để thực hiện hoài bão đó.
Năm 1995, ông được tạp chí “Fortune” tôn vinh là “cha đẻ của chiến lược phân bổ tài sản toàn cầu”.
8. Peter Lewyn Bernstein
Mùa thu năm 1936, Bernstein thi đỗ vào đại học Harvard. Sau khi tốt nghiệp, ông lần lượt làm việc tại Ngân hàng dự trữ liên bang New York, OSS, Học viện Williams, Ngân hàng liên hợp New York (đầu tiên ông quản lý nhóm đầu tư trái phiếu, sau chuyển sang phụ trách quản lý ngoại hối).
Ông còn có một thời gian làm việc tại công ty quản lý tài chính kiểu cũ của cha mình, rồi mới thành lập công ty quản lý đầu tư của riêng ông.
Năm 1965, cuốn sách “A Primer on Money, Banking and Gold” của ông được xuất bản bởi Random House đã nhận được sự chào đón nồng nhiệt với lượng tiêu thụ hàng trăm ngàn cuốn trong ngày đầu ra mắt. Cho đến nay, nó đã trở thành giáo trình cơ bản được sử dụng trong rất nhiều trường đại học kinh tế.
Năm 1973, ông cùng vợ đứng tên thành lập công ty tư vấn đầu tư mới, chuyên cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư cao cấp cho các quỹ tiền tệ quy mô lớn, các nhà quản lý đầu tư và các quỹ tín thác cá nhân.
Năm 1974, ông sáng lập “Tuần san quản lý tổ hợp đầu tư ”. Năm 1997, ông là người thứ 4 đoạt giải thưởng “Biểu hiện chuyên nghiệp trác việt”. Đây là giải thưởng danh giá nhất dành cho các chuyên gia phân tích chứng khoán và nhà quản lý tổ hợp đầu tư do Hiệp hội quản lý và nghiên cứu đầu tư của Mỹ trao tặng.
Chuyên gia phân tích
9. Laszlo Birinyi
Năm 1976, Laszlo Birinyi gia nhập Salomon Brothers, bắt đầu sự nghiệp với công việc của một giao dịch viên chứng khoán. Trong thời gian làm việc tại đây, Birinyi đã xây dựng chỉ số quốc tế Salomon Russell International Index, và xuất bản sách “The Equity Desk” (Hỏi đáp về cổ phiếu). Cuốn sách này từng là giáo trình đào tạo nhân viên tại Salomon Brothers nhiều năm. Birinyi còn chấp bút cho tuần san cổ phiếu “Stock Week” của công ty với những bài viết đánh giá về thị trường cổ phiếu hàng tuần. Ngoài ra, ông còn phụ trách nghiên cứu các chuyên đề về sự biến động của thị trường, về vốn lưu động, giá gốc giao dịch,…
Năm 1974, công ty Mitchell Hutchins Inc của Birinyi cho ra đời khái niệm lịch giao dịch “Trading calendar”. Năm 1989, Birinyi từ bỏ chức vụ quản lý bộ phận tại Salomon Brothers, thành lập công ty Birinyi Associates Inc chuyên quản lý và nghiên cứu về vốn.
10. Ian McAvity
Ian McAvity là một trong số những người tham gia sáng lập Quỹ trung ương và Quỹ tín thác đầu tư vàng Canada. Ông còn là người phát hành và biên tập những bức thư tin tức “Deliberations on World Markets”. Ông rất giỏi phân tích. Ông cho rằng: “Thị trường luôn luôn đúng. Thị trường khiến chúng ta mắc sai lầm, tìm ra giới hạn đau khổ của chúng ta. Mỗi lần chúng ta thay đổi ý định, đều không thoát khỏi cặp mắt của thị trường. Chúng ta cần rất nhiều năm tôi luyện mới vơi bớt sự bướng bỉnh và cố chấp”.
Kỳ 1. Foster Friess, "Con ong" làm mật nhưng lại... biết bay
Ông là nhà quản lý đầu tư của quỹ giải thưởng Nobel, là một chuyên gia về đầu tư cổ phiếu. Foster Friess được đánh giá cao bởi ông có được “biệt nhãn”, ông chọn ra được những cổ phiếu tiềm năng, và luôn đi trước một bước so với các nhà đầu tư khác, chờ khi mọi người ồ ạt mua vào, ông mới tung cổ phiếu ra với giá cao.
Foster Friess đã thua sạch khi chơi cổ phiếu, nhưng ông lại gây dựng nên sự nghiệp của mình từ lĩnh vực đó. Khi ấy ông mới 19 tuổi và đang là sinh viên năm thứ 2.
Năm 1974, Friess mở một công ty đầu tư, Quỹ giải thưởng Nobel trở thành khách hàng đầu tiên của Friess Associates. Quỹ Brandywine do công ty của Friess quản lý đã gặt hái được những thành công khiến người ta không thể tin nổi.
Từ khi thành lập vào năm 1985 đến ngày 30 tháng 11 năm 1997, lãi suất doanh thu của Brandywine Fund đạt 710,2% (lãi suất bình quân hàng năm là 19,2%) vượt xa S&P 500 Index chỉ với 544,3% (lãi suất bình quân hàng năm 16,9%). Nếu tính bằng USD, thì khoảng cách lợi nhuận của hai công ty này vượt qua mức vốn gốc 1,5 lần.
Nguyên tắc đầu tư
Nguyên tắc đầu tư của Friess có 3 nội dung chính: 1. Không đầu tư vào bản thân cổ phiếu mà đầu tư vào công ty. 2. Khi đã nắm trong tay một cổ phiếu, không bận tâm về những biểu hiện của nó trong quá khứ, mà chỉ quan tâm đến tiềm năng phát triển của nó trong tương lai. 3. Nếu xuất hiện cổ phiếu mà tốc độ tăng giá lớn hơn nhiều lần so với cổ phiếu bạn đang nắm giữ, đừng chần chừ, hãy bán hết cổ phiếu số cổ phiếu đó đi và mua vào cổ phiếu giàu tiềm năng kia.
Tháng 2 năm 1997, trong cuốn “Money”, ông đã tổng kết sách lược đầu tư của bản thân như sau: “Chúng tôi luôn tìm kiếm những công ty mà không lâu sau đó trở thành điểm hẹn của tất cả các nhà đầu tư. ” Vậy họ tìm kiếm những công ty tiềm năng đó như thế nào? Công ty Friess gồm một đội ngũ những nhân viên chuyên nghiệp sành sỏi, họ dồn sự tập trung vào những cổ phiếu mà giá cả và lợi nhuận không ngừng đột phá, sau đó đi sâu nghiên cứu tìm hiểu, đánh giá cổ phiếu đó.
Tìm kiếm đột phá
“Đội ngũ điều tra của chúng tôi theo dõi sát sao các công ty đã lên sàn có giá cổ phiếu và doanh thu đột phá. Chúng tôi đọc chuyên mục thị trường cổ phiếu và xem xét kỹ lưỡng báo cáo tài chính hàng ngày trên Nhật báo phố Wall. Và đặt ra các câu hỏi: Cổ phiếu của công ty nào tăng giá mạnh? Vì sao? Doanh thu của công ty nào vượt kỷ lục? Vì sao?”
“Nếu công ty nào có báo cáo kinh doanh tốt, lượng tiêu thụ tăng 25%, mức lãi suất tăng 30%, chúng tôi sẽ gọi điện đến công ty tìm hiểu nguyên nhân: động lực thúc đẩy tăng lãi suất là gì? Có phải do xây dựng nhà máy mới không? Có phải do tung ra sản phẩm không? Có phải do áp dụng phương thức quản lý mới không? Nội bộ công ty có sự thay đổi? Hay do những nhân tố khách quan bên ngoài tác động đến như: tỷ giá hối đoái biến động, lãi suất biến động, giá cả biến động? Tìm hiểu càng sâu tình hình nội bộ của công ty, cơ hội kiếm tiền của chúng tôi càng lớn. Bởi vì, các nhà đầu tư khác cũng đã bỏ công nghiên cứu và phân tích chán chê những nhân tố ảnh hưởng vĩ mô rồi.”
“Đôi lúc, chúng tôi phải mất rất nhiều chất xám để có được thông tin, thậm chí bị người ta nghi ngờ rằng có ý đồ xấu. Một lần, chúng tôi bán ra một loại cổ phiếu, và lần đó thật xuất sắc, bởi vì, ngay sau khi chúng tôi bán hết số cổ phiếu của mình thì giá cổ phiếu ngay lập tức trượt dốc.”
Do đó, thông tin là vô cùng quan trọng. Mà thông tin có được từ việc chúng ta dành ra thời gian đến các cửa hàng tìm hiểu tình hình tiêu thụ sản phẩm. Phương pháp điều tra đầu tư này, theo Friess, gọi là “điều tra đầu tư ngược.”
Không cầu toàn
Muốn đầu tư lâu dài, bạn phải có sự chuẩn bị hết sức xuất sắc, nhưng không phải vẹn toàn 100% . Friess cho rằng, hai điều này rất khác nhau.
Ông nói: “Người theo chủ nghĩa hoàn mỹ rất ghét xảy ra sự cố, rất ghét mắc sai lầm, họ sẽ loại bỏ triệt để mọi sai lầm. Nhưng người làm việc xuất sắc lại là người có thể chấp nhận sai lầm, rút ra bài học, từ đó thay đổi tình thế. Mỗi khi mắc sai lầm, chúng ta hãy xem đó là một cơ hội để thay đổi, để rồi sau đó chúng ta sẽ làm tốt hơn.”
“Mục tiêu của chúng tôi là: nỗ lực tối đa để có được sự phán đoán chính xác, chứ không phải nỗ lực để không bao giờ sai lầm. Đối với lĩnh vực cổ phiếu, chỉ cần bạn phán đoán chính xác cho 60% hạng mục đầu tư, và chỉ có 40% cổ phiếu bạn lựa chọn bị mất giá là bạn đã có thể kiếm được một khoản lớn rồi. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, 5 loại cổ phiếu kiếm lời nhiều nhất đã có thể hoàn toàn bù đắp cho những tổn thất của tất cả các cổ phiếu khác cộng lại. ” Dù vậy, những thất bại trong quá khứ vẫn luôn là hồi ức u buồn chẳng thể nào tẩy xóa được.
Quý I năm 1997, Quỹ Brandywine có 6 lần đầu tư thất bại nặng nề, gây thiệt hại 136 triệu USD.
Quan sát những biến động tiềm ẩn
Ngoài việc tiến hành những điều tra nghiêm túc và hết sức tỉ mỉ, đầu tư thành công lâu dài còn đòi hỏi nhà đầu tư phải có đôi mắt sắc bén bản năng giúp phán đoán chính xác những diễn biến tiếp theo của thị trường, và mức độ tác động của những diễn biến đó đến công ty.
“Mỗi khi doanh nghiệp có biến động và biến động đó ảnh hưởng đến nhận định của nhà đầu tư về doanh nghiệp thì đó chính là lúc cơ hội mà thị trường mang lại. Sẽ có những biến động gì? Công ty nào sẽ bứt phá và cùng với đà vươn của mình góp phần thúc đẩy thị trường? Chúng tôi thích được xem là nhà trinh thám nhạy bén trước mọi diễn biến dù là nhỏ nhất của thị trường, hơn là cách mà mọi người vẫn thường gọi chúng tôi: những chuyên gia phân tích chứng khoán”.
Đầu tư là một bài kiểm tra trí tuệ. “Bạn phải nỗ lực tối đa trong việc tập hợp mọi thông tin về thị trường và số liệu tài chính, rồi phân tích và phán đoán xem một nhóm người nào đó có thể lãnh đạo, tổ chức hay lập nên một doanh nghiệp mới hay không, có thể cho ra đời một sản phẩm mới hay không?”
Phương pháp tư duy này đôi lúc còn giúp chúng ta phát triển khả năng khai thác những cái mới. Nhiều năm trước, Louis Pasteur từng nói rằng, cơ hội chỉ đến với những bộ óc đã có sự chuẩn bị sẵn sàng. Hoạt động của ngành đầu tư hiện nay đã chứng minh điều đó.
Chính nhờ sự nhạy bén trước những biến động của thị trường, Friess Associates mới lựa chọn một công ty không hề có tiếng tăm khi đó, nhưng sau này đã trở thành hãng bán buôn điện thoại lớn nhất thế giới. Các nhãn hiệu điện thoại mà công ty này tiêu thụ đều là sản phẩm của các hãng lớn như Nokia, Ericsson, Motorola và NEC.
Tháng 1 năm 1997, Friess Associates quyết định mua cổ phiếu của công ty này, khi đó, mỗi cổ phiếu có giá bình quân 14 USD, đến tháng 9 cùng năm, đã lên 50 USD, tăng 227%.
Bán cổ phiếu “nóng”
Về phương diện nắm bắt thời cơ “xuất chiêu”, quan điểm của Friess là: “hãy bán ra khi sức hấp dẫn của cổ phiếu bạn đang năm giữ đủ lớn. Chúng tôi bán ra những cổ phiếu tốt. Theo “lý thuyết đào thải” của chúng tôi, nếu những cổ phiếu chúng tôi bán ra đều là cổ phiếu xấu, điều đó có nghĩa là chúng tôi đã không tìm được cổ phiếu nào tốt hơn. ”
Tài năng thiên bẩm trong lĩnh vực mua bán cổ phiếu của Friess khiến đối thủ của ông cũng phải nể phục. Chỉ trong thời gian vài tháng, ông đã có thể kiếm được khoản lợi nhuận khổng lồ từ chứng khoán. Rất nhiều nhà đầu tư chứng khoán, gồm cả những nhà đầu tư chuyên nghiệp đều cảm thấy kém cỏi so với Foster Friess.
Các nhà quan sát ví Friess như một “chú ong làm mật”, những tưởng nó sẽ không bay, nhưng đột nhiên nó bay lên rất cao. Friess phát biểu về lối ví von đó như sau: “May thay có rất nhiều công ty không ngừng tung ra thị trường những sản phẩm mới, thứ mật ngọt mà tôi tạo ra đều chắt lấy từ đó.”
Kỳ 2. Philip Carret, ông già trăm tuổi thích những cổ phiếu “ế khách”
Philip Carret không hổ danh là nhà đầu tư giàu kinh nghiệm nhất. Ông bước chân vào lĩnh vực đầu tư từ những năm 20 thế kỷ 20, và đã “chinh chiến” trên thị trường tài chính suốt 67 năm.
Nguyên tắc đầu tư của Philip Carret được tổng kết trong 12 nội dung: 1. Nắm trong tay 10 cổ phiếu trở lên, và những cổ phiếu này rải đều trên 5 lĩnh vực khác nhau. 2. Tiến hành tổng kết đánh giá đối với mỗi loại chứng khoán theo chu kỳ 6 tháng 1 lần. 3. Bảo đảm chắc chắn rằng, chiếm hơn một nửa tổng tài sản là những cổ phiếu thu lời. 4. Khi phân tích cổ phiếu, lợi nhuận là nhân tố đánh giá sau cùng. 5. Xử lý triệt để hạng mục đầu tư thua lỗ, nhưng không vội vàng thanh lý hạng mục đầu tư sinh lời. 6. Không đầu tư quá 25% vốn vào cổ phiếu bạn chưa tìm hiểu kỹ. 7. Tránh xa cái gọi là “thông tin nội bộ”. 8. Tìm kiếm sự thực, chứ không phải trưng cầu ý kiến của người khác. 9. Không nên đánh giá cổ phiếu chỉ dựa trên những công thức cứng nhắc. 10. Vào thời điểm thị trường cổ phiếu hưng vượng, lãi suất không ngừng tăng cao, kinh tế phồn thịnh, hãy đầu tư ít nhất một nửa số vốn vào trái phiếu ngắn hạn. 11. Hạn chế tối đa vay tiền, chỉ vay khi thị trường u ám, lãi suất thấp, kinh tế không sáng sủa. 12. Sử dụng tỷ lệ vốn chia thích hợp đầu tư vào cổ phiếu dài hạn của các công ty có tiềm năng phát triển cao.
Philip Carret không hổ danh là nhà đầu tư giàu kinh nghiệm nhất. Ông bước chân vào lĩnh vực đầu tư từ những năm 20 thế kỷ 20, và đã “chinh chiến” trên thị trường tài chính suốt 67 năm.
Dù đã gần trăm tuổi, hàng ngày ông vẫn đều đặn đến văn phòng từ rất sớm. Ông cùng với hai người con trai, một cô cháu gái và một vài nhân viên quản lý quỹ đầu tư tư nhân trị giá hơn 225 triệu USD (Từ năm 1988 ông tuyển thêm một CEO).
Ở ông toát lên vẻ thông tuệ, sắc sảo và tinh thần luôn dồi dào. Một khuôn mặt đôn hậu, hiền từ, thường trực nụ cười thân thiện và cuốn hút.
Văn phòng của ông nằm trong khuôn viên tòa nhà được xây dựng theo phong cách cổ điển trên phố New York. Trên bức tường phía sau bàn làm việc của ông có treo tấm biển đề “Bàn làm việc của thiên tài luôn bừa bộn”.
Lãi kép 55 năm
Tháng 5 năm 1928, Carret thành lập Pioneer Fund. Khi ấy có khoảng 25 cổ đông, đều là người thân và bạn bè của ông. Carret lãnh đạo Quỹ này gần nửa thế kỷ, tận khi ông về hưu. Trong thời gian 55 năm, lãi kép mà Pioneer Fund thu được là 13%.
Điều này có nghĩa là, nếu có người đầu tư 10.000 USD vào Pioneer Fund từ khi Quỹ mới thành lập, và hàng năm tiếp tục tái đầu tư vào Quỹ khoản lãi suất thu được, thì đến khi Carret về hưu, người đó sẽ có được hơn 8 triệu USD (tất nhiên, vào những năm đầu thập niên 30 thế kỷ 20, khoản đầu tư này phải chịu mức tổn thất 50%). Ngày nay, lãi kép 13% không còn là con số đáng ngưỡng mộ, nhưng khi tỷ lệ lạm phát tương đối thấp, khoản lợi nhuận này cũng đã là rất khả quan. Duy trì được mức lãi suất kép dù không cao trong một thời gian dài cũng có thể coi là một kỳ tích.
Hiện công ty quản lý Pioneer Fund đã lên sàn, nhưng Carret chỉ sở hữu một phần nhỏ cổ phần của công ty. Ban đầu, Pioneer Fund chỉ do một mình Carret điều hành, sau đó, ông mua lại cả công ty mẹ và bán đi phần lớn cổ phần của công ty này.
Trong hội đồng cổ đông của Pioneer Fund từng có 3 ông lão tuổi 80 là: Philip Carret, Jerome Preston và Phil Cooley. Đã có lúc các cổ đông e ngại về tuổi tác của 3 người, nhưng Carret xóa bỏ những nghi ngại đó bằng sự tự tin mạnh mẽ: ông cho rằng, tuổi tác đem đến sự thông tuệ.
Sở thích đầu tư
“Tôi thích những cổ phiếu được giao dịch tại thị trường tự do. Song, tôi bảo thủ hơn rất nhiều người. Nhiều người lầm tưởng “bảo thủ” có nghĩa là tôi sẽ lựa chọn cổ phiếu của các hãng điện tử thông dụng hay IBM. Nhưng tôi lại chọn những cổ phiếu không hề “sốt” chút nào. Cổ phiếu tự do không dễ bị thao túng như cổ phiếu được giao dịch trên sàn chứng khoán ở New York, cũng không chịu ảnh hưởng bởi tâm lý đám đông.”
Về điểm này, Carret rất giống với ông trùm Waren Buffett. Hai người đều có tính cách khác thường. Họ tìm đến với những thứ chẳng ai muốn. Họ đều thích những cổ phiếu “ế khách” như cổ phiếu của các công ty cấp nước, công ty cầu đường, và cũng không bận tâm khi những cổ phiếu này bị thị trường thờ ơ trong thời gian dài. Điểm đặc biệt là, họ đều có sự kiên nhẫn cần thiết của một nhà đầu tư thành công. Nhiều năm qua, họ vẫn giữ liên hệ với nhau.
Carret đam mê những cổ phiếu không ngừng tăng trưởng, nhưng ông nói thêm rằng: “Nếu một công ty nào đó có lợi nhuận tăng liên tục trong 15 năm, thì rất có thể tình hình sẽ xấu đi vào năm tiếp theo”.
“Tôi hay đọc những bảng ghi nợ, thu thập rất nhiều báo cáo tài chính hàng năm của các công ty. Tôi không bỏ sót bất cứ thông tin nào trên các báo cáo. Nhưng nếu những số liệu trên báo cáo như tỉ suất tài sản nợ, tỉ suất tài sản lưu động quá thấp, tôi sẽ không đọc tiếp nữa, vì tôi không muốn nhìn thấy chữ “nợ”, và tôi đòi hỏi tỉ suất tài sản lưu động ít nhất phải lớn hơn 2. ”
Khi được hỏi: đối với giá trị thị trường và định mức tiêu thụ của một công ty, cá nhân ông đặt ra giới hạn thấp nhất là bao nhiêu, Carret trả lời rằng: “Tôi không có tiêu chuẩn cố định nào cả. Nhưng tôi thường có hứng thú với những công ty có hàng trăm hàng nghìn cổ đông, và có giá trị thị trường trên 50 triệu USD.”
“Tôi thích “sưu tầm” cổ phiếu của các công ty nhỏ và hơi “đặc biệt”. Tôi đang sở hữu cổ phiếu của một công ty cầu đường có tên gọi Virginia Natural Bridge Company. Đường cao tốc trên không nằm phía trên cầu, vì vậy nếu muốn nhìn ngắm những cây cầu bạn phải đi xuống thung lũng phía dưới và ngước nhìn lên. Toàn bộ diện tích đất bên dưới cầu đều thuộc sở hữu của công ty. Công ty này còn có một nhà hàng và một hãng xe du lịch. Mọi người thường đến đó và ở lại vài ngày. Sớm muộn nhà nước cũng sẽ bỏ tiền mua lại công ty với giá cao hơn giá thị trường rất nhiều lần. Và tôi yên tâm chờ đợi”.
Nhà quản lý của công ty
“Một tiêu chuẩn quan trọng khác là: tôi yêu cầu những nhà quản lý của công ty phải nắm giữ một ượng cổ phiếu tương đối. Tôi từng gửi thư trao đổi với chủ tịch hội đồng quản trị tập đoàn thạch cao quốc gia National Gypsum. Ông ấy sở hữu 20 ngàn cổ phiếu, nhưng đã bán sạch với giá mỗi cổ phiếu 20 USD. Ổng tổng giám đốc chỉ sở hữu 500 cổ phiếu của công ty, thế là tôi viết thư cho ông chủ tịch. Nhưng lá thư hồi đáp đã khiến tôi vô cùng kinh ngạc: “ông tổng giám đốc nắm giữ bao nhiêu cổ phiếu là việc của ông ấy, không ai có quyền can thiệp”. Tôi không đồng tình với quan điểm đó. Một vị lãnh đạo cấp cao ít nhất cũng phải đầu tư vào cổ phiếu của công ty mình khoản tiền lương của 1 năm làm việc. Nếu ông ta không có đủ lòng trung thành để làm việc đó, ông ta không xứng đáng trở thành nhà quản lý cao cấp của công ty. Vả lại, ngay bản thân họ còn chẳng thiết tha với cổ phiếu của công ty mình, thì tôi việc gì phải tha thiết với nó?”
Có thể coi đó là nguyên tắc quan trọng giúp công ty phát triển và tăng trưởng bền vững. Tuy nhiên, trải qua nhiều năm, các nguyên tắc thương mại sẽ có sự thay đổi. Carret đánh giá thế nào về điều này?
“Không, nguyên tắc là nguyên tắc, đi chệch khỏi những nguyên tắc thương mại này sẽ rất nguy hiểm. Số lượng những người đủ nhạy bén để có thể “mua nhanh bán gấp” rất ít. Tôi từng đọc một bản báo cáo nghiên cứu về “tuổi thọ trung bình” của các tài khoản đảm bảo khi giao dịch chứng khoán. “Tuổi thọ trung bình” của các tài khoản này chỉ 2, 3 năm. Đã từng có 1 khách hàng kiên trì 13 năm mới lỗ sạch tiền, vốn khởi điểm của anh ta là hàng triệu USD.”
Kỳ 3. Ralph Wanger, tìm kiếm những công ty quy mô nhỏ nhưng giàu tiềm năng
Bắt đầu sự nghiệp đầu tư tại công ty Harris Associates có trụ sở ở Chicago năm 1960,nhà quản lý kiêm chuyên gia phân tích chứng khoán Ralph Wanger tiết lộ lĩnh vực này mang lại lợi nhuận lớn mà lại “không quá vất vả”.
Triết lý đầu tư của Wanger gồm: tìm kiếm các công ty nhỏ giàu tiềm năng và xác định xu thế chủ đạo để mua vào cổ phiếu của các công ty sẽ kinh doanh có lãi.
Việc phát hiện ra công ty dầu khí Houston đối với Wanger cũng như đối với Quỹ Acorn là vô cùng quan trọng. Khi thị trường cổ phiểu sụp đổ vào những năm 1973 – 1974, giá cổ phiếu của Houston Oil vẫn duy trì ở mức cao do công ty này liên tiếp tìm ra những giếng dầu mới. Theo ông Wanger, Houston Oil đã cứu Acorn Fund khỏi nguy cơ phá sản. và "nếu không có cổ phiếu của Houston Oil, Acorn Fund sẽ không có ngày hôm nay.”
Thực chất, việc Wanger tìm kiếm các công ty nhỏ giàu tiềm năng là có cơ sở lý luận nhất định. Ông đã vận dụng thuyết “công ty nhỏ” do Giáo sư Rolf Banz (đại học Chicago) đề xuất năm 1978. Giáo sư Banz nhận thấy hiệu suất thu lời từ cổ phiếu của các công ty có giá trị thị trường thấp luôn vượt mức bình quân của thị trường, kể cả khi đã điều chỉnh mức độ rủi ro (rủi ro khi đầu tư vào các công ty nhỏ thường khá lớn).
Nhà đầu tư Wanger “thường mua vào cổ phiếu của những công ty nhỏ chưa phát huy hết tiềm lực kinh tế, chờ đến khi những công ty này không ngừng phát triển đầy đủ thì bán cổ phiếu. Những nhà đầu tư nhỏ lẻ thường bán tháo cổ phiếu, khi công ty chưa thực sự phát triển đến mức cao nhất, đồng thời mua vào cổ phiếu của các công ty đã phát triển ổn định.
Để có được thông tin tổng hợp, ông Wanger đã xây dựng một mạng lưới "tai mắt" ở khắp các vùng, miền, khu vực và quốc gia. Hàng năm ông đều gửi phong bì cho những nhân viên, những tổ chức chuyên cung cấp tin tức “tình báo” cho ông và ông phần thưởng dành cho họ là “phần thưởng hạng A”.
Tìm hiểu xu thế
Cuộc sống đang thay đổi từng ngày. Cách đây 20 năm, mọi người đều tay phải cầm một điểu xì gà, tay trái một ly Martini khi dự tiệc. Sáng dậy sớm, ra công viên chạy bộ gần như là hành động bất thường và những người ở tuổi trung niên không ai có thói quen này. Theo ông Wanger, người ta không thể biết cách sống của thế hệ tiếp theo sẽ biến đổi ra sao. Ông nói: "Nếu các bác sỹ hồi đó biết rằng tương lai sẽ như thế này, họ đã sớm chuyển từ chuyên về bệnh tim sang chuyên về y học thể thao rồi. Hiện nay ngày càng nhiều người cao tuổi bị đau lưng, mỏi gối, và họ muốn được điều trị. Như vậy, họ đã tạo ra cơ hội kiếm tiền cho nhiều người khác.”
Cùng với sự ra đời của máy vi tính, bản thân ngành đầu tư cũng có những thay đổi lớn lao. Nhà đầu tư Wanger tiên đoán: "Đến một ngày nào đó, chỉ cần bỏ ra 80 USD bạn đã có thể mua được phần mềm 'quản lý tổ hợp đầu tư' tại cửa hàng bán máy vi tính. Bạn có thể chuyển toàn bộ thông tin vào đó và tôi sẽ thất nghiệp. Chúng ta đang ở giữa của một cuộc cách mạng không liên tục phát triển.”
Quả bóng pha lê vỡ tan
Các nhà tiên tri dự đoán rằng trong những năm tới, sẽ có khoảng 20 phát minh quan trọng về lĩnh vực công nghệ ra đời. Trong đó bao gồm những phát minh hạ giá thành năng lượng trước năm 1985 như: tìm kiếm giếng dầu ngoài biển khơi, công nghệ năng lượng hạt nhân tiếp tục phát triển, ứng dụng nhiên liệu hóa thạch, nhiên liệu tổng hợp, năng lượng mặt trời sẽ được ¼ số hộ gia đình sử dụng.
Nhưng, trong số những dự đoán trên, chỉ có dự đoán về khai thác dầu mỏ trên biển trở thành hiện thực. Từ đó, Wanger rút ra bài học rằng rất khó dự đoán xu thế phát triển của khoa học công nghệ. Các chuyên gia đưa ra những dự đoán này đều là người có học vấn uyên thâm, nhưng phần lớn họ đều đã đoán sai. Điều đáng nói hơn là, họ không dự đoán được những biến động to lớn từ năm 1972 đến nay.
Nhà đầu tư Ralph Wanger khuyên nhủ: “Trong thế giới đang biến đổi từng ngày từng giờ này, một công ty có thể duy trì mức tăng trưởng ổn định trong suốt 20 hoặc 30 năm chưa hẳn đã là dấu hiệu đáng mừng: khả năng tồn tại những công ty như thế này rất thấp, bởi vì tình hình đã hoàn toàn thay đổi trong khoảng thời gian 20, 30 năm đó. Bất luận 30 năm trước bạn dựa vào điều gì để có được thành công, thì giờ đây những nhân tố đó đều không còn tác dụng nữa. Tôi cho rằng, tập trung đầu tư vào các công ty nhỏ, sẽ dễ dàng nắm bắt xu thế biến động tiếp theo hơn. Bạn cần đi trước xu thế, chứ không phải cứ lẽo đẽo bám theo nó”.
Thông tin ẩn và thông tin phóng đại
Trong quá trình tìm hiểu xu thế, nhà đầu tư vừa phải quan tâm đến những thông tin bề nổi, nhưng đồng thời cũng đừng bỏ qua những thông tin chìm vì đúng như tác giả tiểu thuyết Sherlock Holmes từng viết: “Chó sủa thường không cắn người, chó cắn người thường không sủa”.
Những tin tức giá trị thường không phải thông tin sốt dẻo và những thông tin phóng đại quá mức cũng có thể tạo ra cơ hội. Sự cố rò rỉ tại một trạm năng lượng hạt nhân hay một cơn lốc xoáy có thể thu hút sự quan tâm đặc biệt của phóng viên và dân chúng, mặc dù mức độ nguy hiểm của nó được phóng đại gấp bội so với thực tế.
Năm 1979, khi “phòng thí nghiệm vũ trụ” nổ tung trên tầng khí quyển, tất cả các hãng hàng không tại Mỹ đã hủy chuyến bay, nhưng vì hàng ngày vẫn có khoảng 130 người Mỹ chết vì tai nạn giao thông. Đối với người dân Mỹ, nguy cơ chết vì tai nạn xe cộ lớn hơn gấp hàng triệu lần nguy cơ "dính phải" mảnh vỡ của “phòng thí nghiệm vũ trụ” nói trên.
Từ đó, Wanger rút ra kết luận “hiệu ứng phòng thí nghiệm vũ trụ” cho thấy thị trường thường có khuynh hướng lo lắng quá mức đối với những rủi ro mà khả năng phát sinh cực thấp. Chính vì vậy những công ty ổn định có thể gặp đôi chút khó khăn, nhưng khả năng phát sinh rủi ro thấp lại có giá trị đầu tư nhất định.
Khi một công ty phải đối mặt với khó khăn, biên độ trượt giá cổ phiếu lớn hơn biên độ điều chỉnh cần thiết, phố Wall gọi hiện tượng này là “giá cổ phiểu mẫn cảm quá mức đối với các thông tin xấu”. Wanger nói "Khi thị trường tỏ ra bi quan quá mức đối với cổ phiếu của một công ty có tiềm năng do chịu tác động từ những thông tin thiếu căn cứ đã bị phóng đại, thì đó chính là lúc cơ hội kiếm tiền đến với bạn".
Tiêu chuẩn của một công ty tiềm năng
Tiêu chuẩn kiểm định một công ty tiềm năng của Wanger có 3 nội dung chính: tiềm lực tăng trưởng, tình hình tài chính và giá trị cơ bản và ông gọi đó là “kiềng ba chân”.
1. Tiềm lực tăng trưởng thể hiện ở 5 khía cạnh: 1, Thị trường ngày càng lớn đối với các sản phẩm của công ty. 2, Thiết kế mẫu mã sản phẩm tốt. 3, Sản xuất hiệu quả. 4, Lượng tiêu thụ hàng hóa lớn. 5, Tỷ lệ lãi suất hợp lý.
Tiếp đó, Wanger sẽ tìm đến những công ty được quản lý tốt. Cấp quản lý hiểu biết sâu sắc về lĩnh vực kinh doanh của công ty, nghiệp vụ quảng cáo sản phẩm và bán hàng xuất sắc, và có tinh thần hết lòng vì khách hàng. Ông thích những công ty mà nhà quản lý nắm giữ một lượng lớn cổ phiếu trong tay vì như vậy, lợi ích của các nhà quản lý công ty và cổ đông mới thống nhất.
2. Wanger muốn xác định chắc chắn tình hình tài chính vững vàng của một công ty: nợ thấp, nguồn vốn vận hành ổn định, bảng cân đối kế toán đẹp. Một bảng cân đối nợ ổn định là sự đảm bảo rằng trong quá trình tăng trưởng, tiền vốn của các cổ đông sẽ không bị thất thoát.
3. Cuối cùng, giá cổ phiếu phải có sức hấp dẫn. Wanger cho rằng, các tổ chức đầu tư thường đánh đồng công ty với cổ phiếu của công ty. Một công ty có tiềm năng, cổ phiếu của công ty đó chưa hẳn là một cổ phiếu “tiềm năng”, giá cổ phiếu của rất nhiều công ty đã được thị trường đẩy lên cao hơn giá trị thực tế.
Kỳ 4 Michael Steinhardt, sẵn sàng mạo hiểm .
Vì đòi hỏi lãi suất tài sản thuần cao và tỷ suất nợ thấp, Michaelis không chọn những công ty mới thành lập hoặc những công ty nhiều năm sau mới kinh doanh có lãi để đầu tư. Những công ty mà ông đầu tư đều là doanh nghiệp lâu năm với tốc độ tăng trưởng ổn định...
George Michaelis đã sửa đổi nguyên tắc đầu tư của Benjamin Graham là "mua vào những tài sản có giá thấp hơn giá trị thực tế" thành: tài sản và khả năng sinh lời của tài sản quan trọng ngang nhau, vì vậy, nên mua vào những cổ phiếu có chỉ số P/E (Price/Earnings Ratio: Hệ số giữa thị giá một cổ phiếu và thu nhập mà nó mang lại) thấp. Nếu thấy thích hợp, Michaelis sẽ đầu tư vào cổ phiếu của các công ty làm ăn có lãi với mức giá bằng hoặc cao hơn giá trị tài sản.
Michaelis phân tích rằng, cách đầu tư của ông không có gì khó hiểu. Những công ty được ông đánh giá tốt thường hội tụ những đặc điểm sau:
1. Là doanh nghiệp đạt lợi nhuận cao: lãi suất tài sản thuần và lãi suất tổng tài sản đều cao, đồng thời lãi suất tài sản thuần ở mức cao được duy trì lâu dài.
2. Tiềm năng sinh lời của công ty không chịu sự khống chế của chu kỳ kinh doanh.
3. Có thể xác định các nhân tố tạo nên sự thành công của công ty. Các công ty có lãi suất tài sản thuần ở mức 25%-30% đều rất lý tưởng. Nếu tìm được những công ty như vậy, Michaelis rất muốn tìm hiểu các nhân tố tác động. Sau khi tìm ra lí do thành công, ông sẽ tiếp tục đánh giá khả năng duy trì mức lãi suất cao đó của công ty. Khi tất cả đã hoàn toàn minh bạch, ông mới có đủ sự tin tưởng cần thiết để đầu tư.
Michaelis không thích những doanh nghiệp nợ nần. Các công ty mà ông đầu tư thường chỉ có tỷ suất nợ khoảng 15%, trong khi S&P 500 Index đưa ra mức bình quân là 25%. Các công ty thu lời cao thường ít mắc nợ, và nếu chịu nợ thì sẽ có xu hướng giảm nợ. Bởi vậy, các công ty này rất an toàn. Bên cạnh đó, nếu xuất hiện cơ hội đầu tư lý tưởng, các công ty có tiềm lực tài chính dồi dào thường có khả năng giành được cơ hội.
Vì đòi hỏi lãi suất tài sản thuần cao và tỷ suất nợ thấp, Michaelis không chọn những công ty mới thành lập hoặc những công ty nhiều năm sau mới kinh doanh có lãi để đầu tư. Những công ty mà ông đầu tư đều là doanh nghiệp lâu năm với tốc độ tăng trưởng ổn định.
“Khả năng làm cho đồng vốn sinh sôi là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực kinh doanh của một công ty. Ví dụ như Melville, chúng tôi đầu tư vào cổ phiếu của công ty này suốt từ những năm 1970. Bạn có thể tưởng tượng, với tổng tài sản 350 triệu USD, chỉ trong vòng 10 năm, công ty này có thể tạo ra khoản lãi 2 tỷ USD không? Melville đã làm được điều đó. Đạt thành tích xuất sắc như vậy là vì lĩnh vực kinh doanh của công ty này là lĩnh vực mà không phải doanh nghiệp nào cũng có thể bước chân vào được, vì thế, Melville gần như không có đối thủ cùng ngành.”
Duy trì tính lưu động cao của đồng vốn
Michaelis khảng khái cho biết ông không bao giờ đặt tiêu chí tối đa hóa lợi nhuận đầu tư lên hàng đầu, bởi vì năng lực chống chịu với rủi ro của ông có hạn. Ông luôn duy trì nguồn vốn lưu động ở hiệu suất cao: cung tiền mặt trong tổ hợp đầu tư của ông thấp nhất cũng phải 10%. Khi thị trường sụp đổ năm 1987, cung tiền mặt của ông là 20%, thời kỳ giữa năm 1988 là 18%. “Khi đầu tư, bạn phải nghĩ đến khả năng: rất có thể cổ phiếu sẽ xảy ra đợt lao dốc trăm năm có một. Khả năng này rất thấp, nhưng nếu nó thực sự xảy ra, việc đầu tiên bạn cần làm là tìm cách để tiếp tục tồn tại.”
Michaelis luôn cố gắng tối đa tránh né những tổn thất nghiêm trọng, bởi vậy ngay cả khi thị trường đang lên cơn sốt, ông cũng không thấy phiền khi lợi nhuận của công ty ông thấp hơn mức trung bình. Nhưng, Quỹ đầu tư do ông quản lý từ trước đến nay hoạt động hết sức ổn định, lợi nhuận của Quỹ kể từ năm 1973 đến năm 1988 chỉ có duy nhất 1 quý thấp hơn S&P 500 Index. Thậm chí, vào thời điểm quý 4 của năm 1987 “đáng sợ”, Quỹ của ông cũng chỉ giảm 13,5%, trong khi S&P 500 Index giảm 22,5%.
Ông không cho rằng bản thân là người có khả năng phản ứng nhanh nhạy. “Tôi biết thế, nhưng tôi thích làm theo cách của mình, vì như vậy tôi sẽ không phát hoảng trước những thất bại khó tránh khỏi.” Michaelis chưa từng mua cổ phiếu của những công ty đang phát triển, đang “sốt” nhưng nhiều biến động, thiếu sự ổn định.
Michaelis để mắt đến khoảng 300 công ty, nhưng ông chỉ quyết định mua khi giá cổ phiếu của những công ty này ở mức rất thấp. Ông luôn đặt ra các mức giá mục tiêu cho mỗi loại cổ phiếu. Khi giá cổ phiếu xuống dưới mức giá mục tiêu, ông sẽ mua vào, giá cổ phiếu càng xuống, ông mua vào càng nhiều. Ông không có tham vọng rằng, toàn bộ hoặc phần lớn cổ phiếu của mình được mua với giá thấp nhất, bởi vì rất có thể ông đã mua vào quá sớm. Nhưng ông mong rằng mình vẫn còn đủ tiền để mua vào khi giá cổ phiếu chạm đáy.
Chỉ cần giá cổ phiếu “sốt nhẹ” là ông sẽ bán ra. Cũng có đôi lúc ông thấy mình đã hơi vội vàng. Ông hình dung về bản thân như là một cầu thủ đánh bóng chày. Chỉ cần đánh tốt đến chốt thứ nhất, không nhất thiết phải theo đuổi chốt thứ 2 và thứ 3.
Đối với mỗi loại cổ phiếu, Michaelis thường lựa chọn phương thức mua vào từng đợt. “Muốn có được linh cảm về bước đi của cổ phiếu, bạn phải giữ nó một thời gian, không còn cách nào khác.”
Michaelis không đầu tư dựa trên những quan điểm, kiểu như: Nước Mỹ đang bị già hóa, vì vậy bạn nên đầu tư vào lĩnh vực sản xuất gậy chống….
Không “chê” trái phiếu rủi ro cao
Đối với trái phiếu, nếu phải lựa chọn giữa trái phiếu loại AA và loại AAA, ông sẽ không mua trái phiếu AA, vì lãi suất của loại trái phiếu này chỉ cao hơn trái phiếu AAA 30 điểm, không đáng để mua. Khi thị trường trái phiếu có biểu hiện tốt, ông sẽ mua vào trái phiếu chính phủ.
Ngoài ra, nếu giá cả hợp lý, Michaelis cũng không ngần ngại mua vào những trái phiếu có mức rủi ro cao. Theo ông, khi đầu tư vào cổ phiếu, chất lượng tài sản của công ty càng cao càng tốt, nhưng khi mua trái phiếu, ông lại thích thú với trái phiếu của những công ty đang có nguy cơ bị phá sản hơn.
Không tin vào các công cụ phái sinh
Michaelis không tin vào các công cụ tài chính khác đang tràn lan trên thị trường như: giao dịch kỳ hạn, quyền chọn, tự bảo hiểm, “bảo hiểm”….
Ông cho rằng, nhiều người đầu tư thất bại không phải do họ chưa đủ sáng suốt mà vì họ quá thông minh. Những nhà đầu tư linh hoạt thường bị hấp dẫn bởi những khái niệm vừa huyền bí sâu sắc vừa tao nhã, kiểu những công cụ phái sinh đầy phức tạp. Bởi vậy, họ không thể tập trung vào chân lý cơ bản, vào thực tế, mặc dù những chân lý, những thực tế này hết sức rõ ràng và dễ hiểu.
Ông lấy ví dụ: “ví dụ như trái phiếu phát hành được đảm bảo bằng tài sản thế chấp CMOs. Một ngân hàng có thể chia lợi nhuận thu được từ khoản vay thế chấp thành 3 dòng tiền độc lập: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, đồng thời phát hành trái phiếu bảo lãnh thế chấp với thời hạn tương ứng. Những nhà đầu tư mong muốn thu hồi vốn nhanh có thể mua trái phiếu bảo lãnh thế chấp thời hạn 5 năm. Những nhà đầu tư dài hạn có thể mua trái phiếu 25 năm. Sáng kiến này rất thông minh. Nhưng khi thị trường sụp đổ, việc định giá những trái phiếu này hết phức tạp, bạn sẽ làm thế nào để chiết khấu những dòng lãi thành giá trị hiện tại? Nếu áp dụng quyền ưu tiên thanh toán của khoản vay thế chấp, thì rất nhiều nhà đầu tư thậm chí còn chưa từng nghe nói về nó, và như thế, vấn đề sẽ càng trở nên phức tạp.”
Kỳ 5.Michael Steinhardt, sẵn sàng mạo hiểm
Nếu bạn đầu tư 10.000 USD vào Quỹ tự bảo hiểm thuộc công ty Steinhardt Partners do Steinhardt quản lý vào tháng 7 năm 1967 khi công ty vừa được thành lập, thì 20 năm sau bạn sẽ có 1 triệu USD. Nếu trừ đi khoản hoa hồng, lãi suất hàng năm của bạn là 27%.
Quỹ đầu tư do Michael Steinhardt quản lý đạt lợi nhuận cao suốt 20 năm, đó được xem như một kỳ tích trong lịch sử ngành đầu tư.
Nguyên tắc đầu tư của Steinhardt là: sẵn sàng mạo hiểm. Năm 1972, ông bán hết cổ phiếu đình đám, được đánh giá là “vestal virgins” tại thời điểm đó, gồm cổ phiếu của: Palaroid, Xerox, Avon,… Khi ấy, hệ số P/E của những cổ phiếu này tăng giá gấp 30-35 lần.
Nhà giao dịch của những sách lược
Có thể coi Steinhardt như là một nhà giao dịch với những sách lược. Đầu tiên, ông hình thành cho mình khái niệm tổng quát với những thông tin dạng như: yên Nhật tăng giá, lạm phát đang xấu đi, cổ phiếu dầu khí sắp tăng mạnh v.v... Sau đó, ông bắt tay tìm kiếm cổ phiếu. Vì đã trả một khoản hoa hồng, ông liên tục nhận được điện thoại từ phố Wall, người ta cung cấp cho ông những thông tin có lợi cho giao dịch. “Chúng tôi sẽ điều chỉnh thấp lãi suất dự tính trong quý sau của công ty điện khí thông dụng.” “Hoa kỳ nâng bậc tín nhiệm tín dụng của Brasil”. “Một số công ty có sức ảnh hưởng rất lớn đến thị trường Phố Wall, ở một mức độ nào đó, cách nghĩ của họ sẽ tác động đến hướng đi của thị trường.”
Khi chuyên gia phân tích chính của các công ty này có những nhận định mới, Steinhardt muốn mình là người nhận được cú điện thoại đầu tiên. Không phải vì quan điểm của các chuyên gia chắc chắn đúng, nhưng chỉ cần những người nhận điện thoại của Steinhardt ngay sau đó đồng tình với quan điểm của chuyên gia là đủ.
Đối với những nhà đầu tư giao dịch trong ngày như Steinhardt, những sự việc đang hoặc vừa mới diễn ra mới là hiện thực. Những sự việc phát sinh trong thời gian dài, nằm trong những báo cáo nghiên cứu trường kỳ về thị trường Phố Wall đều là sự việc của tương lai – thuộc về thế giới ảo.
Ông nói: “Tôi ngưỡng mộ những nhà đầu tư có thể giữ một cổ phiếu vài năm trời! Họ đủ kiên nhẫn để chờ đợi những điều có thể phải mất một thời gian rất dài mới xảy ra. Trên đời này, không có nhà đầu tư thành công nào ít gặp được cơ hội mà lãi suất từ các giao dịch đơn lẻ gấp 2 đến 3 lần hơn tôi. Tôi không đòi hỏi quá nhiều. Tuy nhiên, phần lớn lợi nhuận tôi kiếm được đều dựa vào các sản phẩm đầu tư kéo dài 1 năm trở lên.”
Nhưng, thành công của Steinhardt phần lớn nhờ vào những giao dịch trong ngày. Thậm chí ông đầu cơ cả hướng đi ngắn hạn của toàn bộ thị trường. Có lúc ông vay tiền làm lớn, cũng có lúc chỉ giữ vốn đầu cơ thuần.
Quỹ tự bảo hiểm đầu tiên của Steinhardt thuộc công ty Steinhardt Partners. Khi đã chắc chắn, Steinhardt sẽ tận dụng tối đa “chiếc đòn bẩy”. Một trong những ví dụ cho điều này là tại thời điểm cổ phiếu IBM chuẩn bị công phá vào năm 1983 đã nói ở trên. Một lần khác, vào năm 1981, Steinhardt tin chắc trái phiếu chính phủ trung hạn sẽ tăng giá mạnh. Ông đã dùng khoản tiền mặt 50 triệu USD của mình và vay thêm 200 triệu USD để mua vào trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 5 năm, với tổng trị giá 250 triệu USD. Sau đó, ông sốt ruột chờ đợi mức lãi suất sẽ hạ. (Khi đó, trên bảng nợ của Quỹ xuất hiện con số thâm hụt 1000 USD). Ông đã mất đi một vài khách hàng, nhưng cuối cùng ông đã thu về 250 triệu USD. Trong đó, Quỹ của ông chỉ bỏ ra 50 triệu USD đã kiếm được 40 triệu USD.
Kỹ xảo giao dịch
“Khi nhận được báo cáo của chuyên gia phân tích, tôi sẽ suy nghĩ trong 5 phút và đưa ra quyết định. Các chuyên gia thường cung cấp những tin dự báo như: doanh thu của công ty nào đó sẽ tăng trong quý tới, hay cấp quản lý của công ty nào đó có biến động nhân sự. Tôi nghiêng về cách “quản lý bị động” – tức là trao cho bộ phận phân tích thị trường phần lớn quyền quyết định. Nếu công việc không trôi chảy, tôi sẽ xem xét kỹ lưỡng hơn bản báo cáo phân tích. Vai trò của tôi giống như một tổng chủ huy, xác định tổng mức đầu tư và mức độ rủi ro cho phép.”
“Tôi tự nhận thấy trách nhiệm của mình là, tận dụng mọi phương thức có thể để thu được lợi nhuận cao nhất, chứ không phải cố gắng “nắn nót” tạo nên một phong cách đầu tư đặc biệt. Hàng ngày tôi vẫn tự hỏi mình, tỷ lệ lỗ-lãi đã đạt yêu cầu chưa? Tôi có khoảng 4, 5 nhân viên phụ trách liên hệ với 80-90 nhà môi giới chứng khoán, để chúng tôi sẽ có thể sử dụng tối đa thông tin từ phố Wall. Nếu chỉ thực hiện giao dịch dài hạn, tôi sẽ không gặt hái được thành công như ngày nay.”
Steinhardt cảnh báo những nhà đầu tư muốn mua cổ phiếu giá rẻ (những cổ phiếu giá rẻ chỉ có tính giai đoạn): những cổ phiếu đó có khả năng sẽ tiếp tục xuống giá. Nhà đầu tư cần phải tính đến các nhân tố khác như: hệ số P/E, xu thế phát triển ngành công nghiệp, vị trí của công ty trong bối cảnh cạnh tranh thị trường.
“Tôi lựa chọn sản phẩm đầu tư dài hạn dựa trên những triển vọng lâu dài. Nhưng, điều đó không có nghĩa tôi sẽ ôm khư khư khoản đầu tư đó cho đến một thời điểm cố định. Tôi hay nói với nhân viên của mình rằng, cần xây dựng những quyết sách đầu tư trên cơ sở lâu dài, dù cho hiện tượng mà bạn đặt cược có thể sẽ không xảy ra. Tôi thường đặt ra giả định: thị trường sẽ phản ứng ra sao đối với triển vọng lâu dài?”
Bán khống cổ phiếu
Steinhardt rất hài hước khi nói rằng, trên thực tế, nhiều người trong đó có ông, luôn phải điều chỉnh tâm lý khi bán khống cổ phiếu, để trấn áp suy nghĩ rằng bản thân đang đứng ở phía “đen tối”, đối lập với quốc gia, với gia đình và những giá trị truyền thống. Hơn nữa, không dễ dàng khi phải vượt qua những quan điểm kiểu như: bán khống sẽ phải chịu tổn thất vô cùng lớn, thậm chí có thể là 100%.
Nhưng, nguyên tắc đầu tư của Steinhardt là: sẵn sàng mạo hiểm. Năm 1972, ông đã bán hết cổ phiếu đình đám đang rất “hot” và được đánh giá là “vestal virgins” tại thời điểm đó, như cổ phiếu của: Palaroid, Xerox, Avon,… Khi ấy, hệ số P/E của những cổ phiếu này tăng 30-35 lần.
Nhưng, điều khiến ông chán nản là, những cổ phiếu này vẫn tiếp tục tăng giá, đỉnh điểm là khi hệ số P/E tăng 40-45 lần. Thậm chí, khi thị trường sụp đổ vào năm 1973, nó còn tăng giá nhanh hơn trước.
Cổ phiếu mà Steinhardt tâm đắc nhất là cổ phiếu của công ty King Resources. Trước khi công ty này bị phá sản, ông đã thu được khoản lợi nhuận gấp 7-8 lần vào năm 1968. “Chúng tôi là những kẻ đại ngốc vì đã ngây thơ tin lời họ. Tôi bán khống cổ phiếu này chỉ vì nó tăng giá quá nhanh.”
Steinhardt thường xuyên và rất khách quan trong việc đánh giá các quyết sách đầu tư của mình, ông kiểm tra các tổ hợp đầu tư của công ty nhiều lần mỗi ngày. Ông tập trung vào những hạng mục đầu tư có biểu hiện không tốt và tìm ra nguyên nhân. Có thể do quyết định sai lầm, có thể do hiện tượng khách quan, nhưng ông sẽ không “để yên” cho cổ phiếu này, cho đến khi ông xác định chắc chắn biến động là do nhân tố khách quan của thị trường.
Ông thích sở hữu những cổ phiếu có sức hấp dẫn với người giao dịch, bởi vậy, ông luôn đi trước thị trường.
Kỳ 6 . Nhà đầu tư Barr Rosenberg định lượng thị trường
Từ mọi tình tiết nhỏ nhất cho đến những biến cố ngẫu nhiên của thị trường cổ phiếu đều không lọt qua đôi mắt nhạy bén của Phó giáo sư kinh tế Barr Rosenberg, người "luôn tìm kiếm cơ hội đầu tư trong quá trình nghiên cứu các quy luật cơ bản”.
Những sách lược đầu tư sắc sảo của Phó giáo sư kinh tế Barr Rosenberg đều được đúc kết từ máy vi tính, vì mỗi ngày máy vi tính phải xử lý hàng triệu thông tin và số liệu, từ đó chọn lọc ra những cổ phiếu nên mua vào, cổ phiếu nào phải bán ra.
Ông Rosenberg thành lập công ty đầu tư riêng đầu tiên mang tên Barr Rosenberg & Associates (BARRA) cùng với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, công ty bắt đầu bước chân vào kỷ nguyên mới của ngành đầu tư. Năm 1978, ông được tạp chí “Institutional Investor Magazine” vinh danh là bậc thầy của “lý thuyết tổ hợp đầu tư hiện đại”.
Có lẽ không có ai hơn Barr Rosenberg phù hợp với công việc phức tạp, gian nan này. Ông là một tín đồ Phật giáo tài hoa, đồng thời cũng là một nhà quản lý đầu tư tài ba xuất chúng. Những năm 70 thế kỷ 20, ông đã ứng dụng lý thuyết rủi ro từ tháp Ivory vào thực tiễn đầu tư.
Phân tích định lượng
Chiến lược ra quyết sách bằng vi tính của nhà đầu tư Barr Rosenberg hết sức uyên thâm, khiến những người không có tài năng thiên bẩm về toán học phải ngưỡng vọng. Có 3 nguyên tắc cơ bản phía sau những dòng code dài dằng dặc và những công thức toán học phức tạp của Phó giáo sư Barr Rosenberg.
Đó là nghiêm túc và nhanh chóng phân tích các công ty đã lên sàn, thị trường và tâm lý nhà đầu tư; không cần phải nắm bắt toàn bộ thông tin, chỉ cần nắm bắt những thông tin mà những nhà đầu tư khác chưa có và đầu tư phân tán.
Năm 1985, Barr Rosenberg bán cổ phần của mình ở công ty BARR và thành lập công ty RIEM.
Phương châm kinh doanh của công ty mới là mặc dù về đại thể, thị trường cho thấy tín hiệu là kinh doanh có hiệu quả, nhưng với phần mềm phù hợp được lắp đặt trong máy vi tính, người ta vẫn có thể phát hiện được giá cổ phiếu không đúng với giá trị thực (giá cổ phiếu được mua cao lên hoặc định giá thấp xuống), từ đó tìm ra cơ hội đầu tư.
Biện pháp đó có hiệu quả không?
Kể từ khi thành lập vào tháng 7 năm 1987 đến tháng 11 năm 1997, tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận trước thuế của Quỹ U.S. Small Cap Fund trực thuộc công ty RIEM là 17,5%, vượt xa chỉ số Russell 2000 Index được công bố là 16,8%. Một quỹ khác cũng thuộc RIEM là U.S.Core Equity, kể từ khi được thành lập vào tháng 6 năm 1985 đến tháng 11 năm 1997, có tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận năm được công bố là 17,9%. Thông qua sách lược “trung lập với thị trường”, RIEM đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng nể. RIEM cũng là công ty đầu tiên phát hiện những cổ phiếu không tương thích với xu thế chung của thị trường (hoặc bị làm giá cao hơn, hoặc bị định giá thấp hơn), từ đó thu về lợi nhuận. Trong khoảng 5 năm trước thời điểm tháng 11 năm 1997, tổ hợp đầu tư kiểu “trung lập” của RIEM đã giúp công ty có được tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận cao hơn các công ty cùng ngành khác gần 12% (trước thuế).
Phó giáo sư Barr Rosenberg chỉ ra rằng phương pháp phân tích định lượng giúp nâng cao hiệu suất thành công của các nhà đầu tư không chuyên. Ngày nay, các nhà đầu tư không chuyên không cần phải bỏ ra hàng triệu USD để sắm thêm máy vi tính hay những thiết bị kỹ thuật thông tin mà vẫn có thể vận dụng phương pháp phân tính định lượng để chơi cổ phiếu, chỉ cần họ chọn được loại cổ phiếu phù hợp.
Theo ông Rosenberg, cổ phiếu của những công ty nhỏ đem đến cơ hội kiếm lời lớn hơn, bởi vì các tổ chức đầu tư không quan tâm đến loại cổ phiếu này, họ chỉ để mắt đến cổ phiếu của những công ty lớn. Với những cổ phiếu của các công ty lớn, thì dù có bỏ ra hàng triệu USD cũng không đủ để đẩy giá cổ phiếu lên cao.
Mô hình đánh giá
Kể từ khi thành lập, RIEM chỉ sử dụng một loại mô hình đánh giá, cho đến nay, mô hình đó đã thay đổi qua nhiều phiên bản.
Mô hình này chia tất cả các công ty trên toàn nước Mỹ thành 166 nhóm “lĩnh vực kinh doanh tương tự”, từng nhóm lĩnh vực lại chia thành các khối khác nhau để tiện so sánh giữa các khối, và so sánh với giá trị bình quân của thị trường.
Tổng kết lại, để đánh giá được bảng lỗ lãi, bảng nợ, tình trạng tiêu thụ của một công ty, phải tiến hành kiểm tra tất cả 196 nhân tố. Sau đó, hệ thống còn phải đánh giá riêng rẽ 5000 công ty của Mỹ và 7000 công ty nước ngoài. Cuối cùng mới tổng hợp lại để tiến hành phân tích và đưa ra kết luận.
“Mục tiêu của chúng tôi là: tận dụng điểm chênh lệch giữa kết luận của RIEM với giá cả chung trên thị trường để đánh bại thị trường. Dựa trên tốc độ phản ứng của thị trường đối với tình huống chênh lệch giá tương tự trong quá khứ, chúng tôi có thể tính toán mức lợi nhuận dự kiến”. Các nhân viên phân tích định lượng của RIEM gọi phương pháp đánh giá này là “phương pháp đánh giá Alpha”. Trong giới đầu tư, ai cũng biết, ký hiệu “α” biểu thị lợi nhuận vượt mức bình quân của thị trường.
Quan sát thị trường
Nhà đầu tư Barr Rosenberg cho biết: “Chúng tôi quan sát toàn bộ thị trường từ điểm nóng của thị trường, biến động giá cả, hiệu suất chuyển nhượng cổ phiếu đến khối lượng giao dịch thành công…”
Trong danh sách theo dõi giám sát của RIEM có cả Quỹ Brandy Fund của Foster Friess, Quỹ Winsdor Fund do John Neff quản lý từ trước tháng 12 năm 1995. Barr chỉ ra rằng: “Đôi lúc, các nhà quản lý đầu tư chuyên nghiệp cũng có những biểu hiện của “tâm lý đám đông””.
Theo quan sát của Phó giáo sư Barr Rosenberg, cả nước Mỹ có 1200 nhà quản lý đầu tư chuyên nghiệp và luôn tồn tại một nhóm người có cùng phán đoán và cảm giác. Trong đó, nhóm các nhà đầu tư thuận xu thế được RIEM quan tâm hơn cả. Những nhà đầu tư này thích những cổ phiếu có mức tăng trưởng cao. Ông nói: “Một trong những thử thách của chúng tôi là phải tìm ra cổ phiếu có thể thu hút các nhà đầu tư thuận xu thế. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến quyết sách đầu tư của chúng tôi. Nếu có thể dự đoán được động thái tiếp theo của các nhà quản lý đầu tư thuận xu thế này, chúng tôi sẽ nắm chắc được thời cơ đầu tư. Cách làm của chúng tôi là, tìm ra một đại diện trong số họ để theo dõi quan sát, và chúng tôi chọn Quỹ Brandy của Foster Friess. Bạn sẽ thấy, một cổ phiếu mờ nhạt từ quý trước, sau khi được Brandy Fund mua vào, giá cả lập tức phi mã ở quý sau, hơn thế, trong một thời gian dài, biên độ tăng giá của nó còn vượt xa các cổ phiếu cùng loại khác.”
Kỳ 7.Gary Brison và giấc mơ toàn cầu hoá
Năm 1966, chàng thanh niên Brison - người mà sau nay trở thành “cha đẻ của chiến lược phân bổ tài sản toàn cầu” vừa mới bước chân vào ngưỡng cửa đại học, không hề có hứng thú với thị trường chứng khoán cũng như những gì liên quan đến lĩnh vực này.
Học đến năm thứ 3 đại học Chicago thì Brison thay đổi kế hoạch. Ngay bản thân Brison cũng không hiểu vì sao đột nhiên ông lại bị thị trường tài chính “mê hoặc”. “Vụ đầu tư” đầu tiên trong đời Brison là mua 10 cổ phiếu của công ty hàng không Eastern Air Lines, Inc.
Nó đã phản ánh tài năng thiên bẩm của Brison trong việc quan sát thấu suốt thị trường và phán đoán hướng phát triển của thương mại. Brison kiếm được một khoản tiền từ vụ đầu tư này, tuy không lớn, nhưng nó thôi thúc quyết tâm muốn “bắt mạch” thị trường tài chính và gây dựng sự nghiệp lẫy lừng của ông.
Giấc mơ toàn cầu hóa
Tham vọng của Brison có vẻ rất đơn giản: chia các thành viên trong tổ chức của ông thành những nhóm có sở trường chuyên môn khác nhau, quản lý những tài sản khác nhau, để từng người phát huy năng lực, khai thác tối đa lợi nhuận từ những chủng loại đầu tư khác nhau đó. Đây là phương pháp mà các chuyên gia vẫn thường gọi “phương pháp Alpha”.
Phương pháp phân bổ tài sản của Brison được hình thành không phải chỉ trong một sớm một chiều. Khi ấy công ty The Travelers Insurance Co. của Brison vẫn chưa có những liên hệ thực chất với thị trường bên ngoài nước Mỹ. Nhưng khi thị trường chứng khoán sụp đổ vào năm 1974, Brison đã phát hiện ra những điểm yếu kém của phương pháp đầu tư phân tán đang thịnh hành khi đó.
Ông đã được chứng kiến tận mắt tổ hợp đầu tư của một công ty quy mô vừa và nhỏ với khởi đầu rất tốt, nhưng chỉ sau 9-10 tháng, đã chịu tổn thất nặng nề và hầu như không thể gượng dậy nổi. Hiện thực khốc liệt đó cho thấy tính hạn chế của việc đầu tư phân tán trong cùng một loại hình tài sản.
Brison nói rằng, cuối những năm 70 thế kỷ 20, khi ý niệm về đầu tư trên thị trường phần lớn vẫn tập trung vào các tổ hợp đầu tư được hợp thành bởi những cổ phiếu và trái phiếu loại ưu, thì ông đã kịp xây dựng hệ thống các phương pháp phân bổ tài sản mà hiện đang được ứng dụng.
Brison luôn ấp ủ hoài bão thành lập một công ty đầu tư quy mô toàn cầu của riêng mình, và năm 1981, ông đã rời công ty bảo hiểm để thực hiện hoài bão đó. Ông thành lập công ty tư vấn đầu tư Chicago, là tiền thân của công ty Brison Partners, với sợ hỗ trợ rất lớn của ngân hàng First National Bank of Chicago.
“Một điều rất quan trọng là, bạn nên coi những tổ hợp đầu tư giống như sự phức hợp của các loại tài sản khác nhau. Những kinh nghiệm trong quá khứ cho thấy, mức độ phức hợp càng cao, lợi nhuận thu được càng lớn. Tất nhiên, chúng ta cũng không loại trừ trường hợp “vận son, số đỏ”, những người mà mua vé số cũng trúng giải độc đắc. Cũng có người đặt cược toàn bộ vốn liếng vào một cổ phiếu và đã thắng lớn. Nhưng nếu xét trên góc độ đầu tư tổng thể, bạn sẽ thấy, một tổ hợp đầu tư kiểu phân tán, một sự phức hợp của các tài sản đầu tư khác nhau mới là nhân tố cần thiết để thành công”.
Bốn nguyên tắc đơn giản
Các học giả thường sa vào tư duy lý thuyết mà xem nhẹ những mong muốn thiết thực của các nhà đầu tư. Mặt khác, nhiều nhà đầu tư lại coi thường kết quả nghiên cứu của các học giả, cho rằng họ chỉ là những kẻ giáo điều, lý thuyết suông trong tháp Ivory.
Tài năng đặc biệt của Brison trải rộng trên cả hai lĩnh vực lớn: học thuật và thực tiễn. Ông vừa nắm bắt được những tinh hoa của lý luận trừu tượng, vừa có thể áp dụng lý thuyết đó vào thực tiễn, từ đó xây dựng lên chiến lược phân bổ tài sản toàn cầu dựa trên 4 nguyên tắc cơ bản sau: 1. Tư duy toàn cầu. 2. Các loại tài sản được lựa chọn không lên xuống đồng thời. 3. Nhìn xa trông rộng. 4. Điều chỉnh phân bổ tài sản đúng lúc nhằm thích ứng với những biến đổi của xu thế đầu tư.
Tư duy toàn cầu
Thế giới trong mắt Brison khác với phép chiếu hình trụ nổi tiếng của Gerhardus Mercator trên tạp chí “National Geographic Magazine”.
Các nhà đầu tư nên tìm hiểu một chút tờ “bản đồ phân bổ tài sản toàn cầu” này: toàn bộ bản đồ được ghép bởi những tấm ghép hình chữ nhật nhỏ, mỗi tấm ghép đại diện cho trình độ phát triển kinh tế và quy mô thị trường của một khu vực khác nhau.
Với môi trường đầu tư toàn cầu phồn thịnh hiện nay, không gian và các lĩnh vực đầu tư không ngừng được mở rộng, bởi vậy, các nhà đầu tư hoàn toàn có thể dựa trên mức lợi nhuận đầu tư mong muốn và mức độ rủi ro có thể chấp nhận để lựa chọn tổ hợp đầu tư phù hợp.
Tuy nhiên, không phải nhà đầu tư nào cũng hứng thú đón nhận cái mới. Có người cho rằng, những khoản tiền xương máu bao năm vất vả mới có được, không thể nào quăng đến một nơi xa xôi như vậy để đầu tư được. Đầu tư vào một loại cổ phiếu kiểu truyền thống vẫn an toàn hơn. Nhưng, theo Brison, suy nghĩ bảo thủ này không những vô lý mà còn là một chiếc cùm trói chân những nhà đầu tư cứ cố né tránh rủi ro bằng được.
Lời khuyên của Brison là: đối diện với vô số lựa chọn đầu tư, bạn đừng nghĩ rằng, chỉ cần chọn ra từ mỗi lĩnh vực khác nhau vài cổ phiếu, rồi bổ sung thêm các trái phiếu cấp độ đầu tư làm “phao cứu sinh” thì bạn có thể yên tâm ngồi thu hoạch, phân bổ tài sản không phải như vậy.
Đối với Brison, chỉ có một logic giản đơn dẫn hướng cho chiến lược toàn cầu của ông. Ông sống ở Chicago – một thành phố quốc tế lớn, một vị trí thuận lợi để quan sát thị trường thế giới. “Nếu quan sát một thành phố giống như Chicago, bạn sẽ thấy, thành phố này cung cấp rất nhiều thứ “thuộc bản địa”, như: công ty bản địa, doanh nghiệp bản địa, cơ hội đầu tư tại bản địa. Nhưng chỉ cần đảo mắt một vòng, bạn lại sẽ phát hiện ra, người ta thông qua phương thức này để tham gia vào nền kinh tế toàn cầu.”
Nhìn xa trông rộng
“Ai rồi cũng có lúc gặp vận. Ai cũng mong mình sẽ “bắt được” cổ phiếu tốt, hoặc ngẫu nhiên, hoặc tình cờ mua được cổ phiếu tăng trưởng cấp bội số, kiếm được bội tiền. Nhưng ước muốn chỉ là ước muốn, không thể dùng nó dẫn đường cho việc đầu tư của bạn.”
Phương pháp phân bổ tài sản nhấn mạnh việc tiến hành khảo sát các đối tượng đầu tư bằng đôi mắt nhìn xa trông rộng trên cơ sở lịch sử lợi nhuận thu được từ những đối tượng đầu tư này. Sách lược đầu tư này nghe có vẻ không hấp dẫn, nhưng nó thực tế hơn việc bạn chỉ biết dựa vào “ước muốn”.
“Tôi tin rằng, nếu bạn kiên trì công việc này trong 15 năm, bạn sẽ thu hoạch được nhiều hơn việc chỉ dựa vào vận số và may mắn ngẫu nhiên rất nhiều lần. Quá trình phân bổ tài sản của chúng ta đều được hình thành trên cơ sở phân tích nghiêm túc các khối tài sản và các công ty lên sàn.”
Không nên gấp vội, vì đây là công việc lâu dài. Bạn sẽ mất không ít thời gian và sức lực để tích lũy thông tin và kiến thức liên quan, không có đường tắt để đi, cũng không có phép màu để biến hóa. “Tôi đã theo nghề này 25 năm. Mỗi lần muốn tìm ra đường đi tắt, tôi đều rơi vào cảnh ngộ: dục tốc bất đạt, thất bại thảm hại.”
Kiên trì chiến lược phân bổ tài sản là một việc làm đòi hỏi sự nỗ lực lớn lao. “Trong môi trường làm việc của chúng ta, tính chất công việc được quyết định bởi công ty hoặc lĩnh vực kinh doanh. Chúng ta phải dốc sức tìm hiểu mọi đặc trưng tiềm ẩn, để trên cơ sở đó từng bước kiến tạo, cho đến khi có thể nắm bắt bao quát được toàn bộ các loại hình đầu tư”.
Hy vọng và dự báo
Phân bổ tài sản một cách thành thục tức là có thể tách bạch rất rõ ràng “hy vọng” vào tương lai của nhà đầu tư với những “dự báo” được xây dựng trên cơ sở hiện thực. Brison nhắc nhở các nhà đầu tư: “Tất cả các nhà đầu tư cá nhân nên biết rằng, đằng sau mỗi danh mục đầu tư thành công, là một khối lượng khổng lồ các công việc phải làm với sự khác biệt cả về cường độ và mức độ”.
Quan trọng nhất là việc phân tích công ty và lĩnh vực mục tiêu, điều này đòi hỏi rất nhiều thời gian và trí tuệ, bất luận là đối với các nhà đầu tư cá nhân hay nhà quản lý các Quỹ đầu tư.
“Muốn hoàn thành tốt công việc này, các bạn phải đồng quan điểm và phải có quyết tâm giành thắng lợi”.
Kỳ 8. Peter Lewyn Bernstein, không có lãi thì đừng mạo hiểm
“Tôi đặc biệt yêu thích lịch sử, vì lịch sử có thể đối thoại với tôi”. Peter Lewyn Bernstein, nhà văn kiêm chuyên gia tư vấn đầu tư đã bộc bạch như vậy. Khi vừa bước chân vào Đại học Harvard, cuốn sách nổi tiếng “The General Theory of Employment , Interest and Money” của John Maynard Keynes đã tác động mạnh mẽ đến Bernstein, kể từ đó Bernstein dành sự quan tâm đặc biệt đến hệ thống tài chính và phương thức vận hành của nó.
Mọi người thường hứng thú với những cổ phiếu “cho cảm giác dễ chịu”, và thờ ơ với những cổ phiếu “khó chịu”. Khi bạn quyết định làm một việc tiềm ẩn sự rủi ro, chắc chắn có mục tiêu nào đó thu hút bạn, nhưng mức độ rủi ro cần tương đương với lợi nhuận dự kiến thì mới ổn.
Sau khi tốt nghiệp đại học, Bernstein lần lượt làm việc tại Ngân hàng dự trữ liên bang New York, OSS, Học viện Williams, Ngân hàng liên hợp New York (đầu tiên ông quản lý nhóm đầu tư trái phiếu, sau chuyển sang phụ trách quản lý ngoại hối). Bernstein còn có một thời gian làm việc tại công ty quản lý tài chính kiểu cũ của cha mình, rồi mới thành lập công ty quản lý đầu tư của riêng ông.
Bernstein viết rất nhiều sách và những bài báo nổi tiếng giới thiệu quá trình phát triển của chuyên ngành quản lý rủi ro, từ giai đoạn sơ khai cho đến những diễn biến mới nhất, phân tích lý thuyết tổ hợp đầu tư hiện đại và tài chính học hành vi.
“Mọi người nghĩ rằng, rủi ro chính là tỷ lệ tổn thất. Mọi người đều có nguy cơ phải đối mặt với rủi ro. Nhưng trong xã hội tư bản chủ nghĩa, rủi ro đồng nghĩa với cơ hội. Ai cũng biết, nếu không nỗ lực làm việc thì sẽ thiếu đói, không mạo hiểm thì khó thành tài – đó cũng là những “tín điều” mà mọi nhà quản lý đầu tư đều khắc cốt ghi tâm”.
Bạn có thể đánh bại thị trường không?
Cuối thập niên 60 đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, rất nhiều cố vấn đầu tư chuyên nghiệp tỏ ra coi thường các lý luận học thuật, nhưng Bernstein thì khác, ông thường xuyên liên lạc và xin ý kiến của những nhà tư tưởng lỗi lạc trong ngành tài chính, William F. Sharpe (thường gọi là Bill Sharpe) là một trong số đó.
Một ngày vào năm 1968, Sharpe đã giảng giải cho Bernstein một bài học hết sức sâu sắc. Sharpe hỏi Bernstein, liệu ông có thể chiến thắng thị trường? Bernstein đã trả lời hết sức thật thà: “Tôi chưa bao giờ nghĩ tới vấn đề đó. Tôi cho rằng chúng tôi đã từng chiến thắng thị trường trong khoảng 10 năm đầu gia nhập ngành này, vì thị trường khi đó không phức tạp như bây giờ. Chỉ cần nắm chắc các biện pháp có tính hệ thống là có thể chiến thắng phần lớn đám đông đầu tư ồ ạt theo cảm tính”.
Dù thị trường có phát triển ngày càng đa dạng và phức tạp đến đâu, các nhà đầu tư nhạy bén vẫn có thể chiến thắng được thị trường. “Chúng tôi mua vào những cổ phiếu giàu tiềm năng khi thị trường đang lên. Chúng tôi mua rất nhiều cổ phiếu của Tampax, của Gillette”.
Cổ phiếu của hai công ty này được đánh giá là đối tượng đầu tư rất có giá trị trong suốt 30 năm. Sau đó, Tampax bị thôn tính, và cho đến tận thời điểm năm 1997, cổ phiếu của Gillette vẫn được rất nhiều người theo đuổi.
Vì sao ngày nay chúng ta rất khó có thể chiến thắng thị trường? Theo Bernstein, nguyên nhân chính là vì, những năm 50 và đầu những năm 60 thế kỷ 20, các tổ chức đầu tư chỉ sở hữu một lượng nhỏ các cổ phiếu tiềm năng. Nhưng hiện nay, các tổ chức đầu tư luôn sở hữu phần lớn cổ phiếu của bất cứ công ty đã lên sàn nào. Nhiều tổ chức không cho phép Quỹ hưu trí trực thuộc sở hữu bất cứ cổ phiếu nào dưới danh nghĩa người hưởng lợi. Đây là quy tắc “bất di bất dịch” do các tổ chức đầu tư “bảo thủ” đặt ra kể từ sau năm 1929 khi thị trường đổ vỡ, và cho đến cuối thập niên 70 thế kỷ 20 nó vẫn không hề bị lung lay.
Một đợt thị trường theo chiều giá xuống kéo dài vài năm đã khiến nhà đầu tư bắt đầu quan tâm đến lý thuyết rủi ro. Theo S&P 500 Index thì biên độ trượt giá của thị trường cổ phiếu trong năm 1974 lên đến 40%. “Các nhà đầu tư cần có những cách thức mới để khống chế rủi ro”. Với suy nghĩ như vậy, Bernstein đã hợp tác với tạp chí “Institutional Investor” sáng lập ra tuần san “Journal of Portfolio Management” và trở thành tổng biên tập đầu tiên của tờ báo này.
Nhà đầu tư trong tiềm thức
Về mặt tâm lý học, tiền bạc có hàm nghĩa rất đặc biệt. Vì tiền bạc có mối liên hệ mật thiết với lòng tự trọng, nên ai cũng muốn kiếm được thật nhiều tiền. Thành công về mặt tiền bạc sẽ đưa bạn lên vị trí của người đi ban phát, điều này phản ánh ưu thế tâm lý của người cầm trịch một trò chơi.
Bernstein cho rằng, lý thuyết về “tâm lý không thích sự mất mát” (loss aversion), lý thuyết về “tài khoản tinh thần” (mental accounting) và những lý thuyết tài chính học khác hình thành trong suốt hơn 20 năm qua đều giúp ngành đầu tư giá trị giành được sự tín nhiệm của các nhà đầu tư.
“Các khái niệm nêu trên được ứng dụng trực tiếp trong lĩnh vực đầu tư giá trị. Khi tìm hiểu hướng đi của thị trường, nhà đầu tư thường chỉ có một suy nghĩ đơn thuần là làm sao để có được những cổ phiếu “cho cảm giác dễ chịu”, và rất thờ ơ đối với những “cổ phiếu tạo cảm giác khó chịu”, và thế là họ thường mắc sai lầm lớn khi định giá giá trị. Nếu bạn hiểu những điều này, bạn sẽ trở thành nhà đầu tư giá trị thành công”.
Quan điểm về rủi ro trong sách lược đầu tư từ cuối thế kỷ 20 đến thế kỷ 21, theo Bernstein rất đơn giản: Nếu không có lãi thì không nên mạo hiểm. Nhiều nhà đầu tư nghĩ rằng, đưa cho họ một lời cảnh báo không bằng cho họ biết cổ phiếu nào sẽ tăng phi mã. Nhưng, những nhà đầu tư xem thường lời cảnh báo đều phải trả một cái giá rất đắt.
“Khi bạn quyết định làm một việc hàm chứa rủi ro, chắc hẳn phải có mục tiêu nào đó thu hút bạn, tuy nhiên mức độ rủi ro cần tương đương với lợi nhuận dự kiến thì mới ổn. Nếu bạn đến ngân hàng gửi tiền, đừng mong nhận được mức lãi suất 15% hàng năm trong suốt 30 năm sau đó. Nhưng nếu bạn đầu tư vào cổ phiếu của một công ty công nghệ cao quy mô nhỏ, thì tức là bạn đã làm một việc mạo hiểm. Công ty này rất có thể sẽ phá sản vào ngày mai, thêm nữa, bạn lại chẳng hiểu mấy về lĩnh vực khoa học công nghệ. Tóm lại, với kiểu đầu tư này, bạn chỉ nên sử dụng một phần vốn nhỏ, bởi vì bạn không nắm chắc phần thắng, một khi giá cổ phiếu trượt dốc, bạn sẽ trở tay không kịp”.
Cuộc thi sắc đẹp và quý ngài “thị trường”
Chúng ta có thể hình dung thị trường giống như một cái cân, dựa vào nó bạn có thể đong đếm lòng tin của nhà đầu tư. “Thị trường cổ phiếu không phải thứ gì đó trừu tượng, nó được hợp thành từ rất nhiều nhà đầu tư với những quyết sách của họ. Mỗi khi đưa ra quyết sách, giống như một lần bạn đặt cược, đối thủ của bạn là tất cả những nhà đầu tư khác”.
Dù là vô tình hay chủ động, tất cả các nhà đầu tư đều đã tham gia vào một cuộc thi, John Maynard Keynes từng ví nó như là cuộc thi sắc đẹp thịnh hành tại London vào thập niên 30 thế kỷ 20.
Bernstein giải thích rằng: “Tính chất phức tạp của cuộc thi này ở chỗ, đối thủ của nhà đầu tư này luôn luôn là những nhà đầu tư khác. Cũng giống như sự lựa chọn nêu trên. Có thể bạn đúng, vì cô gái bạn chọn quả thực rất đẹp, nhưng cũng có khả năng, năm nay, tất cả mọi người đều thích những cô gái tóc đỏ, hoặc vì một lý do nào đó, mọi người không đồng tình với lựa chọn của bạn”.
Nhà đầu tư thiên tài, Benjamin Graham đã dùng một hình ảnh để miêu tả sự biến đổi khôn lường của thị trường như sau: thị trường cổ phiếu giống như đang chung sống với một người mà người đó cứ liên tục thay đổi ý kiến của mình, và không bao giờ báo trước một tiếng.
Nếu bạn cẩn trọng và là một nhà kinh doanh sáng suốt, những phán đoán của bạn về giá trị những cổ phiếu bạn đang sở hữu liệu có bị ảnh hưởng bởi những “tin tức được thông báo hàng ngày” của “quý ngài thị trường”? Chắc chắn là không. Chỉ khi bạn thấy “ông ta” có lý, hoặc cảm thấy đây là một cơ hội thì bạn mới đón nhận gợi ý của “ông ta”, đúng không? Khi thị trường thông báo cho bạn một mức giá cao không ngờ, bạn sẽ mừng rỡ bán cổ phần cho “quý ông đó”. Khi thị trường báo giá quá thấp, bạn cũng sẽ vui vẻ mua vào cổ phần của “quý ông đó”. Còn những lúc khác, bạn hãy cứ kiên định phán đoán của mình, và trên cơ sở nắm bắt đầy đủ và toàn diện tình hình kinh doanh, tình trạng tài chính của công ty, để đưa ra lựa chọn chính xác.
“Khi bạn quyết định chấp nhận sự rủi ro nào đó, bạn cần xem xét “khả năng đổi hướng” của nó. Đây cũng chính là lý do vì sao thị trường cổ phiếu lại có vị trí quan trọng như vậy, vì nó có khả năng đổi hướng. Các quốc gia vừa mới chuyển sang thể chế kinh tế thị trường, thì việc làm đầu tiên là xây dựng thị trường cổ phiếu, cũng chính vì nguyên nhân này. Nếu khi mới bắt đầu, đã xây dựng nhà máy, đầu tư vào khoa học kỹ thuật công nghệ cao, vào việc khoan giếng dầu, những quyết sách này rất khó đổi hướng, chỉ cần mắc sai lầm sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng”.
“Thị trường cổ phiếu tạo ra cho bạn cơ hội thay đổi quyết định sau khi hoàn thành một hạng mục đầu tư. Bởi vậy, mọi người mới đầu tư vào những danh mục mà khả năng đổi hướng cao. Tôi mua cổ phiếu của một công ty về công nghệ. Bản thân công ty không thể thay đổi quyết sách của mình, nhưng tôi thì có, chỉ cần tôi muốn, tôi có thể bán cổ phần của mình đi”. Vì thế, các nhà đầu tư không bao giờ trói mình vào một cái cây, khi một cổ phiếu nào đó quá nhiều rủi ro, không thể tiếp tục duy trì, họ sẽ bán tháo để tìm đến với những cổ phiếu tốt hơn.
Kỳ 9. Laszlo Birinyi, hãy để thị trường giúp chúng ta nhận định xu thế
Laszlo Birinyi là chủ tịch hội đồng quản trị công ty Birinyi Associates Inc. Năm 1994, Birinyi đã có tên trong W$W Hall Of Fame (Tòa nhà kỷ niệm những tên tuổi nổi tiếng của phố Wall). Năm 2004, Birinyi được trang mạng Smart Money bầu chọn là 1 trong số 30 chuyên gia phân tích thị trường có tầm ảnh hưởng hàng đầu thế giới.
Ông nói: “Tôi sẽ hỏi bản thân, thị trường sắp xảy ra điều gì, xu hướng và biến động của thị trường sẽ ra sao. Và tôi sẽ để thị trường trả lời những câu hỏi ấy. Tôi lưu ý đến những cổ phiếu được gửi đến bởi các chuyên gia phân tích dựa vào bảng biểu, đồng thời cũng quan tâm đến những cổ phiếu được đề nghị bởi các chuyên gia phân tích chuyên tâm tìm hiểu kỹ lưỡng các vấn đề của công ty cũng như bảng nợ của công ty.”
Dưới đây là cuộc đối thoại của Birinyi và Andrew W. Lo trong cuốn sách nổi tiếng “The Heretics Of Finance” (Đối thoại với các chuyên gia phân tích kỹ thuật hàng đầu) xuất bản năm 2009.
Andrew W. Lo (L): Có người nào hoặc điều gì đặc biệt đã gợi mở và dẫn dắt ông trong lĩnh vực phân tích kỹ thuật này?
Birinyi (B): Không ai cả và cũng không có điều gì. Và dù có đi nữa cũng không thể coi đó là sự gợi mở, dẫn dắt. Chỉ đơn giản là tôi thu thập tài liệu và lưu giữ chúng, rồi tiến hành so sánh, nghiên cứu và bóc tách. Tìm hiểu càng nhiều, điều tra càng nhiều, học hỏi càng nhiều, tôi càng cảm thấy thất vọng. Thật không ngờ công việc này lại hỗn tạp và nhạt nhẽo đến vậy.
Cảm hứng đối với công việc phân tích kỹ thuật của tôi xuất phát từ nỗi chán ghét của tôi. Ý tôi là phương pháp mà tôi phát hiện ra chẳng có tác dụng gì cả.
Có người từng viết một bài báo về lượng tuyết rơi ở Boston vào dịp Noel. Người này đã so sánh lượng tuyết rơi với sự vận hành của thị trường cổ phiếu một tuần sau đó. Rồi mọi người đột nhiên liên hệ thị trường cổ phiếu với mọi thứ diễn ra quanh mình. Khi thị trường theo chiều giá xuống (bear – market), người ta dõi mắt theo những dấu hiệu tiếp tục xuống giá của thị trường, và người ta cho rằng một chỉ tiêu nào đó cũng có thể phản ánh đặc trưng của thị trường giá xuống. Nhưng khi chỉ tiêu này thay đổi ngược lại, thì không ai vì thế mà từ bỏ lập trường đối với bear– market.
Điều đáng thất vọng thứ 2 là, khả năng ứng biến linh hoạt của các chuyên gia phân tích kỹ thuật. Dù thị trường có biến động thế nào, tôi vẫn đọc được tin tức về chứng khoán như sau: “Đúng như chúng tôi dự đoán, thị trường đã thế này thế kia…”. Nếu tôi chịu khó mở lại những dòng tin đã đăng trước đó, tôi có thể nói rằng: “Tôi chẳng thấy nội dung các anh đưa tin trong kỳ trước, trước nữa hay trước của trước nữa như các anh nói”.
L: Ông có thể giới thiệu một chút về phong cách phân tích kỹ thuật của ông?
B: Đầu tiên phải khẳng định rằng chúng tôi không kinh doanh. Tôi thấy phản cảm với công việc phân tích kỹ thuật không phải vì mọi người coi nghề này là một kỹ năng, mà vì các chuyên gia phân tích kỹ thuật họ không biết mình đang làm gì. Về căn bản, công việc mà họ làm chính là kinh doanh: Xuất hiện trên CNBC, phát biểu tung hô trên báo chí, diễn thuyết thuyết trình tại các hội nghị. Đây là căn bệnh của không ít các chuyên gia phân tích.
Họ cũng thường xuyên mắc sai lầm khi dự đoán. Đối với thị trường cổ phiếu, việc mà bạn có thể làm chỉ là chỉ ra một xu thế tất yếu nào đó của thị trường, giúp nhà đầu tư nhìn ra phương hướng căn bản. Có thể phát hiện ra xu thế của thị trường là điều không hề dễ dàng, và như thế đã là đủ rồi.
Phương pháp của tôi là tiến hành “mổ xẻ” thị trường để nghiên cứu. Tôi sẽ hỏi bản thân, thị trường sắp xảy ra điều gì, xu hướng và biến động của thị trường sẽ ra sao. Sau đó, tôi sẽ để thị trường trả lời những câu hỏi ấy. Đây là điểm khác biệt: để thị trường giúp tôi nhận định xu thế, từ những hỗn tạp xô bồ, tìm ra phương hướng có tình bền vững và có thể tạo ra cơ hội. Trên thực tế, trong số những thứ được gọi là “xu thế” mà có thể khiến người ta lóa mắt ấy, có đến 70%, 80% chỉ là những tạp âm ồn ào vô nghĩa.
L: Vậy ông “mổ xẻ” thị trường như thế nào?
B: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu các số liệu thu thập được trong lịch sử, và phải mất rất nhiều thời gian cho công việc này. Peter Drucker từng nói rằng, thất bại của các doanh nghiệp Mỹ là do họ không chịu tìm hiểu lịch sử. Điều này cũng rất phù hợp với thị trường cổ phiếu.
Khoảng giữa những năm 70 thế kỷ 20, chúng tôi bắt đầu thu thập những bài báo tóm lược các thông tin và sự kiện quan trọng, chúng tôi có được những trang báo từ tận năm 1962 . Điều đó giúp chúng tôi có được lượng kiến thức phong phú về không khí của thị trường, về những chủ đề bàn luận của mọi người và những quan điểm đánh giá chủ yếu của giới truyền thông. Thông qua việc tìm hiểu lịch sử, chúng tôi biết mình phải tìm kiếm điều gì và không nên tìm kiếm điều gì.
Đặc điểm lớn nhất của chúng tôi là công tác phân tích dòng chảy của đồng vốn. Mà cốt lõi của việc nghiên cứu dòng vốn là phải đọc và tìm hiểu diễn biến thị trường. Thị trường cổ phiếu tồn tại cơ chế khấu hao (discounting mechanism), hay nói cách khác là cơ chế phản ứng đón đầu, quan điểm này đã gây ra rất nhiều tranh cãi. Chúng tôi phát hiện thấy, khoảng 90% giá cổ phiếu tăng là do nhà đầu tư ồ ạt mua vào, và giảm là do nhà đầu tư ồ ạt bán ra. Nhưng trong số những cổ phiếu xuất hiện biến động lớn, có khoảng 10% là những cổ phiếu mà bạn đã nắm bắt được hướng biến động của nó trước khi thông tin bị rò rỉ bởi cánh truyền thông. Đây chính là điểm khác biệt của chúng tôi.
L: Đối với ông, bài học nào là sâu sắc nhất?
B: Có một sai lầm mà đến nay tôi vẫn khắc cốt ghi tâm. Năm 1979, tôi đề xuất ý tưởng đưa phân tích tình hình thị trường (ticker tape analysis) vào nội dung công việc của chúng tôi. Trong phiên bản đầu tiên, chúng tôi chỉ thấy những cổ phiếu giao dịch với số lượng lớn. Thông qua những giao dịch với số lượng lớn, chúng tôi quan sát xem cổ phiếu đó có phải đang “nhảy lên” (uptick: chỉ giá cổ phiếu trong giao dịch gần nhất cao hơn giá cổ phiếu trong giao dịch trước đó) hay đang “nhảy xuống” (downtick: chỉ giá cổ phiếu trong giao dịch gần nhất thấp hơn giá cổ phiếu trong giao dịch trước đó). Và thực tế đã chứng minh, chỉ tiêu này rất đáng để tham khảo. Về sau, chúng tôi nghĩ rằng, vì sao không mở rộng áp dụng khái niệm này cho mọi giao dịch (không nhất thiết phải là giao dịch lớn). Vậy là, chúng tôi lại đưa ra khái niệm “dòng vốn” (money flow).
Nhưng đến năm 1982, khả năng dự báo của chỉ tiêu này không còn được như trước nữa. Bắt đầu từ thập niên 80, hình thức giao dịch tại các sàn chứng khoán đã thay đổi. Việc định giá giao dịch rất tùy tiện, giá cả của mỗi giao dịch đều do các nhà đầu tư quyết định riêng rẽ. 100 cổ phiếu Ford tăng giá 10 cent, có thể coi là một mức giá mới. Dù vẫn còn hàng triệu cổ phiếu được lưu thông bên ngoài, nhưng nó vẫn là mức giá mới được hiển thị trên bảng điện tử của sàn giao dịch.
Khái niệm dòng vốn của chúng tôi đã không còn phát huy hiệu quả như trước nữa. Chúng tôi biết rằng phải phân tách khu vực thị trường bán lẻ và bán buôn. Và thế là chúng tôi bắt đầu tính toán các chỉ tiêu dòng vốn cho thị trường giao dịch khối lượng lớn và thị trường giao dịch khối lượng nhỏ.
L: Ông có học tập được phương pháp của người khác trong các giao dịch không?
B: Rất ít. Bởi vì phần lớn những chuyên gia phân tích kỹ thuật đều không đầu tư. Chúng tôi hiểu rõ điều đó khi làm việc tại Salomon Brothers. Mọi người đều nhất trí cho rằng các chuyên gia phân tích đã làm việc hết sức xuất sắc, họ giúp công ty kiếm được rất nhiều tiền, và họ rất hiếm khi mắc sai lầm. Công ty đề nghị họ bỏ ra một chút vốn để đầu tư dựa trên kết quả phân tích. Sau khi bỏ ra vài trăm USD, các chuyên gia này đã lỗ nặng. Điều này cho thấy, không phải kết quả thực nghiệm nào cũng có thể chuyển hóa thành những thành công trong thế giới hiện thực.
L: Thị trường như thế nào sẽ gây ra tổn thất nặng nề nhất?
B: Có lẽ là thị trường theo chiều giá xuống (bear-market), bởi vì khi ấy chúng ta rất dễ hoang mang. Với bear-market, dù bạn có làm đúng, khách hàng cũng không vui lòng. Như bao người khác, khách hàng rất muốn kiếm được nhiều tiền. Khi thị trường theo chiều giá xuống, nếu quá thận trọng, lượng tiền mặt còn lại quá lớn, khách hàng sẽ nói với bạn: “chúng tôi bỏ tiền ra không phải để anh làm thế này”. Vào giai đoạn gần cuối của thị trường bear-market, khi mọi người thúc giục bạn giúp họ tháo thân, bạn đành miễn cưỡng tìm kiếm các loại chỉ tiêu, nghĩ đủ mọi cách để kiếm tiền. Trong khi, nếu bình tĩnh, bạn sẽ thấy, đôi lúc, giữ tiền mặt trong tay không hẳn là lựa chọn sai lầm.
L: Ứng dụng phân tích kỹ thuật riêng rẽ thì hiệu quả hơn hay kết hợp với phân tích cơ bản thì hiệu quả hơn?
B: Theo tôi, sử dụng đơn lẻ một phương pháp cũng giống như chúng ta ra đòn bằng một tay, chẳng có tác dụng gì cả. Bằng cả hai tay, chúng ta mới tạo ra được âm thanh. Tôi lưu ý đến những cổ phiếu được gửi đến bởi các chuyên gia phân tích dựa vào bảng biểu, đồng thời cũng quan tâm đến những cổ phiếu được đề nghị bởi các chuyên gia phân tích chuyên tâm tìm hiểu kỹ lưỡng các vấn đề của công ty cũng như bảng nợ của công ty. Sau đó, trên cơ sở những ý kiến của họ, tôi tự nghiên cứu và đưa kết luận cuối cùng của bản thân.
Kỳ 10. Ian McAvity, không thể dự đoán chính xác xu hướng thị trường
Ian McAvity là một trong số những người tham gia sáng lập Quỹ trung ương và Quỹ tín thác đầu tư vàng Canada. Ông còn là người phát hành và biên tập những bức thư tin tức “Deliberations on World Markets”. Ông rất giỏi phân tích kỹ thuật (technical analysis: Nghiên cứu số cung và cầu chứng khoán và hàng hóa dựa trên các nghiên cứu về số lượng và giá cả.
Nhà phân tích dùng các biểu đồ hay chương trình vi tính để nhận dạng và đánh giá xu hướng thị trường tương lai. Hầu hết các phân tích được thực hiện là những phân tích ngắn và trung hạn, nhưng một vài nhà phân tích cũng tiên đoán các chu kỳ dài hạn dựa trên biểu đồ và các dữ kiện khác. Không giống nhà phân tích cơ bản, nhà phân tích kỹ thuật không quan tâm đến vị thế tài chính của công ty). Ian McAvity cho rằng: “Thị trường luôn luôn đúng. Thị trường khiến chúng ta mắc sai lầm, tìm ra giới hạn đau khổ của chúng ta. Mỗi lần chúng ta thay đổi ý định, đều không thoát khỏi cặp mắt của thị trường. Chúng ta cần rất nhiều năm tôi luyện mới vơi bớt sự bướng bỉnh và cố chấp”.
Chúng ta hãy theo dõi cuộc đối thoại của Ian McAvity và Andrew W. Lo trong cuốn sách nổi tiếng “The Heretics Of Finance” (Đối thoại với các chuyên gia phân tích kỹ thuật hàng đầu) xuất bản năm 2009.
Andrew W. Lo (L): Phải chăng những thứ mà ông học được đều bắt đầu từ khi ông áp dụng kết quả phân tích kỹ thuật vào thực tiễn chứ không phải những lý thuyết có trong sách vở?
Ian McAvity (M): Bản chất của nghiên cứu xu hướng là bạn phải không ngừng học hỏi, có như thế bạn mới nắm bắt được nó. Tôi nghiên cứu về xu hướng đã 38 năm, và vẫn không ngừng tìm tòi, học hỏi. Tổng kết thì thấy, mỗi xu hướng có những biểu hiện hoàn toàn khác nhau nhưng đều bao gồm 4 giai đoạn: chạm đáy, tăng mạnh, chạm đỉnh và trượt dốc. Tôi quan tâm đến tất cả các thông tin về phiên giao dịch đầu tiên, giá trần, giá sàn và phiên giao dịch cuối cùng. Nếu có ai đó muốn thảo luận với tôi một vấn đề mà bao gồm các công thức với những chữ cái Hy Lạp, tôi sẽ lập tức bịt tai lại. Về mặt này thì tôi quả là một kẻ phản học thuật.
L: Ông đã có được bài học đắt giá nào?
M: Tôi luôn đặt ra một tiền đề, rồi quan sát những dự đoán của mình về thị trường trong một thời gian dài, để sau đó chứng kiến những bằng chứng ủng hộ tôi dần dần biến mất, điều này dường như đã trở thành một quy luật bất di bất dịch. Thị trường khiến tôi mắc sai lầm, tìm ra giới hạn đau khổ của tôi. Mỗi lần tôi thay đổi ý định, đều không thoát khỏi cặp mắt của thị trường. Phải mất rất nhiều năm tôi luyện mới vơi bớt sự bướng bỉnh và cố chấp đó.
L: Giả sử những trạng thái giá cả, chỉ tiêu, sách lược mà ông sử dụng đều đã quá quen thuộc với thị trường, vậy thì làm thế nào, vẫn những cách thức cũ, vẫn những công cụ không hề mới ông lại có thể gặt hái được thành tựu to lớn như vậy?
M: Đối tượng quan tâm chính của tôi là dự đoán và phân biệt sự biến đổi của các trạng thái xu hướng. Tôi chưa bao giờ gọi điện cho khách hàng, gợi ý để họ mua vào hoặc bán ra. Tôi lưu ý đến những thay đổi có tính tương quan. Ví dụ, tôi sẽ chú ý đến những cổ phiếu mà trong phiên giao dịch với số lượng nhỏ thì biểu hiện rất tốt, nhưng nếu là giao dịch với số lượng lớn thì lại rất yếu ớt. Tuy USD đang mất giá so với Euro, nhưng vẫn rất mạnh so với đồng yên Nhật, v.v….
Tôi còn quan tâm đến : 1. Biểu đồ. 2. Chỉ số trung bình động (MA). 3. Tỉ lệ VSMA (đối lập với chỉ số MA), biểu thị tỷ lệ phần trăm của giá cả trên giá trung bình động . Tỷ lệ VSMA giúp nhận biết mức độ dịch chuyển của giá cổ phiếu so với chỉ số MA.
L: Ông làm thế nào để cân bằng giữa việc nhận biết những tín hiệu có tính dự báo với việc nâng cao độ mẫn cảm với những tiếng ồn ngẫu nhiên?
M: Thị trường luôn thích thú với việc tạo ra rất nhiều tiếng ồn, tạp âm, bởi vì thị trường không bao giờ muốn lặng sóng, để khiến người ca có cảm giác nó cởi mở và dễ gần. Nhưng bạn hầu như không thể xác định đâu là tiếng ồn ngẫu nhiên, và đâu không phải. Tôi là một nghệ sỹ, tôi chỉ có thể nói, mọi âm thanh đều có điểm khác biệt của nó. Bạn gán cho nó quá nhiều định nghĩa là không đúng với thực tế, là một sai lầm.
L: Sự tự tin vào khả năng dự đoán những biến động giá cả trong tương lai của công việc phân tích kỹ thuật phải chăng đã giúp ông giải tỏa áp lực?
M: Dự đoán biến động của giá cổ phiếu trong tương lai? Tôi cho rằng chúng ta không thể nào dự đoán chính xác xu hướng thị trường. Có một câu nói rất xưa thế này: Đừng bao giờ đặt giá cả và thời gian cạnh nhau. Ý nghĩa của câu nói đó là, đừng bao giờ nói một ai: đây là mệnh giá cổ phiếu lúc 3 giờ chiều thứ 4 tuần sau. Tôi hoàn toàn không tin vào độ chính xác của những dự đoán kiểu này. Tôi chỉ có thể căn cứ vào những đặc trưng lũy kế để nhận biết một xu hướng có thể tiếp tục kéo dài mà thôi.
Tổng hợp : tamnhin.net
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)